Thứ Ba, 22 tháng 9, 2009

BỐI CẢNH ĐÔNG NAM Á VÀ ĐÔNG NAM Á THỜI TIỀN SỬ (3)

I.4. Đặc điểm lịch sử - văn hoá Đông Nam Á thời tiền sử
I.4.1. Vị trí của Đông Nam Á trong lịch sử hình thành con người, một số phát hiện cổ nhân, cổ sinh quan trọng
Những nghiên cứu cổ địa chất, cổ sinh học cho thấy trong suốt thế Cánh tân, điều kiện tự nhiên ở Đông Nam Á không thay đổi nhiều so với hiện nay. Môi trường tự nhiên này rất thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển con người đầu tiên và hình thành những đặc điểm văn hoá riêng biệt.
Những phát hiện cổ nhân đầu tiên trong khu vực là những phát hiện về dấu vết vượn người Miocene ở Lộc Phong, Vân Nam, Trung Quốc. Đây là những dấu tích sọ và mặt của Ramapithecus, được đặt tên là Lufengpithecus (vượn Lộc Phong). Tuy rằng hiện nay Ramapithecus không được coi là nằm trong dòng tiến hoá trực tiếp lên người, nhưng những phát hiện này cũng đã giúp cho các nhà nghiên cứu có được nhận thức rõ ràng hơn con đường và cách thức tiến hoá nhân loại.
Tại khu vực Đông Nam Á cũng đã phát hiện nhiều vết tích của vượn Homo Erectus, những vết tích này tập trung chủ yếu ở Indonesia mà niên đại tuyệt đối lên tới 1,81 +/- 0,04 triệu năm (niên đại K40 của sọ Modjokerto). Niên đại này còn sớm hơn niên đại Homo Erectus ở châu Phi và làm nảy sinh vấn đề về nguồn gốc của Homo Erectus châu Á
7. Những phát hiện mảnh tước đá và bola ở Sambungmachan, Ngebung (Indonesia) cũng bước đầu khẳng định người Homo Erectus Đông Nam Á đã biết chế tạo và sử dụng công cụ bằng đá.
I.4.2. Thời đại đá cũ Đông Nam Á - Phát hiện và tranh luận
Dựa vào những nghiên cứu cổ sinh học, có thể thấy rằng khí hậu giai đoạn này biến đổi từ nóng hơi khô sang nóng ẩm với quần động vật là những loài động vật có vú phong phú, tiêu biểu cho quần động vật khu vực nam Trung Hoa và bắc Việt Nam, một số loài nay đã bị tuyệt diệt như vượn khổng lồ, đười ươi, voi răng kiếm, voi cổ, lợn vòi, gấu tre...
Phức hệ thực vật đều được đặc trưng bởi những giống loài của thực vật cận nhiệt đới đa dạng với nhiều loại tre nứa, có thể sử dụng làm công cụ lao động, dụng cụ sinh hoạt, dụng cụ săn bắt hoặc tạo lửa. Nhiều loại thảo mộc có thể cung cấp chất bột, đường và đạm nuôi sống con người và dược liệu chữa bệnh cho con người.
Những phát hiện về sơ kỳ đá cũ ở Đông Nam Á: Trong nhiều công trình khoa học về thời đại đá cũ trên thế giới nói chung và Đông Nam Á nói riêng, người ta thường nhắc đến luận điểm của học giả Mỹ H. Movius đưa ra vào những năm 40 của thế kỷ XX về hai nền văn hoá sơ kỳ đá cũ phân bố ở hai khu vực:
1. Nền văn hoá rìu tay phân bố ở phương Tây (gồm châu Phi, châu Âu, Tây Nam Á và vùng Nam Ấn Độ).
2. Nền văn hoá Eroppo - Tropping phổ biến ở phương Đông gồm Trung Quốc, tây bắc Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Luận điểm này của ông đã có ảnh hưởng lớn trong giới khảo cổ học tiền sử và đôi khi được sử dụng để minh chứng cho sự phát triển chậm chạp và tính lạc hậu, trì trệ về văn hoá, kỹ thuật của phương Đông và đặc biệt là của khu vực Đông Nam Á. Tuy vậy, đã có không ít sự nghi ngờ và phê phán luận điểm này từ phía các nhà nghiên cứu. Quan điểm phổ biến hiện nay giải thích sự bảo lưu vững chắc của các kỹ thuật truyền thống ở Đông Nam Á bằng điều kiện sinh thái, tính đặc thù trong phương thức thích nghi với môi trường tự nhiên. Nghiên cứu quần động vật và thực vật, người ta thấy những biến động về khí hậu và môi trường tự nhiên trong suốt thế Cánh tân ở Đông Nam Á không quá lớn và đột ngột để buộc con người phải thay đổi hẳn phương thức sinh hoạt. Đứng trước đối tượng săn bắt và hái lượm khá ổn định, con người không có yêu cầu thay đổi những kỹ thuật cũ, do đó tập hợp công cụ lao động không có những biến đổi lớn
8.
Ở Đông Nam Á, đã có nhiều phát hiện khảo cổ mà trước đây thường được xác định thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ như văn hoá Anyathian (Myanmar), văn hoá Tampanian (Malaysia), văn hoá Patjitan (Indonesia), Núi Đọ (Việt Nam)... Tuy nhiên, do những công cụ được xác định niên đại sơ kỳ đá cũ này không nằm trong địa tầng nguyên vẹn và trong tổ hợp di vật để giúp định niên đại một cách chắc chắn nên hầu như đều bị xem xét lại. Theo GS. Hà Văn Tấn, hiện nay chỉ có hai địa điểm ở Thái Lan là Ban Mae Tha và Ban Don Mun có các công cụ cuội nằm dưới lớp basalte. Các lớp basalte này có niên đại khoảng 730.000 năm cách ngày nay, như vậy công cụ đá ở hai địa điểm này thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ sớm nhất hiện nay được biết đến ở Đông Nam Á. Như vậy dấu vết sinh sống của con người thời sơ kỳ đá cũ ở Đông Nam Á chưa rõ ràng và chắc chắn.
- Hậu kỳ đá cũ Đông Nam Á: Hiện nay, thời kỳ này được biết nhiều hơn và nghiên cứu kỹ hơn, dù rằng ở Đông Nam Á mọi ranh giới trong thời đại đá cũ không được rõ nét lắm. Trước đây người ta cho rằng trong giai đoạn này có hai truyền thống chế tác công cụ đá khác nhau: Truyền thống công cụ cuội ở lục địa Đông Nam Á và truyền thống công cụ mảnh ở Hải đảo Đông Nam Á. Trong các nền kỹ nghệ có niên đại hậu kỳ đá cũ ở Đông Nam Á hải đảo, nổi bật là những kỹ nghệ Niah (đảo Kalimantan), kỹ nghệ Tabon (Đảo Palawan), kỹ nghệ Leang Burung II (đảo Célèbes)... đây là những kỹ nghệ thiên về kỹ thuật chế tác công cụ mảnh tước. Ở Đông Nam Á Lục địa thì phổ biến là những nền văn hoá với những công cụ chặt thô cổ truyền mà điển hình là các văn hoá Anyath hậu kỳ, văn hoá Sơn Vi...
Cần phải lưu ý rằng, những phát hiện khảo cổ học gần đây đã cho thấy sự phân định không rành mạch đến thế, trong mỗi một truyền thống đều chứa yếu tố của truyền thống kia. Ở cả hai khu vực đều có sự đan xen của cả hai loại hình kỹ nghệ cuội và mảnh. Trong kỹ nghệ Leang Burung II của Đông Nam Á hải đảo đã xuất hiện kỹ thuật Levallois chân chính với những hạch đá hình lăng trụ, còn ở Đông Nam Á lục địa những Ngườm (Việt Nam), Lang Rongrieng (Thái Lan) và Bạch Liên Động (Trung Quốc) lại cho thấy một kỹ nghệ mảnh tước từng tồn tại trong hậu kỳ đá cũ ở đây. Sự hiện diện của của các kỹ nghệ này mang tính giai đoạn và phản ánh sự diễn biến của khí hậu mà có những thời kỳ là công cụ cuội và có những thời kỳ là công cụ mảnh
9.
I.4.3. Đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của những cộng đồng cư dân thời đại đá cũ
Trước đây, khi xem xét văn hoá nguyên thuỷ, giới khảo cổ học Xô Viết thường cho rằng tính đặc thù của văn hoá chưa nảy sinh ở thời đại đồ đá cũ, nhất là ở sơ kỳ đá cũ. Cách nhìn nhận này đã thay đổi, đặc biệt dưới ánh sáng của những phát hiện mới. Các học giả thừa nhận rằng, những con đường và những định hướng kỹ thuật cùng loại hình công cụ... đã nảy sinh ngay từ đầu, từ đầu thời đá cũ, gắn với tính đa dạng của điều kiện tự nhiên và sự tự do lựa chọn của con người, sinh vật có tư duy, có ý thức, có quyền năng ngày càng lớn trong việc lựa chọn mô hình ứng xử, mô hình văn hoá.
Mẫu số chung của văn hoá nguyên thuỷ là sự thu lượm những đồ ăn thức uống có sẵn trong tự nhiên. Nhưng kỹ thuật thu lượm và loại hình công cụ dùng để thu lượm thì khác nhau tuỳ khu vực cũng như là kỹ thuật chế biến đồ ăn, kỹ thuật xây dựng nơi cư trú, kỹ thuật phòng hộ và tư duy mỹ cảm... Ở miền đồng cỏ, trong điều kiện của những hệ sinh thái chuyên biệt, thì săn bắt phát triển hơn hái lượm. Còn trong các điều kiện của những hệ sinh thái tổng quát (hay phổ tạp) như ở Đông Nam Á, trong các rừng mưa nhiệt đới xanh quanh năm, sinh khối thực vật phát triển hơn sinh khối động vật nên hái lượm vượt trội hơn săn bắt. Và vì chỉ số đa dạng của hệ sinh thái rất cao, số lượng loài cây, loài vật thì nhiều, nhưng số lượng các cá thể cây con trên một diện tích rừng nhất định thì lại ít; cho nên người nguyên thuỷ - dù là ở lục địa hay hải đảo... đều phải hái lượm theo phổ rộng. Cái chung là như thế, song người ta đã có thể nhận ra những định hướng khác nhau trong sự phát triển văn hoá nguyên thuỷ Đông Nam Á. Có truyền thống đá gốc, mà cũng có truyền thống đá cuội. Có kỹ thuật đá cục, mà cũng có kỹ thuật mảnh phiến, mảnh tước... Người nguyên thuỷ - dù nguyên thuỷ - nhưng đã là những con người thực sự - con người văn hoá, nghĩa là đã vượt xa mô hình hành động theo bản năng, sống theo mô hình tuỳ nghi lựa chọn, thích ứng với hoàn cảnh mỗi vùng và những giao động thời tiết ở mỗi thời điểm khác nhau bằng các tạo phẩm văn hoá khác nhau và những chiến lược thích nghi khác nhau.
Nếu hái lượm theo phổ rộng thì cơ cấu xã hội tương ứng không phải là những bộ lạc đông người sống tập trung mà là những nhóm gia đình ở phân tán trong hang động hay trên thềm sông cổ, đồ đá thì có phần đơn điệu (phần lớn là công cụ chặt) nhưng đồ tre gỗ thì rất phong phú và đa dạng.
I.4.4. Văn hoá Hoà Bình ở Đông Nam Á
Trong giai đoạn tiền sử, cách đây khoảng một vạn năm đã có những thay đổi quan trọng, đánh dấu bước tiến mới trong lối sống con người. Loài người bước vào thời đại đá mới. Thời đại đá mới được đặc trưng bởi những tiến bộ về phương thức sản xuất, sự biến đổi về môi trường sinh thái. Cuộc “Cách mạng đá mới” là một trong những bước tiến lớn của con người diễn ra trong sự thay đổi môi trường ở cuối Pleistocene và Holocene sớm - trung. Tại mỗi khu vực sự biến đổi này là do những nguyên nhân khác nhau.
Trong quá trình phát triển của thời tiền sử Đông Nam Á, cần lưu ý một đặc điểm là mối quan hệ giữa kỹ thuật, loại hình công cụ và phương thức sinh hoạt rất lỏng lẻo
10, loại hình công cụ cùng với kỹ nghệ chế tạo công cụ mang tính “trường tồn” và “liên đại”. Vì vậy, mỗi một kỹ thuật mới xuất hiện tức là sự kiện đánh dấu sự thay đổi về chất trong phương thức kiếm sống.
Khu vực Đông Nam Á từ lâu đã được một số nhà khoa học coi là một trong những trung tâm phát sinh và phát triển nghề trồng lúa. N.I. Vavilov sau khi tiến hành điều tra trên quy mô toàn thế giới về lịch sử thuần hoá cây trồng đã chỉ ra 9 trung tâm, trong đó Đông Nam Á (được gọi là Trung tâm Ấn Độ - Mã Lai). Theo đó, Đông Nam Á là một cái nôi phong phú bậc nhất và là nơi thuần dưỡng cây lúa. Tác giả C.O. Sauerch cũng cho rằng Đông Nam Á là nơi phát sinh trồng trọt sớm vì ở đó là một vùng nhiệt đới với tính đa dạng cao về động thực vật cũng như cảnh quan địa mạo sinh thái mà không có một nơi nào sánh kịp. Địa hình cảnh quan đa dạng: Sườn dốc vùng núi, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng châu thổ, duyên hải - đảo đã buộc con người phải có những biện pháp - chiến lược thích nghi khác nhau về Nước - Phân - Cần - Giống... tạo ra các kiểu nông cụ, các loại giống, các loại ruộng khác nhau. Tuy vậy, những tài liệu khảo cổ học trực tiếp (được biết cho tới nay) không ủng hộ giả thiết về niên đại quá sớm của việc trồng lúa ở Đông Nam Á.
Bước sang thời kỳ Toàn Tân (Holocene) ở Đông Nam Á vẫn tiếp tục hai truyền thống chế tác công cụ đá từ thời đá cũ (còn được gọi là hai con đường đá mới hoá). Trong khi nền văn hoá Hoà Bình phân bố chủ yếu trên lục địa và một phần phía đông bắc Sumatra, thì ở Đông Nam Á hải đảo phổ biến những kỹ nghệ có đồ đá nhỏ. Đó là kỹ nghệ Toalean ở Célèbes, kỹ nghệ Obsidien phân bố trên các đảo Sumatra, Java, Timor...
Môi trường sinh sống chính của cư dân văn hoá Hoà Bình thời đá mới sơ kỳ là thung lũng - hang động, mặc dù không phải là họ không cư trú ngoài trời, nhưng cho đến nay, rất ít những di tích cư trú ngoài trời được nhận biết ở Đông Nam Á lục địa. Ở Sumatra, những di tích của văn hoá này lại là những cồn sò điệp ngoài trời. Cư dân văn hoá Hoà Bình đã khai thác một cách tổng hợp và đa dạng nguồn lợi thiên nhiên, từ núi rừng đến ven biển, hải đảo... với địa bàn chính là vùng núi và trước núi. Trong giai đoạn này dân số tăng nhanh, môi trường hoạt động và sinh sống giảm. Điều đó đã tạo nên một áp lực khiến dẫn đến sự ra đời của một quá trình sáng tạo mới. Trong môi trường sinh thái thung lũng, các cộng đồng cư dân trên cơ sở những thành tựu văn hoá, những kinh nghiệm tích luỹ được buộc phải có một quá trình thích nghi mới. Bên cạnh việc hái lượm, săn bắt dần bước vào trồng trọt và chăn nuôi ở các thung lũng hay trên các sườn núi đá vôi. Thung lũng là cái nôi của cách mạng đá mới ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa, là bàn đạp cho một nền văn minh nông nghiệp ở châu thổ. Hệ sinh thái thung lũng Hoà Bình đã được GS. Trần Quốc Vượng khái quát theo trật tự: Suối - Bãi bồi - Tung lũng - Thềm cổ - Đồi trung sinh hay Miền trước núi - núi đá vôi karst (với các hang động mái đá). Như vậy Trường sinh hoạt của chủ nhân văn hoá Hoà Bình rộng hơn nhiều so với quan điểm trước đây về một nền văn hoá hang động, và không chỉ bó hẹp ở Hang - Suối, mà là ở các địa hình khác nhau, với nhiều “lối” (ways) sinh hoạt khác nhau. Suối và các giải đá vôi là nơi cung cấp một lượng thức ăn đáng kể, đó là các loài nhuyễn thể, gồm ốc suối và ốc núi, trai, trùng trục.... Ngoài các loại thức ăn trên, người Hoà Bình còn biết săn bắt các loại thú rừng. Trong gần một nửa số hang động cư trú đã tìm thấy dấu tích thức ăn động vật là những xương răng động vật có vú. Đó là những động vật sống trong môi trường rừng núi nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm, nhiều mưa với thảm thực vật đa dạng. Theo các nhà cổ sinh học, quần thể động vật Hoà Bình nhìn chung không khác hiện nay, trừ họ tê giác. Đa phần phế tích thức ăn là từ các loài động vật nhỏ như chuột, chó, gà lôi... Nguồn thức ăn thực vật chiếm một vị trí đáng kể, trong các di tích của văn hoá này đã tìm thấy 22 loài bào tử và trên
Những cộng đồng cư dân văn hoá Hoà Bình sống tập trung ở Đông Nam Á lục địa, đặc biệt là khu vực miền bắc Việt Nam, nhưng họ có thể cũng chiếm lĩnh nhiều không gian sống khác. Dù sống trong các môi trường cảnh quan đa dạng và có những định hướng sinh thái khác nhau như vùng môi trường núi đá vôi, bên sông suối; vùng môi trường bờ biển; vùng đồi bậc thềm thấp nằm phía sau các đồng bằng ven biển, thì cư dân cổ đã chế tác và sử dụng bộ công cụ đá khá giống nhau, với một số loại hình cơ bản như công cụ ghè đẽo một mặt hình bầu dục, hình tròn... (Sumatralith), rìu ngắn... Chính vì sự phân bố trên một địa bàn quá rộng của một truyền thống kỹ thuật chế tác công cụ chung, nên một số tác giả cho rằng việc sử dụng khái niệm văn hoá đối với Hoà Bình là không thích hợp. Gorman, nhà khảo cổ học người Mỹ đã mượn khái niệm “Phức hợp kỹ thuật (technocomplex)”của Clarke để làm rõ quan niệm của mình là văn hoá Hoà Bình không phải là một văn hoá duy nhất mà là nhóm văn hoá. GS. Hà Văn Tấn dựa vào tiêu chí coi kỹ thuật Sumatralith là đặc trưng cơ bản của Hoà Bình, đã cho rằng có một văn hoá Hoà Bình dạng Bắc (gồm Việt Nam, Lào và Thái Lan) và một văn hoá Hoà Bình dạng Nam (gồm bán đảo Mã Lai và bờ bắc Sumatra). Tại những khu vực khác có những kỹ nghệ chế tác công cụ cuội có những nét tương đồng với văn hoá Hoà Bình nên được gọi là kỹ nghệ Hoà Bình tức Hoabinhoid technology
11.
Người Hoà Bình sống chủ yếu bằng săn bắt (bắn) và hái lượm (cũng vẫn theo phổ rộng) và vai trò vượt trội của hái lượm. Phương thức sống của cư dân Hoà Bình đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý. Vấn đề đáng quan tâm nhất là sự nảy sinh của nông nghiệp trong lòng văn hoá Hoà Bình. Một vài học giả đã đưa ra giả thuyết về sự thuần dưỡng thực vật trong văn hoá Hoà Bình.
Các sử gia nông nghiệp thường cho rằng ở Đông Nam Á và Việt Nam có hai thời kỳ nông nghiệp: Nông nghiệp trồng củ và tiếp sau là nền Nông nghiệp trồng hạt. Ở đầu thập kỷ 60, sau khi đào Hang Ma (Spirit Cave) ở Thái Lan (một hang động văn hoá Hoà Bình) và tìm thấy một số hạt cây - hoá thạch lớn (macro fossiles), Chester Gorman nêu lên giả thuyết Văn hoá Hoà Bình là văn hoá nông nghiệp sớm nhất Đông Nam Á. Ý kiến này được sự hậu thuẫn và ủng hộ của W.Solheim II, người coi phát hiện này có ý nghĩa rất lớn vào thập kỷ 60, khi ông cho rằng Đông Nam Á là vùng phát sinh nông nghiệp sớm nhất thế giới, cũng như, với Non Nok Tha, rồi sau này là Bản Chiang, thời đại đồ đồng (khoảng 6.000 năm) cũng như thời đại đồ sắt (hơn 3.000 năm) xuất hiện ở Đông Nam Á cực sớm. (Những niên đại này đã bị nhiều ý kiến nghi ngờ). Chester Gorman bác bỏ lý thuyết hai giai đoạn và cho rằng nông nghiệp phát sinh ở vùng chân núi (piemont) với có thể đồng thời hay trước sau không đáng kể việc trông khoai nước cùng với việc trồng lúa nước.
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Việt đã rất chú trọng đến nghề trồng trọt thời tiền sơ sử. Bên cạnh dó, GS. Đào Thế Tuấn cũng đã nêu ra luận điểm quan trọng về sự phát sinh nghề trồng lúa nước từ vùng thung lũng và sau đó nó diễn tiến theo hai hướng: hướng đi ngược lên đồi và các sườn núi thành nghề trồng lúa khô ở nương rãy, hướng đi xuống đồng bằng trở thành nghề trồng lúa nước đại trà và cộng với áp lực dân số, từ việc trồng lúa nếp ban đầu, người ta đã tiến tới việc trồng lúa tẻ, hay nói cách khác, đã tẻ hoá nghề trồng lúa nước ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Dựa vào những thóc gạo cháy ở hang Xóm Trại, hai tác giả trên đã cho rằng nghề nông trồng lúa nước đã phát sinh trong văn hoá Hoà Bình. Tuy vậy, những hạt thóc gạo cháy này được tìm thấy trong một địa tầng xáo trộn nghiêm trọng, và cho tới nay, đây cũng là địa điểm duy nhất tìm được gạo cháy trong hàng trăm di tích Hoà Bình. Bộ công cụ đá của văn hoá này cũng chưa thể hiện rõ nét tính chất nông cụ liên quan đến trồng trọt.
Gần đây, người ta đã tìm thấy hạt và quả của nhiều loài cây thuộc họ rau đậu và họ bầu bí, được coi là đã thuần dưỡng trong một số di chỉ văn hoá Hoà Bình. Vì vậy đã có một nền nông nghiệp sơ khai. Cuộc sống định cư tương đối đã tạo nên tiền đề thúc đẩy cho sự nảy sinh nghề trồng trọt. Tuy nhiên, vai trò của nó còn rất nhỏ bé so với các hoạt động truyền thống hái lượm và săn bắt (bắn). Cũng có những ý kiến khác về sự nảy sinh nghề trồng trọt, vì theo những phân tích di tích thực vật đã tìm thấy ở Việt Nam, Thái Lan... thì các chứng cứ về sự thuần dưỡng thực vật trong văn hoá Hoà Bình vẫn chưa tỏ ra đủ tin cậy
12. Thống kê bước đầu cho thấy trong một số di tích Hoà Bình có 50 loại bào tử phấn hoa khác nhau. Trong đó chưa thấy loại đã được con người thuần hoá, tuy vậy đã có sự khác biệt giữa thành phần phổ phấn hoa của văn hoá Hoà Bình và văn hoá Sơn Vi13.
Hoạt động hái lượm phát triển cùng với việc chiếm / ứng trường sinh thái đa dạng tuy vậy đã tạo điều kiện cho cư dân văn hoá Hoà Bình có được những tri thức ban đầu về trồng trọt. Theo một số học giả như các giáo sư Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng..., thì đây được coi là màn dạo đầu (prelude) của cuộc “Cách mạng đá mới”.
Trong những nơi ở của người Hoà Bình, sự tích tụ văn hoá thường rất dày, với nhiều tầng văn hoá. Trong các tầng văn hoá đó chủ yếu là vỏ các loài nhuyễn thể, tàn tích xương động vật, than tro, di cốt người và di vật đá. Trong nhiều di chỉ các nhà khoa học còn tìm được vết tích bếp lửa, mộ và di cốt người, dấu tích nghệ thuật...
Cư dân văn hoá Hoà Bình đã hoàn thiện kĩ thuật chế tác đá. Họ khai thác nguyên liệu tại chỗ như cuội sông suối. Tổ hợp công cụ đá cho thấy nét nổi bật của kỹ nghệ đồ đá ở đây là kỹ thuật ghè đẽo và tu chỉnh tinh tế nhằm tạo ra những công cụ hoàn chỉnh đã chiếm địa vị chủ đạo. Bên cạnh kỹ thuật truyền thống ghè bổ chặt, kỹ thuật mài đã xuất hiện tuy chưa phổ biến. Sự tồn tại của những công cụ mài lưỡi cũng đánh dấu một bước phát triển cao hơn của trình độ chế tác đá của người xưa. Bên cạnh chất liệu đá, thời kỳ này cư dân đã chế tác và sử dụng công cụ được làm từ xương, gỗ, sừng, tre...
Giáo sư khảo cổ học Hà Văn Tấn đã lưu ý một đặc điểm là dù sống ở các môi trường cảnh quan khác nhau, cư dân văn hoá Hoà Bình có bộ công cụ đá khá giống nhau. Tại Đông Nam Á lục địa, có một văn hoá Hoà Bình mang tính thống nhất với một số dạng địa phương. Tổ hợp công cụ đá văn hoá Hoà Bình phong phú và ổn định trong một số loại hình đặc trưng, đặc biệt là loại công cụ cuội. Tính đa dạng được thể hiện trong cơ cấu thức ăn, sự tuyển lựa nơi cư trú... Như vậy, vẫn cùng chung một khung cảnh sống, mà cách thu lượm sản vật thiên nhiên của người cổ đã thích nghi, ứng biến với từng điều kiện cụ thể của môi trường sinh thái. Nói một cách khoa học và theo kiểu sinh thái học nhân văn, thì cư dân cổ Hoà Bình có “Trị giá sinh thái” (Value écologique) cao - có khả năng thích ứng với nhiều loại môi trường tự nhiên.
Cư dân thời đại đá mới có một tri thức phong phú về tự nhiên, những hang động và những nơi cư trú khác của họ đều là những địa điểm thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất. điều này cho thấy con người thời bấy giờ đã biết thích nghi một cách hài hoà với tự nhiên.
Thời kỳ này cũng để lại những dấu vết của nghệ thuật như những hiện vật bằng xương có vết khắc hình cá, hình thú và những hình vẽ trên vách hang, những mảnh thổ hoàng, những đồ gốm trang trí hoa văn với những đồ án phức tạp hay tô màu... những hình thức nghệ thuật đầu tiên này mang tính ước lệ. Con người giai đoạn này học vẽ, học đếm, xây dựng các sự lý giải đầu tiên về thế giới và bản thân mình. Đây được coi là những bước đầu tiên trong sự hình thành con người văn hoá. Người Hoà Bình, theo GS. Hà Văn Tấn có lẽ đã có những biểu hiện về nhịp điệu, thể hiện bằng những nhóm vạch ba vạch một trên các hòn cuội tìm thấy trong hang động. Dù mới chỉ là giả thuyết về số đếm, cách tính ngày... những di vật tìm thấy cũng cho thấy một bước phát triển tư duy của người nguyên thuỷ. Tư duy về thời gian vũ trụ còn được thể hiện bằng những hoa văn, kí hiệu biểu thị mặt trời như hình tròn, hình chữ S... vẽ trên đồ gốm. Có thể bấy giờ đã bắt đầu hình thành một loại nông lịch sơ khai.
Quan niệm về cái chết, về đời sống khác sau chết khá đa dạng và phức tạp được thể hiện qua nhiều phương thức xử lý xác chết và táng thức khác nhau và cũng thể hiện tính khu biệt địa phương rõ nét.
I.4.5. Không gian phân bố và đặc điểm của những cộng đồng cư dân săn bắt / bắn - hái lượm và nông nghiệp sớm ở Đông Nam Á
Vào cuối giai đoạn đá mới, cư dân đã mở rộng không gian sinh tồn của mình. Cùng với việc chiếm lĩnh các bãi bồi lớn ven sông, các dải cát ven biển... là việc thay đổi về lối sống, về văn hoá. Sự kiện môi trường quan trọng nhất trong thời kỳ này là đợt biển tiến Holocene trung và quá trình hình thành các đồng bằng ven biển.
Phụ thuộc vào địa bàn phân bố, định hướng kinh tế và lối sống của các nhóm cư dân này mang tính chất địa phương rõ nét. Trong giai đoạn này nghề gốm bắt đầu phát triển, bên cạnh đó do sự quy định của điều kiện tự nhiên - sinh thái, nghề khai thác thuỷ hải sản chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống cư dân cổ. Một đặc điểm nữa là nghề trồng trọt đã được triển khai, nhất là ở giai đoạn muộn.
Giai đoạn cuối của thời đại đá mới được đánh dấu bằng sự thiết lập và tồn tại của nhiều văn hoá nhiều nhóm di tích ở tất cả các địa bàn, từ rừng núi, trung du đến vùng ven biển và hải đảo. Nhìn chung các di chỉ khảo cổ học giai đoạn này có diện tích rộng lớn, tầng văn hoá nhiều nơi dày và ổn định. đã xuất hiện các loại hình di tích khác nhau như cư trú, cư trú - xưởng chế tác, cư trú - mộ táng, mộ táng...
Đặc trưng văn hoá nổi bật của giai đoạn này là sự bắt đầu thực sự của cuộc “Cách mạng đá mới”, hay “Đá mới hoàn toàn”. Sự xuất hiện của những nơi định cư làm nông nghiệp và cư dân sống tập trung thành làng. Đó cũng là nguyên nhân hình thành tính địa phương của văn hoá. Sự khác biệt về lối sống và nếp sống ngày càng rõ rệt hơn. Cái chung, là một nền văn hoá sản xuất bắt đầu phát sinh và phát triển, với sự vượt trội của trồng trọt đa canh so với chăn nuôi.
Trồng trọt phát triển ở thời đá mới, thì đã có nét đặc thù của trồng nước và trồng khô, trồng hạt và trồng củ. Ở thung lũng, lúa nước phát sinh rồi phát triển hơn là khoai nước; ở ven biển cát dài, củ khoai phát triển nhiều hơn lúa. Và nương vườn trồng rau bầu và cây ăn quả nhiều hơn trong khi đồng ruộng trồng ngũ cốc nhiều Theo một số nhà khảo cổ học Việt Nam, với văn Hoà Bình và Bắc Sơn nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á (khoảng 10.000 năm cách đây) các nhóm cư dân sống ở chân núi, dải đất ven sông bên cạnh hái lượm và săn bắt đã bắt đầu có những tri thức đầu tiên về trồng trọt. Cho đến tận ngày nay kể cả ở vùng Hoà Bình, thực vật bao phủ vẫn gồm cả đậu, củ từ và khoai sọ / nước. Có một số chứng cứ không trực tiếp ở những lớp trên của hang Hoà Bình người ta tìm thấy rìu mài lưỡi được xem là liên quan đến hoạt động phát rừng. Những hiện vật lớn có hình dạng giống cuốc tìm được ở Xóm Trại có những vết sử dụng như làm đất. Ở Xóm Trại cũng đã thấy vết tích gạo. Theo phân tích của chuyên gia nông học Đào Thế Tuấn, lớp dưới là loại hạt dài, lớp trên cả hạt dài và tròn. Ông cho rằng có một quá trình tăng dần của thuần hoá lúa. Tuy vậy, địa tầng phía trên ở Xóm Trại bị xáo trộn giống như nhiều hang Hoà Bình khác nên những hạt gạo có mặt tại đây chưa thể được xác định niên đại một cách chắc chắn.
Những chứng cứ về nông nghiệp thời đại đá mới Việt Nam cho đến nay chỉ là những bằng chứng gián tiếp chứ không phải là vết lúa gạo (thậm chí cũng rất hiếm trong thời đại kim khí). Đó là gốm, cuốc đá, dao cắt, bàn đập vỏ cây, dọi xe chỉ, đá buộc gậy chọc lỗ...
Trên cơ sở tài liệu phát hiện được ở Thái Lan và Việt Nam trong điều kịên nghiên cứu hiện nay chúng ta có thể chấp nhận được giả thiết của Ho Pingti cho rằng Đông Á gió mùa cụ thể là Trung Hoa từ phía nam sông Dương Tử và Đông Nam Á lục địa và hải đảo một khu vực quanh năm khí hậu ấm nóng và rất giàu nguồn thực vật. Đông Á gió mùa này từ gốc thu lượm thực vật có thể là nơi phát nguồn của nghề làm vườn trồng cây ăn quả, củ… và vào giai đoạn cuối hệ sinh thái nông nghiệp đã bắt đầu đa dạng và loại hình nông cụ cũng đa dạng hoá tiếp theo đó, và đồ gốm nặn bằng tay càng đa dạng hoá hơn nữa, với đáy tròn, đáy nhọn hay là đáy phẳng cùng của loại miệng thích nghi...
Những điều kiện định cư lâu dài và sự phát triển của nông nghiệp sơ khai đã làm hình thành rõ nét tính địa phương của văn hoá trong những khu vực hẹp vào cuối thời đá mới (cách đây khoảng 5.000 năm). Bốn khu vực văn hoá hậu kỳ đá mới với những đặc trưng riêng về loại hình công cụ đá và kỹ thuật chế tác, trang trí đồ gốm đã được xác định một cách khái quát bao gồm: 1. Đông Nam Á lục địa (trừ bán đảo Malacca); 2. Đông Nam Trung Quốc - Đài Loan - Philippines (và có thể một số vùng phụ cận như Đông Bắc Việt Nam, miền Trung Celebes); 3. Mã Lai - tây Indonesia; 4. Miền đông Indonesia, một phần bắc Celebes (và vùng chịu ảnh hưởng của nó là Melanesia)
14.
Những văn hoá và địa điểm trung và hậu kỳ đá mới đáng chú ý ở Đông Nam Á đó là những văn hoá phân bố ở nội địa và ven biển Việt Nam như Cái Bèo, Hạ Long, Đa Bút, Thạch Lạc, Quỳnh Văn, Bàu Tró… ở Thái Lan có di chỉ Don Noi (Bo Ploi), văn hoá Ban Kao… cũng giống như ở Việt Nam, giữa các vùng khác nhau của Thái Lan cũng có tỉ lệ không đều của các loại hình rìu. Rìu có vai thường thấy ở Bắc và đông bắc Thái Lan, rìu không có vai phổ biến ở vùng Nam Thái Lan, đặc biệt trong văn hoá Ban Kao.
Theo Bellwood, sự xác định của thời đại đá mới muộn ở Đông Nam Á hải đảo dựa chủ yếu trên sự xuất hiện rộng rãi của gốm được trang trí (thường là văn in hay khắc vạch) ở một phần Phillipines và miền đông Indonesia sau năm 1500 BC. Giai đoạn này cũng bao gồm cả gốm Yuan-Shan (Trường Tân hay Ty Nam) của miền bắc và miền đông Đài Loan. Mộ chum có thể phát triển ở Phillipines và Sarawak từ khoảng năm 1.000 BC trở đi và giai đoạn này trên thực tế đã đạt tới giai đoạn kim khí sớm với đồng đỏ, đồng thau, sắt, hạt chuỗi thuỷ tinh, và sự phổ biến rộng khắp của mộ chum vào cuối Thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Những văn hoá đá mới muộn điển hình: Văn hoá Lapita ở miền Đông Oceania, Văn hoá đá mới ở Hang Niah miền tây Indonesia, Văn hoá đá mới Ban Kao ở Nam Thái Lan và Malaysia.
Thời kỳ này cũng xuất hiện những tín ngưỡng nguyên thuỷ. Là cư dân nông nghiệp nên mưa, gío và đặc biệt là mặt trời đã trở thành một trong những thần linh quan trọng đối với con người.
Về loại hình công xã thời hậu kỳ Đá mới giới nghiên cứu đều thống nhất cho rằng đó là loại hình công xã thị tộc phát triển. Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể trên con đường phát triển song trong cái thế giới hoàn toàn gỗ đá ấy, trình độ kinh tế-xã hội dù có được nâng dần lên nhưng thật chưa có chuyển biến căn bản. Xã hội đến đây vẫn hoàn toàn là xã hội nguyên thuỷ.
I.4. Đặc điểm lịch sử - văn hoá Đông Nam Á thời tiền sử
I.4.1. Vị trí của Đông Nam Á trong lịch sử hình thành con người, một số phát hiện cổ nhân, cổ sinh quan trọng
Những nghiên cứu cổ địa chất, cổ sinh học cho thấy trong suốt thế Cánh tân, điều kiện tự nhiên ở Đông Nam Á không thay đổi nhiều so với hiện nay. Môi trường tự nhiên này rất thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển con người đầu tiên và hình thành những đặc điểm văn hoá riêng biệt.
Những phát hiện cổ nhân đầu tiên trong khu vực là những phát hiện về dấu vết vượn người Miocene ở Lộc Phong, Vân Nam, Trung Quốc. Đây là những dấu tích sọ và mặt của Ramapithecus, được đặt tên là Lufengpithecus (vượn Lộc Phong). Tuy rằng hiện nay Ramapithecus không được coi là nằm trong dòng tiến hoá trực tiếp lên người, nhưng những phát hiện này cũng đã giúp cho các nhà nghiên cứu có được nhận thức rõ ràng hơn con đường và cách thức tiến hoá nhân loại.
Tại khu vực Đông Nam Á cũng đã phát hiện nhiều vết tích của vượn Homo Erectus, những vết tích này tập trung chủ yếu ở Indonesia mà niên đại tuyệt đối lên tới 1,81 +/- 0,04 triệu năm (niên đại K40 của sọ Modjokerto). Niên đại này còn sớm hơn niên đại Homo Erectus ở châu Phi và làm nảy sinh vấn đề về nguồn gốc của Homo Erectus châu Á
7. Những phát hiện mảnh tước đá và bola ở Sambungmachan, Ngebung (Indonesia) cũng bước đầu khẳng định người Homo Erectus Đông Nam Á đã biết chế tạo và sử dụng công cụ bằng đá.
I.4.2. Thời đại đá cũ Đông Nam Á - Phát hiện và tranh luận
Dựa vào những nghiên cứu cổ sinh học, có thể thấy rằng khí hậu giai đoạn này biến đổi từ nóng hơi khô sang nóng ẩm với quần động vật là những loài động vật có vú phong phú, tiêu biểu cho quần động vật khu vực nam Trung Hoa và bắc Việt Nam, một số loài nay đã bị tuyệt diệt như vượn khổng lồ, đười ươi, voi răng kiếm, voi cổ, lợn vòi, gấu tre...
Phức hệ thực vật đều được đặc trưng bởi những giống loài của thực vật cận nhiệt đới đa dạng với nhiều loại tre nứa, có thể sử dụng làm công cụ lao động, dụng cụ sinh hoạt, dụng cụ săn bắt hoặc tạo lửa. Nhiều loại thảo mộc có thể cung cấp chất bột, đường và đạm nuôi sống con người và dược liệu chữa bệnh cho con người.
Những phát hiện về sơ kỳ đá cũ ở Đông Nam Á: Trong nhiều công trình khoa học về thời đại đá cũ trên thế giới nói chung và Đông Nam Á nói riêng, người ta thường nhắc đến luận điểm của học giả Mỹ H. Movius đưa ra vào những năm 40 của thế kỷ XX về hai nền văn hoá sơ kỳ đá cũ phân bố ở hai khu vực:
1. Nền văn hoá rìu tay phân bố ở phương Tây (gồm châu Phi, châu Âu, Tây Nam Á và vùng Nam Ấn Độ).
2. Nền văn hoá Eroppo - Tropping phổ biến ở phương Đông gồm Trung Quốc, tây bắc Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Luận điểm này của ông đã có ảnh hưởng lớn trong giới khảo cổ học tiền sử và đôi khi được sử dụng để minh chứng cho sự phát triển chậm chạp và tính lạc hậu, trì trệ về văn hoá, kỹ thuật của phương Đông và đặc biệt là của khu vực Đông Nam Á. Tuy vậy, đã có không ít sự nghi ngờ và phê phán luận điểm này từ phía các nhà nghiên cứu. Quan điểm phổ biến hiện nay giải thích sự bảo lưu vững chắc của các kỹ thuật truyền thống ở Đông Nam Á bằng điều kiện sinh thái, tính đặc thù trong phương thức thích nghi với môi trường tự nhiên. Nghiên cứu quần động vật và thực vật, người ta thấy những biến động về khí hậu và môi trường tự nhiên trong suốt thế Cánh tân ở Đông Nam Á không quá lớn và đột ngột để buộc con người phải thay đổi hẳn phương thức sinh hoạt. Đứng trước đối tượng săn bắt và hái lượm khá ổn định, con người không có yêu cầu thay đổi những kỹ thuật cũ, do đó tập hợp công cụ lao động không có những biến đổi lớn
8.
Ở Đông Nam Á, đã có nhiều phát hiện khảo cổ mà trước đây thường được xác định thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ như văn hoá Anyathian (Myanmar), văn hoá Tampanian (Malaysia), văn hoá Patjitan (Indonesia), Núi Đọ (Việt Nam)... Tuy nhiên, do những công cụ được xác định niên đại sơ kỳ đá cũ này không nằm trong địa tầng nguyên vẹn và trong tổ hợp di vật để giúp định niên đại một cách chắc chắn nên hầu như đều bị xem xét lại. Theo GS. Hà Văn Tấn, hiện nay chỉ có hai địa điểm ở Thái Lan là Ban Mae Tha và Ban Don Mun có các công cụ cuội nằm dưới lớp basalte. Các lớp basalte này có niên đại khoảng 730.000 năm cách ngày nay, như vậy công cụ đá ở hai địa điểm này thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ sớm nhất hiện nay được biết đến ở Đông Nam Á. Như vậy dấu vết sinh sống của con người thời sơ kỳ đá cũ ở Đông Nam Á chưa rõ ràng và chắc chắn.
- Hậu kỳ đá cũ Đông Nam Á: Hiện nay, thời kỳ này được biết nhiều hơn và nghiên cứu kỹ hơn, dù rằng ở Đông Nam Á mọi ranh giới trong thời đại đá cũ không được rõ nét lắm. Trước đây người ta cho rằng trong giai đoạn này có hai truyền thống chế tác công cụ đá khác nhau: Truyền thống công cụ cuội ở lục địa Đông Nam Á và truyền thống công cụ mảnh ở Hải đảo Đông Nam Á. Trong các nền kỹ nghệ có niên đại hậu kỳ đá cũ ở Đông Nam Á hải đảo, nổi bật là những kỹ nghệ Niah (đảo Kalimantan), kỹ nghệ Tabon (Đảo Palawan), kỹ nghệ Leang Burung II (đảo Célèbes)... đây là những kỹ nghệ thiên về kỹ thuật chế tác công cụ mảnh tước. Ở Đông Nam Á Lục địa thì phổ biến là những nền văn hoá với những công cụ chặt thô cổ truyền mà điển hình là các văn hoá Anyath hậu kỳ, văn hoá Sơn Vi...
Cần phải lưu ý rằng, những phát hiện khảo cổ học gần đây đã cho thấy sự phân định không rành mạch đến thế, trong mỗi một truyền thống đều chứa yếu tố của truyền thống kia. Ở cả hai khu vực đều có sự đan xen của cả hai loại hình kỹ nghệ cuội và mảnh. Trong kỹ nghệ Leang Burung II của Đông Nam Á hải đảo đã xuất hiện kỹ thuật Levallois chân chính với những hạch đá hình lăng trụ, còn ở Đông Nam Á lục địa những Ngườm (Việt Nam), Lang Rongrieng (Thái Lan) và Bạch Liên Động (Trung Quốc) lại cho thấy một kỹ nghệ mảnh tước từng tồn tại trong hậu kỳ đá cũ ở đây. Sự hiện diện của của các kỹ nghệ này mang tính giai đoạn và phản ánh sự diễn biến của khí hậu mà có những thời kỳ là công cụ cuội và có những thời kỳ là công cụ mảnh
9.
I.4.3. Đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của những cộng đồng cư dân thời đại đá cũ
Trước đây, khi xem xét văn hoá nguyên thuỷ, giới khảo cổ học Xô Viết thường cho rằng tính đặc thù của văn hoá chưa nảy sinh ở thời đại đồ đá cũ, nhất là ở sơ kỳ đá cũ. Cách nhìn nhận này đã thay đổi, đặc biệt dưới ánh sáng của những phát hiện mới. Các học giả thừa nhận rằng, những con đường và những định hướng kỹ thuật cùng loại hình công cụ... đã nảy sinh ngay từ đầu, từ đầu thời đá cũ, gắn với tính đa dạng của điều kiện tự nhiên và sự tự do lựa chọn của con người, sinh vật có tư duy, có ý thức, có quyền năng ngày càng lớn trong việc lựa chọn mô hình ứng xử, mô hình văn hoá.
Mẫu số chung của văn hoá nguyên thuỷ là sự thu lượm những đồ ăn thức uống có sẵn trong tự nhiên. Nhưng kỹ thuật thu lượm và loại hình công cụ dùng để thu lượm thì khác nhau tuỳ khu vực cũng như là kỹ thuật chế biến đồ ăn, kỹ thuật xây dựng nơi cư trú, kỹ thuật phòng hộ và tư duy mỹ cảm... Ở miền đồng cỏ, trong điều kiện của những hệ sinh thái chuyên biệt, thì săn bắt phát triển hơn hái lượm. Còn trong các điều kiện của những hệ sinh thái tổng quát (hay phổ tạp) như ở Đông Nam Á, trong các rừng mưa nhiệt đới xanh quanh năm, sinh khối thực vật phát triển hơn sinh khối động vật nên hái lượm vượt trội hơn săn bắt. Và vì chỉ số đa dạng của hệ sinh thái rất cao, số lượng loài cây, loài vật thì nhiều, nhưng số lượng các cá thể cây con trên một diện tích rừng nhất định thì lại ít; cho nên người nguyên thuỷ - dù là ở lục địa hay hải đảo... đều phải hái lượm theo phổ rộng. Cái chung là như thế, song người ta đã có thể nhận ra những định hướng khác nhau trong sự phát triển văn hoá nguyên thuỷ Đông Nam Á. Có truyền thống đá gốc, mà cũng có truyền thống đá cuội. Có kỹ thuật đá cục, mà cũng có kỹ thuật mảnh phiến, mảnh tước... Người nguyên thuỷ - dù nguyên thuỷ - nhưng đã là những con người thực sự - con người văn hoá, nghĩa là đã vượt xa mô hình hành động theo bản năng, sống theo mô hình tuỳ nghi lựa chọn, thích ứng với hoàn cảnh mỗi vùng và những giao động thời tiết ở mỗi thời điểm khác nhau bằng các tạo phẩm văn hoá khác nhau và những chiến lược thích nghi khác nhau.
Nếu hái lượm theo phổ rộng thì cơ cấu xã hội tương ứng không phải là những bộ lạc đông người sống tập trung mà là những nhóm gia đình ở phân tán trong hang động hay trên thềm sông cổ, đồ đá thì có phần đơn điệu (phần lớn là công cụ chặt) nhưng đồ tre gỗ thì rất phong phú và đa dạng.
I.4.4. Văn hoá Hoà Bình ở Đông Nam Á
Trong giai đoạn tiền sử, cách đây khoảng một vạn năm đã có những thay đổi quan trọng, đánh dấu bước tiến mới trong lối sống con người. Loài người bước vào thời đại đá mới. Thời đại đá mới được đặc trưng bởi những tiến bộ về phương thức sản xuất, sự biến đổi về môi trường sinh thái. Cuộc “Cách mạng đá mới” là một trong những bước tiến lớn của con người diễn ra trong sự thay đổi môi trường ở cuối Pleistocene và Holocene sớm - trung. Tại mỗi khu vực sự biến đổi này là do những nguyên nhân khác nhau.
Trong quá trình phát triển của thời tiền sử Đông Nam Á, cần lưu ý một đặc điểm là mối quan hệ giữa kỹ thuật, loại hình công cụ và phương thức sinh hoạt rất lỏng lẻo
10, loại hình công cụ cùng với kỹ nghệ chế tạo công cụ mang tính “trường tồn” và “liên đại”. Vì vậy, mỗi một kỹ thuật mới xuất hiện tức là sự kiện đánh dấu sự thay đổi về chất trong phương thức kiếm sống.
Khu vực Đông Nam Á từ lâu đã được một số nhà khoa học coi là một trong những trung tâm phát sinh và phát triển nghề trồng lúa. N.I. Vavilov sau khi tiến hành điều tra trên quy mô toàn thế giới về lịch sử thuần hoá cây trồng đã chỉ ra 9 trung tâm, trong đó Đông Nam Á (được gọi là Trung tâm Ấn Độ - Mã Lai). Theo đó, Đông Nam Á là một cái nôi phong phú bậc nhất và là nơi thuần dưỡng cây lúa. Tác giả C.O. Sauerch cũng cho rằng Đông Nam Á là nơi phát sinh trồng trọt sớm vì ở đó là một vùng nhiệt đới với tính đa dạng cao về động thực vật cũng như cảnh quan địa mạo sinh thái mà không có một nơi nào sánh kịp. Địa hình cảnh quan đa dạng: Sườn dốc vùng núi, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng châu thổ, duyên hải - đảo đã buộc con người phải có những biện pháp - chiến lược thích nghi khác nhau về Nước - Phân - Cần - Giống... tạo ra các kiểu nông cụ, các loại giống, các loại ruộng khác nhau. Tuy vậy, những tài liệu khảo cổ học trực tiếp (được biết cho tới nay) không ủng hộ giả thiết về niên đại quá sớm của việc trồng lúa ở Đông Nam Á.
Bước sang thời kỳ Toàn Tân (Holocene) ở Đông Nam Á vẫn tiếp tục hai truyền thống chế tác công cụ đá từ thời đá cũ (còn được gọi là hai con đường đá mới hoá). Trong khi nền văn hoá Hoà Bình phân bố chủ yếu trên lục địa và một phần phía đông bắc Sumatra, thì ở Đông Nam Á hải đảo phổ biến những kỹ nghệ có đồ đá nhỏ. Đó là kỹ nghệ Toalean ở Célèbes, kỹ nghệ Obsidien phân bố trên các đảo Sumatra, Java, Timor...
Môi trường sinh sống chính của cư dân văn hoá Hoà Bình thời đá mới sơ kỳ là thung lũng - hang động, mặc dù không phải là họ không cư trú ngoài trời, nhưng cho đến nay, rất ít những di tích cư trú ngoài trời được nhận biết ở Đông Nam Á lục địa. Ở Sumatra, những di tích của văn hoá này lại là những cồn sò điệp ngoài trời. Cư dân văn hoá Hoà Bình đã khai thác một cách tổng hợp và đa dạng nguồn lợi thiên nhiên, từ núi rừng đến ven biển, hải đảo... với địa bàn chính là vùng núi và trước núi. Trong giai đoạn này dân số tăng nhanh, môi trường hoạt động và sinh sống giảm. Điều đó đã tạo nên một áp lực khiến dẫn đến sự ra đời của một quá trình sáng tạo mới. Trong môi trường sinh thái thung lũng, các cộng đồng cư dân trên cơ sở những thành tựu văn hoá, những kinh nghiệm tích luỹ được buộc phải có một quá trình thích nghi mới. Bên cạnh việc hái lượm, săn bắt dần bước vào trồng trọt và chăn nuôi ở các thung lũng hay trên các sườn núi đá vôi. Thung lũng là cái nôi của cách mạng đá mới ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa, là bàn đạp cho một nền văn minh nông nghiệp ở châu thổ. Hệ sinh thái thung lũng Hoà Bình đã được GS. Trần Quốc Vượng khái quát theo trật tự: Suối - Bãi bồi - Tung lũng - Thềm cổ - Đồi trung sinh hay Miền trước núi - núi đá vôi karst (với các hang động mái đá). Như vậy Trường sinh hoạt của chủ nhân văn hoá Hoà Bình rộng hơn nhiều so với quan điểm trước đây về một nền văn hoá hang động, và không chỉ bó hẹp ở Hang - Suối, mà là ở các địa hình khác nhau, với nhiều “lối” (ways) sinh hoạt khác nhau. Suối và các giải đá vôi là nơi cung cấp một lượng thức ăn đáng kể, đó là các loài nhuyễn thể, gồm ốc suối và ốc núi, trai, trùng trục.... Ngoài các loại thức ăn trên, người Hoà Bình còn biết săn bắt các loại thú rừng. Trong gần một nửa số hang động cư trú đã tìm thấy dấu tích thức ăn động vật là những xương răng động vật có vú. Đó là những động vật sống trong môi trường rừng núi nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm, nhiều mưa với thảm thực vật đa dạng. Theo các nhà cổ sinh học, quần thể động vật Hoà Bình nhìn chung không khác hiện nay, trừ họ tê giác. Đa phần phế tích thức ăn là từ các loài động vật nhỏ như chuột, chó, gà lôi... Nguồn thức ăn thực vật chiếm một vị trí đáng kể, trong các di tích của văn hoá này đã tìm thấy 22 loài bào tử và trên 40 loài phấn hoa.
Những cộng đồng cư dân văn hoá Hoà Bình sống tập trung ở Đông Nam Á lục địa, đặc biệt là khu vực miền bắc Việt Nam, nhưng họ có thể cũng chiếm lĩnh nhiều không gian sống khác. Dù sống trong các môi trường cảnh quan đa dạng và có những định hướng sinh thái khác nhau như vùng môi trường núi đá vôi, bên sông suối; vùng môi trường bờ biển; vùng đồi bậc thềm thấp nằm phía sau các đồng bằng ven biển, thì cư dân cổ đã chế tác và sử dụng bộ công cụ đá khá giống nhau, với một số loại hình cơ bản như công cụ ghè đẽo một mặt hình bầu dục, hình tròn... (Sumatralith), rìu ngắn... Chính vì sự phân bố trên một địa bàn quá rộng của một truyền thống kỹ thuật chế tác công cụ chung, nên một số tác giả cho rằng việc sử dụng khái niệm văn hoá đối với Hoà Bình là không thích hợp. Gorman, nhà khảo cổ học người Mỹ đã mượn khái niệm “Phức hợp kỹ thuật (technocomplex)”của Clarke để làm rõ quan niệm của mình là văn hoá Hoà Bình không phải là một văn hoá duy nhất mà là nhóm văn hoá. GS. Hà Văn Tấn dựa vào tiêu chí coi kỹ thuật Sumatralith là đặc trưng cơ bản của Hoà Bình, đã cho rằng có một văn hoá Hoà Bình dạng Bắc (gồm Việt Nam, Lào và Thái Lan) và một văn hoá Hoà Bình dạng Nam (gồm bán đảo Mã Lai và bờ bắc Sumatra). Tại những khu vực khác có những kỹ nghệ chế tác công cụ cuội có những nét tương đồng với văn hoá Hoà Bình nên được gọi là kỹ nghệ Hoà Bình tức Hoabinhoid technology
11.
Người Hoà Bình sống chủ yếu bằng săn bắt (bắn) và hái lượm (cũng vẫn theo phổ rộng) và vai trò vượt trội của hái lượm. Phương thức sống của cư dân Hoà Bình đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý. Vấn đề đáng quan tâm nhất là sự nảy sinh của nông nghiệp trong lòng văn hoá Hoà Bình. Một vài học giả đã đưa ra giả thuyết về sự thuần dưỡng thực vật trong văn hoá Hoà Bình.
Các sử gia nông nghiệp thường cho rằng ở Đông Nam Á và Việt Nam có hai thời kỳ nông nghiệp: Nông nghiệp trồng củ và tiếp sau là nền Nông nghiệp trồng hạt. Ở đầu thập kỷ 60, sau khi đào Hang Ma (Spirit Cave) ở Thái Lan (một hang động văn hoá Hoà Bình) và tìm thấy một số hạt cây - hoá thạch lớn (macro fossiles), Chester Gorman nêu lên giả thuyết Văn hoá Hoà Bình là văn hoá nông nghiệp sớm nhất Đông Nam Á. Ý kiến này được sự hậu thuẫn và ủng hộ của W.Solheim II, người coi phát hiện này có ý nghĩa rất lớn vào thập kỷ 60, khi ông cho rằng Đông Nam Á là vùng phát sinh nông nghiệp sớm nhất thế giới, cũng như, với Non Nok Tha, rồi sau này là Bản Chiang, thời đại đồ đồng (khoảng 6.000 năm) cũng như thời đại đồ sắt (hơn 3.000 năm) xuất hiện ở Đông Nam Á cực sớm. (Những niên đại này đã bị nhiều ý kiến nghi ngờ). Chester Gorman bác bỏ lý thuyết hai giai đoạn và cho rằng nông nghiệp phát sinh ở vùng chân núi (piemont) với có thể đồng thời hay trước sau không đáng kể việc trông khoai nước cùng với việc trồng lúa nước.
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Việt đã rất chú trọng đến nghề trồng trọt thời tiền sơ sử. Bên cạnh dó, GS. Đào Thế Tuấn cũng đã nêu ra luận điểm quan trọng về sự phát sinh nghề trồng lúa nước từ vùng thung lũng và sau đó nó diễn tiến theo hai hướng: hướng đi ngược lên đồi và các sườn núi thành nghề trồng lúa khô ở nương rãy, hướng đi xuống đồng bằng trở thành nghề trồng lúa nước đại trà và cộng với áp lực dân số, từ việc trồng lúa nếp ban đầu, người ta đã tiến tới việc trồng lúa tẻ, hay nói cách khác, đã tẻ hoá nghề trồng lúa nước ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Dựa vào những thóc gạo cháy ở hang Xóm Trại, hai tác giả trên đã cho rằng nghề nông trồng lúa nước đã phát sinh trong văn hoá Hoà Bình. Tuy vậy, những hạt thóc gạo cháy này được tìm thấy trong một địa tầng xáo trộn nghiêm trọng, và cho tới nay, đây cũng là địa điểm duy nhất tìm được gạo cháy trong hàng trăm di tích Hoà Bình. Bộ công cụ đá của văn hoá này cũng chưa thể hiện rõ nét tính chất nông cụ liên quan đến trồng trọt.
Gần đây, người ta đã tìm thấy hạt và quả của nhiều loài cây thuộc họ rau đậu và họ bầu bí, được coi là đã thuần dưỡng trong một số di chỉ văn hoá Hoà Bình. Vì vậy đã có một nền nông nghiệp sơ khai. Cuộc sống định cư tương đối đã tạo nên tiền đề thúc đẩy cho sự nảy sinh nghề trồng trọt. Tuy nhiên, vai trò của nó còn rất nhỏ bé so với các hoạt động truyền thống hái lượm và săn bắt (bắn). Cũng có những ý kiến khác về sự nảy sinh nghề trồng trọt, vì theo những phân tích di tích thực vật đã tìm thấy ở Việt Nam, Thái Lan... thì các chứng cứ về sự thuần dưỡng thực vật trong văn hoá Hoà Bình vẫn chưa tỏ ra đủ tin cậy
12. Thống kê bước đầu cho thấy trong một số di tích Hoà Bình có 50 loại bào tử phấn hoa khác nhau. Trong đó chưa thấy loại đã được con người thuần hoá, tuy vậy đã có sự khác biệt giữa thành phần phổ phấn hoa của văn hoá Hoà Bình và văn hoá Sơn Vi13.
Hoạt động hái lượm phát triển cùng với việc chiếm / ứng trường sinh thái đa dạng tuy vậy đã tạo điều kiện cho cư dân văn hoá Hoà Bình có được những tri thức ban đầu về trồng trọt. Theo một số học giả như các giáo sư Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng..., thì đây được coi là màn dạo đầu (prelude) của cuộc “Cách mạng đá mới”.
Trong những nơi ở của người Hoà Bình, sự tích tụ văn hoá thường rất dày, với nhiều tầng văn hoá. Trong các tầng văn hoá đó chủ yếu là vỏ các loài nhuyễn thể, tàn tích xương động vật, than tro, di cốt người và di vật đá. Trong nhiều di chỉ các nhà khoa học còn tìm được vết tích bếp lửa, mộ và di cốt người, dấu tích nghệ thuật...
Cư dân văn hoá Hoà Bình đã hoàn thiện kĩ thuật chế tác đá. Họ khai thác nguyên liệu tại chỗ như cuội sông suối. Tổ hợp công cụ đá cho thấy nét nổi bật của kỹ nghệ đồ đá ở đây là kỹ thuật ghè đẽo và tu chỉnh tinh tế nhằm tạo ra những công cụ hoàn chỉnh đã chiếm địa vị chủ đạo. Bên cạnh kỹ thuật truyền thống ghè bổ chặt, kỹ thuật mài đã xuất hiện tuy chưa phổ biến. Sự tồn tại của những công cụ mài lưỡi cũng đánh dấu một bước phát triển cao hơn của trình độ chế tác đá của người xưa. Bên cạnh chất liệu đá, thời kỳ này cư dân đã chế tác và sử dụng công cụ được làm từ xương, gỗ, sừng, tre...
Giáo sư khảo cổ học Hà Văn Tấn đã lưu ý một đặc điểm là dù sống ở các môi trường cảnh quan khác nhau, cư dân văn hoá Hoà Bình có bộ công cụ đá khá giống nhau. Tại Đông Nam Á lục địa, có một văn hoá Hoà Bình mang tính thống nhất với một số dạng địa phương. Tổ hợp công cụ đá văn hoá Hoà Bình phong phú và ổn định trong một số loại hình đặc trưng, đặc biệt là loại công cụ cuội. Tính đa dạng được thể hiện trong cơ cấu thức ăn, sự tuyển lựa nơi cư trú... Như vậy, vẫn cùng chung một khung cảnh sống, mà cách thu lượm sản vật thiên nhiên của người cổ đã thích nghi, ứng biến với từng điều kiện cụ thể của môi trường sinh thái. Nói một cách khoa học và theo kiểu sinh thái học nhân văn, thì cư dân cổ Hoà Bình có “Trị giá sinh thái” (Value écologique) cao - có khả năng thích ứng với nhiều loại môi trường tự nhiên.
Cư dân thời đại đá mới có một tri thức phong phú về tự nhiên, những hang động và những nơi cư trú khác của họ đều là những địa điểm thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất. điều này cho thấy con người thời bấy giờ đã biết thích nghi một cách hài hoà với tự nhiên.
Thời kỳ này cũng để lại những dấu vết của nghệ thuật như những hiện vật bằng xương có vết khắc hình cá, hình thú và những hình vẽ trên vách hang, những mảnh thổ hoàng, những đồ gốm trang trí hoa văn với những đồ án phức tạp hay tô màu... những hình thức nghệ thuật đầu tiên này mang tính ước lệ. Con người giai đoạn này học vẽ, học đếm, xây dựng các sự lý giải đầu tiên về thế giới và bản thân mình. Đây được coi là những bước đầu tiên trong sự hình thành con người văn hoá. Người Hoà Bình, theo GS. Hà Văn Tấn có lẽ đã có những biểu hiện về nhịp điệu, thể hiện bằng những nhóm vạch ba vạch một trên các hòn cuội tìm thấy trong hang động. Dù mới chỉ là giả thuyết về số đếm, cách tính ngày... những di vật tìm thấy cũng cho thấy một bước phát triển tư duy của người nguyên thuỷ. Tư duy về thời gian vũ trụ còn được thể hiện bằng những hoa văn, kí hiệu biểu thị mặt trời như hình tròn, hình chữ S... vẽ trên đồ gốm. Có thể bấy giờ đã bắt đầu hình thành một loại nông lịch sơ khai.
Quan niệm về cái chết, về đời sống khác sau chết khá đa dạng và phức tạp được thể hiện qua nhiều phương thức xử lý xác chết và táng thức khác nhau và cũng thể hiện tính khu biệt địa phương rõ nét.
I.4.5. Không gian phân bố và đặc điểm của những cộng đồng cư dân săn bắt / bắn - hái lượm và nông nghiệp sớm ở Đông Nam Á
Vào cuối giai đoạn đá mới, cư dân đã mở rộng không gian sinh tồn của mình. Cùng với việc chiếm lĩnh các bãi bồi lớn ven sông, các dải cát ven biển... là việc thay đổi về lối sống, về văn hoá. Sự kiện môi trường quan trọng nhất trong thời kỳ này là đợt biển tiến Holocene trung và quá trình hình thành các đồng bằng ven biển.
Phụ thuộc vào địa bàn phân bố, định hướng kinh tế và lối sống của các nhóm cư dân này mang tính chất địa phương rõ nét. Trong giai đoạn này nghề gốm bắt đầu phát triển, bên cạnh đó do sự quy định của điều kiện tự nhiên - sinh thái, nghề khai thác thuỷ hải sản chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống cư dân cổ. Một đặc điểm nữa là nghề trồng trọt đã được triển khai, nhất là ở giai đoạn muộn.
Giai đoạn cuối của thời đại đá mới được đánh dấu bằng sự thiết lập và tồn tại của nhiều văn hoá nhiều nhóm di tích ở tất cả các địa bàn, từ rừng núi, trung du đến vùng ven biển và hải đảo. Nhìn chung các di chỉ khảo cổ học giai đoạn này có diện tích rộng lớn, tầng văn hoá nhiều nơi dày và ổn định. đã xuất hiện các loại hình di tích khác nhau như cư trú, cư trú - xưởng chế tác, cư trú - mộ táng, mộ táng...
Đặc trưng văn hoá nổi bật của giai đoạn này là sự bắt đầu thực sự của cuộc “Cách mạng đá mới”, hay “Đá mới hoàn toàn”. Sự xuất hiện của những nơi định cư làm nông nghiệp và cư dân sống tập trung thành làng. Đó cũng là nguyên nhân hình thành tính địa phương của văn hoá. Sự khác biệt về lối sống và nếp sống ngày càng rõ rệt hơn. Cái chung, là một nền văn hoá sản xuất bắt đầu phát sinh và phát triển, với sự vượt trội của trồng trọt đa canh so với chăn nuôi.
Trồng trọt phát triển ở thời đá mới, thì đã có nét đặc thù của trồng nước và trồng khô, trồng hạt và trồng củ. Ở thung lũng, lúa nước phát sinh rồi phát triển hơn là khoai nước; ở ven biển cát dài, củ khoai phát triển nhiều hơn lúa. Và nương vườn trồng rau bầu và cây ăn quả nhiều hơn trong khi đồng ruộng trồng ngũ cốc nhiều Theo một số nhà khảo cổ học Việt Nam, với văn Hoà Bình và Bắc Sơn nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á (khoảng 10.000 năm cách đây) các nhóm cư dân sống ở chân núi, dải đất ven sông bên cạnh hái lượm và săn bắt đã bắt đầu có những tri thức đầu tiên về trồng trọt. Cho đến tận ngày nay kể cả ở vùng Hoà Bình, thực vật bao phủ vẫn gồm cả đậu, củ từ và khoai sọ / nước. Có một số chứng cứ không trực tiếp ở những lớp trên của hang Hoà Bình người ta tìm thấy rìu mài lưỡi được xem là liên quan đến hoạt động phát rừng. Những hiện vật lớn có hình dạng giống cuốc tìm được ở Xóm Trại có những vết sử dụng như làm đất. Ở Xóm Trại cũng đã thấy vết tích gạo. Theo phân tích của chuyên gia nông học Đào Thế Tuấn, lớp dưới là loại hạt dài, lớp trên cả hạt dài và tròn. Ông cho rằng có một quá trình tăng dần của thuần hoá lúa. Tuy vậy, địa tầng phía trên ở Xóm Trại bị xáo trộn giống như nhiều hang Hoà Bình khác nên những hạt gạo có mặt tại đây chưa thể được xác định niên đại một cách chắc chắn.
Những chứng cứ về nông nghiệp thời đại đá mới Việt Nam cho đến nay chỉ là những bằng chứng gián tiếp chứ không phải là vết lúa gạo (thậm chí cũng rất hiếm trong thời đại kim khí). Đó là gốm, cuốc đá, dao cắt, bàn đập vỏ cây, dọi xe chỉ, đá buộc gậy chọc lỗ...
Trên cơ sở tài liệu phát hiện được ở Thái Lan và Việt Nam trong điều kịên nghiên cứu hiện nay chúng ta có thể chấp nhận được giả thiết của Ho Pingti cho rằng Đông Á gió mùa cụ thể là Trung Hoa từ phía nam sông Dương Tử và Đông Nam Á lục địa và hải đảo một khu vực quanh năm khí hậu ấm nóng và rất giàu nguồn thực vật. Đông Á gió mùa này từ gốc thu lượm thực vật có thể là nơi phát nguồn của nghề làm vườn trồng cây ăn quả, củ… và vào giai đoạn cuối hệ sinh thái nông nghiệp đã bắt đầu đa dạng và loại hình nông cụ cũng đa dạng hoá tiếp theo đó, và đồ gốm nặn bằng tay càng đa dạng hoá hơn nữa, với đáy tròn, đáy nhọn hay là đáy phẳng cùng của loại miệng thích nghi...
Những điều kiện định cư lâu dài và sự phát triển của nông nghiệp sơ khai đã làm hình thành rõ nét tính địa phương của văn hoá trong những khu vực hẹp vào cuối thời đá mới (cách đây khoảng 5.000 năm). Bốn khu vực văn hoá hậu kỳ đá mới với những đặc trưng riêng về loại hình công cụ đá và kỹ thuật chế tác, trang trí đồ gốm đã được xác định một cách khái quát bao gồm: 1. Đông Nam Á lục địa (trừ bán đảo Malacca); 2. Đông Nam Trung Quốc - Đài Loan - Philippines (và có thể một số vùng phụ cận như Đông Bắc Việt Nam, miền Trung Celebes); 3. Mã Lai - tây Indonesia; 4. Miền đông Indonesia, một phần bắc Celebes (và vùng chịu ảnh hưởng của nó là Melanesia)
14.
Những văn hoá và địa điểm trung và hậu kỳ đá mới đáng chú ý ở Đông Nam Á đó là những văn hoá phân bố ở nội địa và ven biển Việt Nam như Cái Bèo, Hạ Long, Đa Bút, Thạch Lạc, Quỳnh Văn, Bàu Tró… ở Thái Lan có di chỉ Don Noi (Bo Ploi), văn hoá Ban Kao… cũng giống như ở Việt Nam, giữa các vùng khác nhau của Thái Lan cũng có tỉ lệ không đều của các loại hình rìu. Rìu có vai thường thấy ở Bắc và đông bắc Thái Lan, rìu không có vai phổ biến ở vùng Nam Thái Lan, đặc biệt trong văn hoá Ban Kao.
Theo Bellwood, sự xác định của thời đại đá mới muộn ở Đông Nam Á hải đảo dựa chủ yếu trên sự xuất hiện rộng rãi của gốm được trang trí (thường là văn in hay khắc vạch) ở một phần Phillipines và miền đông Indonesia sau năm 1500 BC. Giai đoạn này cũng bao gồm cả gốm Yuan-Shan (Trường Tân hay Ty Nam) của miền bắc và miền đông Đài Loan. Mộ chum có thể phát triển ở Phillipines và Sarawak từ khoảng năm 1.000 BC trở đi và giai đoạn này trên thực tế đã đạt tới giai đoạn kim khí sớm với đồng đỏ, đồng thau, sắt, hạt chuỗi thuỷ tinh, và sự phổ biến rộng khắp của mộ chum vào cuối Thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Những văn hoá đá mới muộn điển hình: Văn hoá Lapita ở miền Đông Oceania, Văn hoá đá mới ở Hang Niah miền tây Indonesia, Văn hoá đá mới Ban Kao ở Nam Thái Lan và Malaysia.
Thời kỳ này cũng xuất hiện những tín ngưỡng nguyên thuỷ. Là cư dân nông nghiệp nên mưa, gío và đặc biệt là mặt trời đã trở thành một trong những thần linh quan trọng đối với con người.
Về loại hình công xã thời hậu kỳ Đá mới giới nghiên cứu đều thống nhất cho rằng đó là loại hình công xã thị tộc phát triển. Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể trên con đường phát triển song trong cái thế giới hoàn toàn gỗ đá ấy, trình độ kinh tế-xã hội dù có được nâng dần lên nhưng thật chưa có chuyển biến căn bản. Xã hội đến đây vẫn hoàn toàn là xã hội nguyên thuỷ.
7 Hà Văn Tấn: Khảo cổ học Đông Nam Á - Những phát hiện đáng quan tâm; Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành khảo cổ học. H., 1996, tr. 2.
8 Hà Văn Tấn: Theo dấu những văn hóa cổ, Nxb KHXH, H., 1997, tr. 121.
9 Hà Văn Tấn: Khảo cổ học Đông Nam Á - Những phát hiện đáng quan tâm, Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Khảo cổ học, H., 1996, tr. 4.
10 Viện Đông Nam Á: Về khảo cổ học Tiền sử Đông Nam Á, H., 1983, tr. 70.
11 Hà Văn Tấn: Theo dấu những văn hoá cổ, Nxb KHXH, H., 1997, tr. 287, 290.
12 Hà Văn Tấn (Cb.): Khảo cổ học Việt Nam, tập II; Thời đại kim khí, Nxb KHXH, H., 1998, tr.161.
13 Hà Văn Tấn: Theo dấu những văn hoá cổ, Nxb KHXH, H., 1997, tr. 277.
14 Viện Đông Nam Á: Về khảo cổ học Tiền sử Đông Nam Á, H., 1983, tr. 65.
7 Hà Văn Tấn: Khảo cổ học Đông Nam Á - Những phát hiện đáng quan tâm; Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành khảo cổ học. H., 1996, tr. 2.
8 Hà Văn Tấn: Theo dấu những văn hóa cổ, Nxb KHXH, H., 1997, tr. 121.
9 Hà Văn Tấn: Khảo cổ học Đông Nam Á - Những phát hiện đáng quan tâm, Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Khảo cổ học, H., 1996, tr. 4.
10 Viện Đông Nam Á: Về khảo cổ học Tiền sử Đông Nam Á, H., 1983, tr. 70.
11 Hà Văn Tấn: Theo dấu những văn hoá cổ, Nxb KHXH, H., 1997, tr. 287, 290.
12 Hà Văn Tấn (Cb.): Khảo cổ học Việt Nam, tập II; Thời đại kim khí, Nxb KHXH, H., 1998, tr.161.
13 Hà Văn Tấn: Theo dấu những văn hoá cổ, Nxb KHXH, H., 1997, tr. 277.
14 Viện Đông Nam Á: Về khảo cổ học Tiền sử Đông Nam Á, H., 1983, tr. 65.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét