Thứ Ba, ngày 18 tháng 8 năm 2015

Toạ đàm Khoa học "Còn là TINH ANH", kỷ niệm 10 năm ngày mất của GS. Trần Quốc Vượng 17.8.2015 tại Trường ĐHKHXH & NV Hà Nội

Lời TẠM KẾT 

Năm nay, tròn 10 năm Thầy về cõi khác phiêu du khảo cổ văn hoá, lịch sử, trên dương gian những tác phẩm, ý tưởng, câu chữ (và cả chuyển ngữ những thuật ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp...) của Thầy vẫn tiếp tục được tái bản, được tìm đọc, được trích dẫn (và sử dụng mà không trích dẫn) trong nhiều lĩnh vực ngôn ngữ, lịch sử, văn hoá, khảo cổ, tôn giáo...

Những tác phẩm, bài viết của Thầy mà trong đó, quan trọng nhất là ý tưởng khoa học khai mở, thách thức, đôi lúc đối nghịch (với những điều đã mặc định trong văn liệu, giáo khoa, giáo trình ...) Những bài viết, kể cả bài viết theo đơn đặt hàng, bài nói chuyện theo chủ đề, bài viết báo Tết... không bao giờ theo lối mòn, bao giờ cũng có những vấn đề phải thảo luận, mở ra bàn thảo, những kết luận mở. Ở khía cạnh nào đó Thầy làm chúng ta liên tưởng tới người nhạc sĩ tài hoa, đôi lúc phải/cần viết bài hát theo đặt hàng nhưng độc đáo, đặc sắc và luôn hay về giai điệu, ca từ, sống được với thời gian, tài năng không bị khuôn chế bởi hoàn cảnh, điều kiện chủ quan/khách quan.
Một Toạ đàm Khoa học “Còn là TINH ANH” nhằm mục đích tổng kết, đánh giá, tìm hiểu sức sống, sức lan toả của di sản Thầy Trần Quốc Vượng trong đào tạo và nghiên cứu các vấn đề xã hội nhân văn Xưa và Nay.

Có bắt tay vào mới biết Di sản Học thuật Thầy Trần Quốc Vượng đa ngành, đa chiều, học trò khắp mọi miền đất nước và không chỉ ở Việt Nam. Có những học trò lâu năm, có những học trò trực tiếp nhưng không ít người chỉ một lần nghe Thầy, có người chỉ đọc Thầy... dù bất cứ theo cách nào thì học trò của Thầy đúng theo nghĩa “một chữ là thầy, nửa chữ là thầy”, ý tưởng và phong cách của Thầy theo học trò toả đi muôn phương.
Di sản học thuật và Di sản cuộc đời Trần Quốc Vượng nói như một số người khó mà nói hết, khó mà đánh giá hết tầm vóc và vị trí, vì đa ngành, đa lĩnh vực – Ý tưởng khai phá/độc đáo/mở/ dự báo/thách thức...

Di sản Trần Quốc Vượng
1.   Khởi đầu những môn học/những ngành học mới
Cơ sở Khảo cổ học
Cơ sở Văn hoá Việt Nam
Lịch sử Văn hoá Việt Nam
Nghiên cứu Liên Văn hoá Lịch sử
Du lịch học...
Khu vực học: Hà Nội học, Hội An học, Huế học...

Trong tất cả những ngành, những môn học trên điểm mấu chốt là mối tương quan chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn, như cách nói bây giờ là khoa học ứng dụng, liên ngành thực sự, nhuần nhuyễn, góc nhìn đa diện, khoa học khách quan tới mức có thể, lịch sử, văn hoá... nhìn từ khía cạnh cá nhân, đời thường, dân gian, phi chính thống... bên cạnh quan phương, khía cạnh phi quan phương được Thầy coi là yếu tố quan trọng để nghiên cứu và đào tạo khoa học xã hội nhân văn ở Việt Nam.

2.   Học thuật

Những bài viết gửi đến Toạ đàm được chia thành nhiều chủ đề, nhưng những bài viết, bài nghiên cứu của Thầy trên thực tế khó tách bạch rạch ròi giữa các lĩnh vực, lịch sử chuyển tải địa lý, địa lý quyện vào lịch sử, văn hoá kết nối địa lý, lịch sử... Những nghiên cứu của Thầy phản ánh một cách sắc nét quan điểm về một thời kỳ học thuật Đa chiều và kết Mạng, ở nhiều góc độ Thầy đã thực sự đối thoại với giới nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn khu vực và thế giới.
Khảo cổ: đặc trưng hệ sinh thái của mỗi văn hoá khảo cổ Hang động thung lũng Hoà Bình “Sáng ra bờ suối, tối vào hang”, “Cồn Bàu văn hoá Sa Huỳnh/tiền Sa Huỳnh Miền Trung Việt Nam gió Lào cát trắng, Giồng Bưng miền đất của những dòng sông Đồng Nai Vàm Cỏ Cửu Long “Đi trước về sau”, rồi những khái quát về văn hoá Châu thổ, Giao thuỷ (nước lợ), đứng trước Biển, Dừng trước Biển, Hướng Biển, văn hoá Cảng thị, Đô thị ngã ba sông, đô thị cửa sông ven biển, Mô hình cấu trúc tiểu quốc/mandala Chămpa dọc sông..., những chuyên ngành khảo cổ học áp dụng lý thuyết và phương pháp của Khảo cổ học Mới...

Văn hoá: Mô hình tam giác tính của một môi trường văn hoá từ quan hệ qua lại Con người Tự nhiên Xã hội; Sơ đồ tứ giác nước của Thăng Long “Nhị Hà Quanh Bắc sang Đông, Kim Ngưu Tô Lịch là sông bên này”; Sơ đồ DIỄN TRÌNH lịch sử văn hoá Việt Nam; Quy hoạch những vùng địa văn hoá từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông cho đến tinh thần Hỗn dung Văn hoá, Hỗn dung tín ngưỡng Tôn giáo; Vai trò vị thế của trí thức Nho giáo với tất cả những trăn trở, ẩn ức, tính hai mặt của văn hoá và tính cách Việt Nam. Triết lý lưỡng phân, lưỡng hợp: ba hằng số Nông dân-Nông thôn-Nông nghiệp... Những lưu ý đánh giá khách quan và công bằng dựa trên dữ liệu điều tra khảo sát về sự tham góp của những tộc người khác (bên cạnh người Kinh (Việt) vào diễn trình lịch sử văn hoá Việt Nam, những cảnh báo về “Kinh già hoá Thổ/Thổ già hoá Kinh” – đánh mất bản sắc văn hoá tộc người trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá...

Lịch sử: Ba dòng chảy/ba xu hướng văn hoá lịch sử chính trong thời Bắc thuộc và CHỐNG Bắc thuộc; Đánh giá lại vị trí và vai trò của nhiều nhân vật lịch sử, giai đoạn lịch sử dựa trên những sử liệu và quan điểm khoa học khách quan Những bài học từ hiện tại đưa về quá khứ, từ quá khứ soi tới tương lai... những đánh giá lại thời đại, nhân vật khi phải đặt từng sự việc/sự kiện và con người trong từng bối cảnh, điều kiện xã hội, tự nhiên cụ thể, những quan điểm của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhuần nhuyễn, những lý thuyết, phương pháp nghiên cứu hiện đại...
.........

Một TRƯỜNG PHÁI TRẦN QUỐC VƯỢNG cả trên hai phương diện Điền dã và Lý thuyết thực sự đang hiện hữu dù còn chưa đủ mạnh như Thầy Trò mong ước và sẽ cần rất nhiều cố gắng, nỗ lực.
         
3.   Thái độ với Khoa học
“Cái gì của Xeda trả lại cho Xeda”, câu chuyện nghiên cứu thực địa/sử liệu những ông vua lớn trong lịch sử Việt Nam như Lê Thánh Tông, Gia Long... về Thời Mạc, về nhà Nguyễn, nhà Tây Sơn, thực địa văn hoá làng, thân phận của những bậc trí thức Việt Nam xưa - những nhà Nho, lấy cái Xưa suy cái Nay và lấy cái Nay soi cái Xưa ...SỰ TRUNG THỰC – ĐẠO KHOA HỌC TRẦN QUỐC VƯỢNG!

4.   Một Phong cách Trần Quốc Vượng
Khó có thể định hình thật chính xác như Thầy lúc sinh thời thường gật gù mọi thứ mơ hồ, mọi ranh giới mơ hồ hơn ta tưởng...
Phong cách pha trộn giữa phong trần với trầm ưu/sâu sắc, ẩn sâu bên trong là sự uyên bác ít ai bì kịp, đi và đọc với Thầy cần như khí trời hàng ngày hít thở. Một thuật ngữ đưa ra trong nghiên cứu là kết quả của quá trình nghiền ngẫm “Diễn trình lịch sử văn hoá “ mà không phải “Tiến trình”, “Thuỷ hệ” mỗi vùng miền vẫn là thuỷ hệ nhưng khác nhau căn bản là ở cái “Thức” (Mode)... Trên đường điền dã chỉ một dòng chữ trong tấm bia thôi cũng đủ để Thầy đang uống dở cốc bia để đó mà tra cứu, hỏi han, chưa hiểu chưa tìm được thì lũ học trò xung quanh cứ liệu chừng mà khi sáng ra rồi thì “các con ơi khóc lên đi...” và bia cứ thế mà rót tràn.
Một tấm gương học tập suốt đời: Học mọi lúc, mọi nơi, “đi đâu cũng hỏi đến ba, bốn lần”, học Ta, học Tây, học Thầy, học bạn và học học trò, học dân...
Một phong cách truyền tải tri thức cho thế hệ tương lai ở đại học, một triết lý đại học hiện đại, cập nhật – Tôn trọng người học, gợi mở và hướng người học tới tư duy độc lập, phản biện “Con hơn cha là nhà có phúc, Trò hơn Thầy đức nước càng dầy”. Và không chỉ truyền tải tri thức, truyền tải triết lý, Thầy là người truyền LỬA, TÌNH YÊU và ĐAM MÊ cho các thế hệ.
Một tinh thần khoa học dấn thân, đậm tinh thần dân chủ và tính mở “Trong khoa học không ai được quyền nói tiếng nói cuối cùng”! Dám NÓI SỰ THẬT, bảo vệ Sự Thật, đặt lại Những Vấn đề đã trở thành MẶC ĐỊNH, nêu VẤN ĐỀ từ những điều tưởng chừng rất vụn vặt, không điều gì trong quá khứ mà không quan trọng đối với người nghiên cứu!


Di sản của một người Thầy để lại chính là những học trò và cái cách mà họ sử dụng những tri thức của Thầy họ để truyền lại cho thế hệ tương lai.
Di sản của mỗi nhà khoa học để lại là công trình nghiên cứu, trong những công trình nghiên cứu cái đặc biệt quan trọng là ý tưởng khoa học, trong những ý tưởng khoa học điểm mấu chốt chính là mức độ gợi mở và dự báo – nền tảng cho những nghiên cứu kế tiếp.
Di sản của nhà giáo, nhà khảo cổ, nhà văn hoá... Trần Quốc Vượng nối dài từ quá khứ đến hiện tại và tới tương lai.
Cuộc toạ đàm ngày hôm nay tạm đóng nhưng như tinh thần của Thầy không khép lại, di sản học thuật, di sản cuộc đời Trần Quốc Vượng đã, đang và sẽ được mang theo trong mỗi học trò, học trò của học trò... một chút, một chút... di sản đó mỗi lúc được bồi đắp và toả đi.
Khi Thầy mất, những đồng nghiệp và học trò của Thầy ở khoa Sử....bànluận với nhau, Trần Quốc Vượng sống vĩ đại MỘT, khi mất vĩ đại MƯỜI.
Một học giả nước ngoài ,một người đã làm Luận án Tiến sĩ về Chămpa, TS. William Southworth đã nói về Trần Quốc Vượng khi Thầy mất rằng người ta (học giả nước ngoài) còn lâu mới đánh giá được hết giá trị của Trần Quốc Vượng.

Học trò chúng ta vẫn đang NỢ
1.   Quá nhiều vấn đề không thể/không dám nói, nghiên cứu, Thầy đưa ra cần tiếp tục mà rồi chưa được giải quyết rốt ráo, cả phương diện lý thuyết, cả thực tiễn, những cuộc khảo sát tổng hợp liên ngành càng ngày càng ít, những mối quan hệ tình cảm và học thuật giữa những người làm nghề KHXHNV với những ngành nghề KHTN KT vẫn có nhưng thật sự không gắn kết sâu đậm, thiếu nhiều những mối quan hệ, những bài viết như kiểu Trần Quốc Vượng Mai Đình Yên, Trần Quốc Vượng Đào Thế Tuấn, Trần Quốc Vượng Trần Từ...   Nhiều vấn đề lịch sử... vẫn còn đó cần những chứng cứ để ủng hộ kể cả không ủng hộ những ý tưởng của Thầy, và rất cần những tiếng nói tham gia thảo luận đánh giá về những vấn đề khoa học của Thầy Trần Quốc Vượng được Tạ Chí Đại Trường, Lê Minh Khai... đưa ra trong một số bài viết của họ.
2.   Vẫn còn những người trẻ nghiên cứu, đọc sách chưa đủ và thấu đáo, Ngoại ngữ chưa đủ độ, đủ trình... Những trăn trở về đào tạo XHNV ... vẫn còn đó... Đặc biệt về một triết lý Đại học Hiện đại.
3.   Những bài của Thầy nhiều CÂU HỎI hơn TRẢ LỜI, của chúng ta hình như NGƯỢC lại.

Nhưng, chúng ta vẫn có quyền hy vọng về sự tiếp nối và phát huy di sản học thuật, di sản cuộc đời Trần Quôc Vượng, nhiều bài tham gia Toạ đàm của cán bộ trẻ đã cho thấy, dù không phải là học trò trực hệ của Thầy, nhưng họ thật sự đã đọc Thầy một cách thấu đáo, trăn trở với những vấn đề Thầy đưa ra và bắt đầu dùng những hiểu biết của mình (mà họ học được từ bên trong và bên ngoài) để tiếp cận, tiếp thu và phản biện.


Để cuộc TOẠ ĐÀM hôm nay diễn ra suôn sẻ và thành công BTC chúng tôi xin được bày tỏ một số điều như sau theo đúng tinh thần của Thầy Trần Quốc Vượng “Làm ơn không nên nhớ, chịu ơn không nên quên”:
Ý tưởng về tưởng niệm 10 năm ngày mất của GS. TQV được TS. Nguyễn Hồng Kiên (Viện Khảo cổ học) đề đạt với Bộ môn Khảo cổ học, sau đó là sự nhất trí cao của BCN Khoa Lịch sử, của Trường, sự hỗ trợ nhiều mặt của nhiều thế hệ học trò gần xa, của  các cán bộ BM KCH, cán bộ Khoa Lịch sử, Bảo tàng Nhân học,  của một số cơ quan, viện nghiên cứu ... Học trò nhiều thế hệ xa gần, nổi danh, bình thường, tính cách, số phận, nhiều đường đời.... (như Thầy thường nói đời sống là thế “bá nhân, bá tánh” với tinh thần “khoan nhượng”, “khoan hoà” văn hoá) đều hướng về Thầy Trần Quốc Vượng.
Người đặt tên cho Toạ đàm chính là một học trò thế hệ con cháu, một TS trẻ, phó chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học, Đặng Hồng Sơn, dựa theo tên một bài viết của PGS.TSKH. Nguyễn Hải Kế khi Thầy Trần Quốc Vượng mất.
BTC đặc biệt cám ơn những cán bộ trẻ của Khoa Lịch sử, Bộ môn KCH, Bộ môn VHH và Bảo tàng Nhân học: TS. Đặng Hồng Sơn, Th.s. Đoàn Văn Luân, Th.s. Nguyễn Văn Anh, Th.s. Nguyễn Hoài Phương... và một số sinh viên Khoa Lịch sử.

BTC xin được thứ lỗi về những sai sót.

Lâm Thị Mỹ Dung 

Thứ Ba, ngày 03 tháng 3 năm 2015

Xã hội sao, lễ hội vậy!

 (PL)- Những thực hành nghi lễ xưa một cách ồ ạt, không chắt lọc, bất chấp những thay đổi thời thế như đang làm thời gian gần đây chỉ làm biến tướng, làm hỏng những giá trị văn hóa của cha ông!
Ví dụ điển hình của sự biến tướng, phá vỡ giá trị văn hóa, buôn thần bán thánh là sự xuyên tạc lịch sử và ý nghĩa của lễ hội, đó là việc dựng lễ Khai ấn đền Trần, Nam Định mà thực chất là bán ấn, đáng lo là hiện nay một số địa phương (đền Trần Thương, Hà Nam và đền Hưng Hà, Thái Bình) đang khuếch trương chuyện bán ấn.

Liên kết những điều trái nghịch
Bản chất của lễ hội nói chung, đặc biệt là những lễ hội cổ truyền đó là sự huyền bí, khoảnh khắc chưa từng thấy, bứt ra khỏi thời gian của cuộc sống thường nhật, phá vỡ nhịp điệu tuần hoàn lặp đi lặp lại.
Lễ hội luôn có hiệu năng điều hòa nghịch lý, liên kết những điều trái ngược: nghi thức - tự phát; truyền thống - phóng túng; tính tôn giáo - tính phàm tục; giàu - nghèo; cô đơn cá nhân - cố kết cộng đồng. Mục đích của lễ hội chính là sự tự khẳng định mình; duy trì sự cố kết cộng đồng, “cộng cảm”, “cộng mệnh”. Như một thiết chế, lễ hội bảo vệ, tái sinh và tái tạo sợi dây liên kết các thành viên của một xã hội. Nhưng lễ hội bao giờ cũng gồm phần lễ và hội. Lễ: Trang nghiêm, thiêng liêng (không gian thiêng và thời gian thiêng); hội: Vui, láo nháo, hỗn độn... Trong một số trường hợp một vài nghi lễ được chuyển hóa thành trò diễn, những trò diễn này dù chủ yếu chỉ để người đến lễ hội “xả xúp páp” thì vẫn phải đảm bảo tính chất nghi lễ thiêng liêng. Đa phần lễ hội cổ truyền nếu không nói là tất cả, dù được gọi bằng nhiều tên gọi thì đều có nguồn gốc nông nghiệp, chứa đựng nhiều lớp văn hóa khác nhau, cái mà chúng ta quan sát hiện nay thực ra là kết quả của một quá trình biến đổi, chắt lọc và cũng như nhiều sản phẩm văn hóa dân gian khác truyền lại bằng ký ức kể miệng, phần vỏ có thể vẫn còn nhưng phần lõi không hẳn còn để hình thức không phải lúc nào cũng gắn với nội dung.


Một số hình ảnh  "tranh cướp, mua" lễ vật cầu may trong lễ hội 
(Ảnh lấy trên mạng) 

Ngụy biện khoa học
Ở đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã lưu truyền câu “Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy/ Vui thì vui vậy chẳng tầy rã đám làng La”. Rã La - theo các tài liệu dân tộc học và văn hóa học thì trong đêm lúc “tắt đèn”, trai gái trong làng có thể mặc sức vuốt ve, ôm ấp hay có thể “đi xa” hơn nữa với nhau, vốn là một nghi thức liên quan đến tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp trong lễ hội làng La Khê Nam (làng La), hiện thuộc phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội) từ lâu đã không còn nữa do không phù hợp với đời sống hiện đại.
Trong lịch sử Việt Nam có những thời kỳ đứt gãy do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngắn thì vài chục năm, dài thì cả trăm năm dẫn đến những đứt gãy trong cách hiểu và cách thực hành văn hóa trong đó có cả lễ hội, những cách đánh giá hay nhận biết kiểu “các cụ truyền lại”, “ngày xưa các cụ không làm như thế này mà làm như thế kia”... khó có thể kiểm định bằng những luận cứ khoa học nghiên cứu văn hóa nhưng luôn là cái neo để vịn khi nói về biến đổi và duy trì di sản văn hóa. Những lễ hội cổ truyền mang tính địa vực và tộc người rất rõ ràng, dù trong quá trình đan xen văn hóa giữa các tộc người có sự thêm bớt, vay mượn của nhau trong tinh thần hỗn dung thì tính chất riêng, đặc biệt là tính đặc thù trong nghi lễ vẫn nổi trội “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”, nghi lễ ấy chỉ thiêng trong thời điểm ấy và không gian ấy, ra ngoài phạm vi, tính thiêng sẽ không còn. Nói như vậy để thấy khi nghi lễ của lễ hội làng vượt ra khỏi không gian làng sẽ chỉ còn hình thức và thiên hạ sẽ mặc sức mà đánh giá bản chất của nghi lễ theo cách hiểu của mình và những cách thức quản lý của chính quyền các cấp cũng như những biện hộ dưới cái ô khoa học của một số nhà nghiên cứu chỉ làm cho thực hành nghi lễ trong lễ hội ngày càng trở nên xô bồ, không còn chức năng giáo dục những giá trị chân, thiện, mỹ của văn hóa. Văn hóa biến đổi, văn hóa là quá trình chắt lọc những giá trị tiêu biểu qua nhiều thế hệ, văn hóa hợp thời. Văn hóa tôn trọng sự khác biệt nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thứ của quá khứ đều cần hay đều được thực hành trong hiện tại, việc bảo tồn và phát huy những giá trị của lễ hội cũng phải tuân theo sự hợp thời, quá khứ nâng đỡ hiện tại và tương lai chứ quá khứ không quấy phá hiện tại và tương lai.
Việc thực hành lễ hội xưa cũng phải tuân thủ luật pháp nay, những hành động dưới lốt nghi lễ như đánh người trong tranh cướp hoa tre ở lễ hội đền Gióng hay kiệu bay đâm vỡ kính ô tô ở lễ hội làng Xuân Đỉnh đã vi phạm pháp luật và không thể dùng thần thánh biện minh!

LÂM THỊ MỸ DUNG (Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội)

Thứ Bảy, ngày 13 tháng 12 năm 2014

Cảm hứng từ Sự nghiệp và Sứ mạng của bà Madeleine Colani

Tóm tắt
Madeleine Colani sinh năm 1866 tại Strasbourg, mất năm 1943 tại Hà Nội, Việt Nam, bà là nhà nữ địa chất học, cổ sinh vật học và khảo cổ học đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp hình thành và phát triển của ngành khoa học khảo cổ Việt Nam nói riêng và khảo cổ học Đông Dương nói chung.
Những nghiên cứu của bà, cả điền dã và trong phòng phủ rộng cả về không gian, thời gian và lĩnh vực, về thời gian, từ văn hoá Hoà Bình thời tiền sử, cách ngày nay khoảng 20.000 năm đến những vấn đề của văn hoá sơ sử, Sa Huỳnh, Cánh đồng chum; về không gian, từ miền núi phía bắc Việt Nam, dãy Trường Sơn Lào đến vùng cồn cát ven biển miền Trung Việt Nam. Mối quan tâm nghiên cứu của bà không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực khảo cổ mà còn lan sang những chủ đề dân tộc học so sánh, dân tộc học khảo cổ, khảo cổ học tôn giáo, khảo cổ học kỹ thuật. Bà đến với khảo cổ học khá muộn, nhưng trong khoảng hai chục năm (từ tuổi 50 đến tuổi 70) bà đã làm việc với một sức mạnh phi thường, đã phát hiện thêm 30 di chỉ hang động ở sơn khối Bắc Sơn và năm 1925, văn hoá Bắc Sơn, với công cụ tiêu biểu là rìu mài lưỡi đã được công bố và công nhận. Từ năm 1929 đến 1932, không gian điều tra khảo sát của bà là vùng núi đá vôi các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Quảng Bình... kết quả, một nền văn hoá thời đại đá sớm hơn so với văn hoá Bắc Sơn đã được phát hiện và tại Đại hội các nhà Tiền sử Viễn đông họp lần thứ nhất tại Hà Nội, tên gọi văn hoá Hoà Bình do Colani đề xuất đã được thông qua, có thể nói văn hoá Hoà Bình gắn liền với tên tuổi của nữ học giả Madeleine Colani.
Bài viết sẽ tập trung vào một số chủ đề sau:
  1. Những luận điểm của M.Colani về văn hoá Hoà Bình. Từ văn hoá Hoà Bình đến Phức hợp kỹ nghệ Hoà Bình.
  2. Văn hoá Sa Huỳnh từ nghiên cứu của Colani và các học giả Pháp đến những nghiên cứu của những nhà khảo cổ học Việt Nam giai đoạn hiện nay.
  3. Công trình của Colani về hệ thống thuỷ lợi dùng đá xếp ở Quảng Trị đến những nghiên cứu về Hệ thuỷ Champa.  

Bài Viết
Madeleine Colani sinh năm 1866 tại Strasbourg (Đông Bắc Pháp) trong một gia đình theo đạo Tin Lành. Bà có ba anh em, tên André, Jeanne, và Léonore, tất cả đều học hành cao (André và Jeanne là giáo sư ), theo gia phả tông chi, gia đình này không có hậu duệ.[1]
Bà mất năm 1943 tại Hà Nội
Công lao của bà đối với nghiên cứu tiền, sơ sử Việt Nam và Đông Nam Á thật là to lớn khó có thể chỉ khoanh lại trong một bài báo cáo, bài viết này chỉ tập trung vào một số đóng góp của M.Colani trong nghiên cứu tiền sơ sử Việt Nam.  

  1. Phát hiện định danh văn hoá Hoà Bình-Bắc Sơn, những luận điểm của M.Colani về văn hoá Hoà Bình. Từ văn hoá Hoà Bình đến Phức hợp kỹ nghệ Hoà Bình.
Trong mùa điền dã 1921-1925, khi cùng H. Mansuy phát hiện và định danh văn hoá Bắc Sơn trong sơn khối đá vôi Bắc Sơn, M.Colani đã nhận thấy những yếu tố cổ hơn Bắc Sơn, có thể sánh với thời hậu kỳ đá cũ châu Âu và cho rằng những đồ đá ấy có thể thuộc về một nền văn hoá sớm hơn văn hoá Bắc Sơn[2].
Và dự cảm của họ đã đúng!
Từ mùa hè năm 1926 bà bắt đầu những đợt khảo sát vùng núi đá vôi hữu ngạn sông Hồng, qua nhiều mùa điền dã (1926-1938), 38 hang động của một nền văn hoá cổ hơn văn hoá Bắc Sơn đã được M.Colani phát hiện, khai quật. Ví dụ chỉ trong mùa hè năm 1926 bà đã phát hiện và khai quật 12 địa điểm hang động và mái đá ở hai huyện Tân Lạc và Kim Bôi, mùa thu năm 1926 thêm 11 địa điểm ở huyện Lương Sơn[3] ….
Tại Hội nghị các nhà Tiền sử học Viễn Đông lần thứ nhất (tiền thân của  Đại hội IPPA sau này) tại Hà Nội năm 1932, M.Colani đã đề xuất thuật ngữ Văn hoá Hoà Bình, nội dung văn hoá Hoà Bình của bà bao gồm những vết tích văn hoá trong các hang động núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam có những đặc trưng chung là sự phong phú công cụ hình hạnh nhân, hình đĩa và rìu ngắn được ghè đẽo một cách tiết kiệm một mặt từ những hòn cuội dẹt, những công cụ kiểu này được các nhà khảo cổ gọi là công cụ kiểu Sumatra (Sumatralith).
Niên đại của văn hoá Hoà Bình cũng được M.Colani đưa ra dựa trên so sánh với hậu kỳ đá cũ châu Âu, Magdalenien ở Pháp và trải qua ba giai đoạn phát triển, với sự công nhận của Hội nghị, M.Colani được xem như là người khai sinh ra văn hoá Hoà Bình.
Đánh giá về công lao của M.Colani, tập thể tác giả cuốn chuyên khảo  “Văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam” đã viết: “Những phát hiện và nghiên cứu về văn hoá Hoà Bình của M.Colani thực sự đã có ảnh hưởng rất lớn trong giới học giả nghiên cứu về Đông Nam Á thời tiền sử, khối tư liệu văn hoá Hoà Bình gồm hiện vật và báo cáo khoa học do người Pháp để lại là những tài liệu vô cùng quan trọng không những để nghiên cứu thời tiền sử Việt Nam mà cả Đông Nam Á. Từ khối tư liệu văn hoá Hoà Bình còn lại có thể thấy sự cố gắng cùng sự đóng góp của nhà nữ khảo cổ M.Colani đã ở vào tuổi nghỉ hưu chỉ khoảng 12 tháng điền dã (từ năm 1926 đến đầu năm 1930) bà đã khai quật trên 50 hang động và mái đá trải dài suốt từ Hoà Bình đến Quảng Bình. Thật là một con số kỷ lục, đó là chưa tính đến những quãng đường đèo dốc, suối sâu của vùng sơn khối đá vôi để đến được với di tích”[4].

Từ khi phát hiện đến nay 1926-2014, nhận thức về văn hoá Hoà Bình của chúng ta đã có nhiều thay đổi, có những nhận thức cũ từng bị phủ nhận (năm 1932) như niên đại địa chất thời Cánh Tân của VHHB giờ lại được thừa nhận (hội nghị 60 năm phát hiện văn hoá Hoà Bình Hà Nội 1996) và hiện nay một chuỗi niên đại C14 và AMS của VHHB cho thấy, giai đoạn sớm của nền văn hoá này (cách đây khoảng 20.000 năm) thực sự tương đương với niên đại của thời kỳ Magdalenien (Pháp) mà M.Colani từng đề nghị.
Học giả Pháp đã phát hiện và khởi đầu nghiên cứu văn hoá Hoà Bình, người làm khảo cổ Việt Nam là những người đã làm rõ nội dung và tính chất của văn hoá này ở nhiều phương diện.
-      Có một văn hoá Hoà Bình (văn hoá Khảo cổ ở Việt Nam) hay Truyền thống Hoà Bình, Phức hệ kỹ thuật Hoà Bình ở Đông Nam Á, sau văn hoá Sơn Vi, nằm vắt qua thế Cánh Tân (Pleistocene) và Toàn Tân (Holocene)… trong sự chuyển tiếp từ thời đại đồ đá cũ sang thời đại đồ đá mới. Văn hoá Hoà Bình được nhìn nhận như một văn hoá đặc trưng trong sự phát triển của truyền thống công cụ cuội ở Việt Nam; có sự đồng quy văn hoá thời đại đá mới ở Đông Nam Á lục địa[5].
-      Cư dân sống chủ yếu trong các hang động núi đá vôi và cấu trúc địa hình cảnh quan địa lý của người Hoà Bình theo trật tự suối-, bãi bồi, hang, thầm cổ, đồi trung sinh hay miền trước núi và núi đá vôi Karst (với các hang động). Tiến hành khảo sát những dạng khác nhau của hẹ sinh thái hiện nay, GS. Trần Quốc Vượng đặc biệt đi sâu vào hệ sinh thái thung lũng chân núi đá vôi của người Mường và người Tày, một dạng sinh thái phồn tạp, có thể phục vụ cho việc săn bắt, thu lượm theo phổ rộng[6], dạng hệ sinh thái tương tự từng tồn tại trong giai đoạn văn hoá Hoà Bình. Ngoài ra, điểm cực nam của văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam là hang động núi đá vôi tỉnh Quảng Trị
-      Cư dân sinh sống dựa trên những phương thức khai thác môi trường tự nhiên khác nhau thu lượm và săn bắt (bắn), chưa xuất hiện nền kinh tế sản xuất và chưa có đồ gốm. Kỹ thuật chế tác công cụ đá Hoà Bình rất năng động bằng cách tiếp thu chọn lọc kỹ thuật truyền thống, phát triển và sáng tạo ra những yếu tố kỹ thuật mới và tiến bộ. Sự bảo lưu lâu dài của kỹ thuật chế tác đá kiểu Hoà Bình và vai trò ít thay đổi của đồ đá trong đời sống cư dân thời tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á chủ yếu do cách thức khai thác môi trường tự nhiên không đòi hỏi những cải cách mang tính đột biến về kỹ thuật/kỹ nghệ.
-      Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn vừa có mối quan hệ nguồn gốc vừa có tính giai đoạn sớm muộn và tính khác biệt địa hình sinh thái.
-      Văn hoá Hoà Bình có tầm phủ rộng đối với những văn hoá cùng thời và sau đó.

  1. Văn hoá Sa Huỳnh: Từ M. Colani đến các nhà khảo cổ học Việt Nam
Tên gọi văn hoá Sa Huỳnh được đặt theo tên một cánh đồng muối Sa Huỳnh, nằm ở cửa sông Trà Bồng, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1909, A. Vinet một học giả người Pháp đã thông báo ngắn về việc phát hiện một kho mộ chum khoảng 200 chiếc ở đây. Trong những thập kỷ 20 và 30 của thế kỷ XX, Trường Viễn Đông bác cổ Pháp đã uỷ quyền cho Labarre, M. Colani và Olov Janse tiến hành khai quật ở Sa Huỳnh và điều tra nghiên cứu ở các vùng phụ cận và xa hơn. Năm 1923, Labarre khai quật 240 chum mộ ở Long Thạnh, Thạnh Đức và Phú Khương. Năm 1934, M. Colani đào Long Thạnh và phát hiện 55 chum, đào Phú Khương, phát lộ 187 chum. Năm 1935, bà phát hiện dấu tích mộ chum Sa Huỳnh ở Quảng Bình, năm 1937, M. Colani là người đầu tiên đặt tên cho khu di tích mộ chum là văn hóa Sa Huỳnh.
Tiếp đó, vào những thập kỷ 50, 60 và nửa đầu thập kỷ 70 là những phát hiện và nghiên cứu của các học giả như L. Malleret, E. Saurin, H. Fontaine, Hoàng Thị Thân…. Qua những tư liệu thu thập được, một số nét cơ bản của văn hoá Sa Huỳnh đã được phác hoạ. Đó là táng thức mộ chum với các đồ tuỳ táng như gốm, sắt, trang sức bằng thuỷ tinh, mã não…. Một số vấn đề khác của văn hoá này cũng đã được bàn đến như mối quan hệ khu vực, chủ nhân…. Do nhiều nguyên nhân, những di tích cư trú chưa được tìm thấy, vì vậy các học giả nước ngoài cho rằng, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh là những cư dân đi từ ngoài biển vào, những mộ chum chôn trong đất liền là nơi họ gửi gắm những linh hồn, đánh dấu những vùng đất mà họ đến[7].
Trong giai đoạn này việc phát hiện nghiên cứu, xác định và định danh nền văn hóa Sa Huỳnh thuộc về những học giả Pháp. mặc dù còn có không ít ý kiến phê phán phương pháp khai quật của các học giả Pháp cũng như quan điểm truyền bá luận của họ trong diễn giải di tích, di vật và tìm hiểu chủ nhân, nguồn gốc của văn hóa Sa Huỳnh, nhưng tư liệu khai quật các địa điểm này cùng với những nghiên cứu so sánh thực sự đã làm sáng tỏ đáng kể một số khía cạnh của văn hóa Sa Huỳnh như niên đại, táng thức, loại hình hiện vật... đặc biệt một nền văn hoá khảo cổ mới được xác lập và được trình ra với học giả thế giới.
Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, kế tiếp những nghiên cứu của học giả phương Tây, đặc biệt là của học giả Pháp những nhà khảo cổ học Việt Nam đã đạt được nhiều hiểu biết mới, nhiều kiến giải mới về văn hoá Sa Huỳnh trong bối cảnh Đông Nam Á[8].
-      Tính chất đa nguồn gốc của văn hoá Sa Huỳnh và một trong những nguồn đó là những dòng chảy văn hoá Tiền Sa Huỳnh Xóm Cồn/Long Thạnh/Bình Châu. Những yếu tố nội sinh kết hợp với ngoại sinh bằng những cách thức khác nhau từ trao đổi hàng hoá, ý tưởng đến chuyển động dân cư...
-      Bức tranh đa dạng của văn hoá Sa Huỳnh theo cả hai chiều không gian và thời gian. Sự thích ứng với môi trường tự nhiên đã tạo ra những dạng văn hoá Sa Huỳnh Bắc, Nam, Núi, Đồng bằng, Duyên hải, Đảo...
-      Phương thức mưu sinh bao gồm cả khai thác môi trường tự nhiên và sản xuất, trong mưu sinh yếu tố rừng cũng quan trọng ngang bằng yếu tố biển. Thương mại đường xa đóng vai trò như chất xúc tác phát triển tính phức hợp xã hội, điều kiện cần cho sự hình thành những kiểu nhà nước sớm.  
-      Bản chất của quá trình hội nhập văn hoá sớm thường được gọi một cách chưa hẳn chính xác Hán/Hoa hoá, Ấn hoá trong thời sơ sử và tác động lâu dài của những quá trình này.

  1. Hệ thống khai thác và sử dụng nước dùng đá xếp ở Quảng Trị từ những công trình nghiên cứu của M.Colani đến nghiên cứu và khảo sát từ những năm 1990 đến nay.
Ở những vùng đồi đất đỏ bazan ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ tỉnh Quảng Trị có những hệ thống khai thác thu gom và chia bậc sử dụng nước ngầm xếp bằng đá rất độc đáo và thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Công đầu trong nghiên cứu phương thức khai thác và sử dụng nước độc đáo này thuộc về M.Colani[9]. Bà đã Khảo sát, khảo tả và phân loại các công trình khai thác nước. Bà đã tập trung khảo sát trên địa bàn khá rộng, gồm các vùng đất thuộc Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ từ năm 1912 đến 1940. Nhờ những nghiên cứu công phu, tỷ mỷ của bà mà ngày nay chúng ta có các sơ đồ, số đo, bản vẽ, ảnh chụp … của những công trình khai thác nước này. Đến hôm nay những nghiên cứu ấy vẫn còn giá trị. Vì do không có điều kiện, hầu như tất cả các tác giả khác đều dùng chúng như tư liệu gốc. Mặt khác, một số công trình đã bị phá huỷ, cải tạo hay bỏ đi không dùng nữa[10] M. Colani đã dùng thuật ngữ “Système” – (Hệ thống) để chỉ các công trình khai thác nước gồm nhiều thành phần khác nhau, phân bố kiểu bậc thang. Một “Système” hoàn chỉnh nhất – (hệ thống Kình) theo bà bao gồm:
- Trên cùng là một mặt bằng khô ráo.
- Phía dưới là vũng  thượng (basin supérieur) nhận nước từ trên cao xuống qua các vòi bằng đá hay gỗ.
- Nước từ trên vũng thượng chảy vào vũng chứa (vũng nước sử dụng) – (basin d’alimentation). Đây là nơi lấy nước ăn, tắm giặt.
- Nước từ vũng chứa chảy xuống vũng tháo rộng, bờ thấp, nước đọng. Trâu bò thường uống nước và đằm ở đó.
- Nước từ các vũng trên theo trọng lực chảy qua các lạch, dòng chảy (ruisseau, defluant) tưới cho các ruộng lúa, vườn tược ở xung quanh.
Các mặt bằng ở trên cao, các bể, lạch và dòng chảy đều được kè đá với chủ đích định hướng và giữ nước dùng cho sinh hoạt và tưới tiêu. Ở một số hệ thống, còn có các đường kè đá thành bậc dẫn lối từ làng xuống.

Bà đã dùng thuật ngữ “puits” – (giếng) chỉ những hố hình tròn hay vuông lấy và chứa nước ngầm, thành giếng được kè đá. Theo M. Colani “puits” đơn giản hơn “système” song không phải là giếng đơn mà là giếng đôi kế tiếp nhau, nằm trên mặt bằng dốc, theo nguyên tắc bình thông nhau có lạch hay dòng chảy dẫn nước ra ruộng. “Système” và “puits” được bà phân loại theo số lượng của vòi chảy hay không vòi chảy[11] .
Tháng 7- 1937, M. Colaini đã đào một số hố thám sát ở các mặt bằng trên cao, mặt bằng quanh một số vũng, trên các con đường bậc thang dẫn xuống các giếng Đào, Kình, Đìa, Ông. Độ sâu các hố từ -0,4m tới -1,25m, tính từ bề mặt hố đào. Giếng Kình: 4 hố; giếng Đào: 5 hố; giếng Đìa: 2 hố; giếng Ông: 4 hố.
Hiện vật thu được qua các hố trên ít, đơn giản và khá đồng nhất, chủ yếu là mảnh gốm, sành vỡ. Trong báo cáo kết quả M. Colani đề cập tới những mảnh gốm cổ, gốm hiện đại song không cho biết cụ thể. Tại một hố giám sát ở giếng Kình, bà tìm thấy trên bề mặt một số đồng tiền niên hiệu Gia Long, Tự Đức, Thiệu Trị; ở độ sâu -0,60m tìm thấy một mảnh tiền đồng khác không rõ niên hiệu. Trong hố thám sát 5 của giếng Đào, tìm thấy một vật hình nón trụ bằng đá, đáy là khối hình chữ nhật mà theo M. Colani là dùng để dẫn nước vào ruộng. Kết quả từ hố đào số 5 tại giếng Kình phần nào cho biết những người xây dựng nó đã dùng các khối đá chèn nền, củng cố bờ tường[12].
Bà cũng đã đưa ra ý kiến của mình về nguồn gốc, chủ nhân và niên đại của
Dùng các dấu vết tín ngưỡng (tục thờ đá, thờ cây, thuật phong thuỷ, mồ mả cũ), đối sánh cách khai thác nước vùng này với các phương thức thuỷ lợi của người Việt và người Chăm, dẫn các chứng cớ dân tộc học của các tập đoàn thiểu số vùng Assam ở đông bắc Ấn và Indonexia, M. Colani kết luận: Hệ thống thuỷ lợi Quảng Trị “là thuộc về một dân tộc lạ (ngoại lai), chắc đã để lại hậu duệ ở Quảng Trị, nhưng là một số rất nhỏ, đã bị chìm vào trong tổng thể”[13].
Theo M. Colani, cả ba nơi Assam, Indonexia và một phần Đông Dương vào một lúc nào đó thuộc vùng khai thác của tập đoàn nhân chủng giống nhau[14]. Tuy nhiên, chính bà cũng không biết rõ hướng thiên di của các tộc người đó, “Từ Đông Dương tới Indonexia hay ngược lại”[15]. M. Colani không nói rõ thời điểm cụ thể, theo bà có thể là sau nền văn minh cự thạch, vào những thế kỷ sau công nguyên[16]những hệ thống này đã được xây dựng và vận hành.
Theo dấu vết của bà chúng tôi đã đi khảo sát lại khu vực này vào đầu những năm 90. Chúng tôi đã đi khảo sát được 21 địa điểm, nơi có các công trình khai thác nước tại các làng xung quanh quanh núi Cồn Tiên- xã Gio Linh, Gio An, khu vực các làng Liêm Công Đông, Liêm Công Tây – xã Vĩnh Thành, Vĩnh Linh; xã Cam Thành, huyện Cam Lộ và khu vực cồn cát thuộc xã Gio Mỹ, Gio Linh và kế thừa những kết quả điền dã, lý thuyết của M.Colani, chúng tôi đã có những bổ sung về chủ nhân, niên đại của những công trình này.[17]
Các hệ thống bể, giếng thường phân bố ở vùng sườn hay chân đồi đất đỏ. Khu vực xung quanh không có sông, suối, ao, hồ,… Toàn bộ trữ lượng nước vùng Cồn Tiên nằm ngầm dưới lớp đất đỏ[18]. Trong khi đó, hệ thống giếng ở Vĩnh Linh lại bám theo một dòng chảy mà người Pháp gọi là sông Liêm Công Tây.
Những hệ thống bể, giếng trước hết cung cấp nước phục vụ đời sống hàng ngày (đáng chú ý là có những quy định cụ thể, nghiêm ngặt: lắng bể, lấy nước sinh hoạt, bể chứa nước tắm giạt, bể súc vật uống nước…). Nước dư thừa chảy qua hệ thống kênh rãnh tưới cho các ruộng lúa, vườn rau. Chính đặc điểm đa chức năng này tạo nên tính khu biệt và độc đáo của chúng. Thông thường những kênh rãnh từ các hệ thống dẫn nước chảy thẳng ra các ruộng (ruộng bậc thang, ruộng trũng, phẳng quanh khu vực. Song, trong một số trường hợp, nước của vài hệ thống chảy dồn vào một khe, khe này có tác dụng điều hóa nước tưới. Ví dụ: Khe Cừ nhận nước của các “giếng” Ông, Bà, Voi, Cái, Diềm. Ở một vài chỗ còn có các ao hồ với những đập bằng đất, đá, cây tập trung lưu lượng nước như hồ Sen, ao Sara… Nước từ những giếng quanh vùng Cồn Tiên còn chảy tưới cho một số ruộng ở vùng cồn cát ven biển[19].
Dùng cách so sánh tài liệu khảo cổ với tài liệu dân tộc học và tiếp cận theo thuyết hệ thống-chức năng, việc khai thác và sử dụng nước phụ thuộc vào thói quen, lối sống, lối canh tác, cách thức tổ chức xã hội và tác động của tín ngưỡng, tôn giáo... chúng tôi trong những nghiên cứu của mình đã làm rõ thêm ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng chủ nhân đầu tiên của những công trình ở Gio Linhvà những công trình theo mô thức tương tự ở Vĩnh Linh, Cam Lộ... (Quảng Trị) và nhiều nơi khác ở miền Trung Việt Namlà cư dân vương quốc Champa. So sánh với những giếng của người Chăm hiện nay ở những vùng Ninh, Bình Thuận, đặc biệt là “Giếng cổ Thành Tín”[20] chúng ta có thể so sánh với những công trình đã khảo sát ở Quảng Trị và thấy ý kiến về chủ nhân ban đầu của những công trình đó là cư dân Champa có thêm nhiều tài liệu so sánh dân tộc học ủng hộ.


          Người Việt có câu “Vạn sử khởi đầu nan”, khởi đầu của M.Colani đã đang và sẽ được những lớp lớp người làm khảo cổ Việt Nam tiếp bước.









Tài liệu tham khảo
COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue, 29
COLANI.M. 1937. Anciennes irrigations et bassins dans le DoLinh (Quang Tri). Cahier de l’ Ecole Francaise d, Extreme Orient. TX; COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam, Bulletin des Anis du Vieux de Hue.
H.Mansuy, M.Colani 1925, Néolithique inférieur (Bacsonien) et néolithique supérieur dans the Haut-Tonkin (dernières researches). Avec la description des cranes du gisement de Lang Cuom – MSGI. Vol.12, No 3.
Trần Quốc Vượng 1986, Văn hoá Hoà Bình – Văn hoá thung lũng, Khảo cổ học, số 2, 1-6
Hoàng Xuân Chinh (chủ biên) 1989, Văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam, Hà Nội
Lâm Mỹ Dung 1993, Các công trình khai thác nước dùng đá xếp ở Quảng Trị, Khảo cổ họcsố 2, 67-79
Lâm Thị Mỹ Dung 2009, Văn hoá Sa Huỳnh từ những phát hiện và nghiên cứu mới   Bài trình bày trong Hội thảo KHQT "100 năm phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Sa Huỳnh" tháng 7.2009 ở Quảng Ngãi. Võ Quý và Bùi Vinh 2004, Khảo cổ học thời đại đá Việt Nam thành tựu và các giai đoạn phát triển, Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội
Nguyễn Quang Trọng, Madeleine Colani (1866-1943) nhà khảo cổ đã đi tìm tiểu sử Việt Nam


 Chú thích

[1]  Nguyễn Quang Trọng, Madeleine Colani (1866-1943) nhà khảo cổ đã đi tìm tiểu sử Việt Nam, http://vietsciences.free.fr/biographie/artists/writers/coloni_madeleine.htm


[2] H.Mansuy, M.Colani 1925, Néolithique inférieur (Bacsonien) et néolithique supérieur dans the Haut-Tonkin (dernières researches). Avec la description des cranes du gisement de Lang Cuom – MSGI. Vol.12, No 3.

[3] Hoàng Xuân Chinh (chủ biên) 1989, Văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam, Hà Nội: bảng 1, tr.37

[4] Hoàng Xuân Chinh (chủ biên) 1989, Văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam, Hà Nội, tr.14

[5] Võ Quý và Bùi Vinh 2004, Khảo cổ học thời đại đá Việt Nam thành tựu và các giai đoạn phát triển, Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội: 45-51.

[6] Trần Quốc Vượng 1986, Văn hoá Hoà Bình – Văn hoá thung lũng, Khảo cổ học, số 2:1-6.

[7] Mặc dù chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh không chỉ là cư dân sống trên biển như nhận định của các học giả Pháp Những nghiên cứu về nơi cư trú của người Sa Huỳnh những năm gần đây cùng với việc phân tích tính chất của bộ công cụ sắt, đồng, đá và phương thức mưu sinh kết hợp giữa khai thác rừng, đồng bằng, sông, biển kết hợp buôn bán... cho thấy tính chất đất liền của người Sa Huỳnh. Nhưng ý kiến của học giả Pháp vẫn có giá trị trong việc đánh giá vai trò của chuyển dịch dân cư (đường biển) và quan hệ giữa chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh và kiểu Sa Huỳnh ở miền Trung, miền Nam Việt Nam với những nhóm cư dân cùng thời ở Đông Nam Á Hải đảo, những di tích và di vật ở Hoà Diêm (Khánh Hoà), Giồng Lớn (Bà Rịa – Vũng Tàu), Giồng Cá Vồ-Giồng Phệt (TP.Hồ Chí Minh)... cho thấy rõ điều này.   

[8] Lâm Thị Mỹ Dung 2009, Văn hoá Sa Huỳnh từ những phát hiện và nghiên cứu mới   Bài trình bày trong Hội thảo KHQT "100 năm phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Sa Huỳnh" tháng 7.2009 ở Quảng Ngãi.


[9] COLANI.M. 1937. Anciennes irrigations et bassins dans le DoLinh (Quang Tri). Cahier de l’ Ecole Francaise d, Extreme Orient. TX; COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue.


[10] Lâm Mỹ Dung 1993, Các công trình khai thác nước dùng đá xếp ở Quảng Trị, Khảo cổ học số 2, tr. 67-79

[11] COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue, 15-31; 43-56.

[12] COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue, 29

[13] COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue,39

[14]COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue,20

[15] COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue, 214

[16] COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue, 41

[17] Lâm Mỹ Dung 1993, Các công trình khai thác nước dùng đá xếp ở Quảng Trị, Khảo cổ học số 2, 67-79

[18] COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue, 84

[19] COLANI.M. 1940. Emploi de la Pierre en des temps recules: Annam- Indonesia- Assam. Bulletin des Anis du Vieux de Hue, bản vẽ LXVIII- trên, 28


Thứ Sáu, ngày 05 tháng 12 năm 2014

Dọc đường khảo cổ "Sáng ra bờ suối, tối vào hang"

Mình đang viết về đóng góp của bà Madeleine Colani, nhà địa chất, nhà cổ sinh học, nhà khảo cổ học người Pháp đối với sự hình thành và phát triển của khoa học khảo cổ Việt Nam. Công lao của bà khó mà kể hết, nhưng công lớn nhất chắc chắn là công phát hiện và định danh văn hoá Hoà Bình, nền văn hoá thời đại đồ đá (mà cho đến giờ chưa ngã ngũ là Cũ hay Mới hay vừa Cũ vừa Mới). Dù chỉ là bài viết nhân kỷ niệm sự kiện thì với mình không thể viết cho có, viết chỉ để viết, cho thêm số đầu bài trong danh mục. 

Ở đây, chỉ muốn kể đôi chút về cái cách mà mình được dạy, được học, được thực hành về văn hoá Hoà Bình.

"Sáng ra bờ suối, tối vào hang"

Hồi mới về Bộ môn, mình hay theo Thầy Vượng đi dự toạ đàm, nói chuyện, bảo vệ luận án... Thầy bảo chịu khó đi gặp gỡ mọi người chứ cô "Tây" quá, "Đuya" quá... Và lần đó mình đi dự lễ bảo vệ luận án ở UBKHXH Việt Nam. Luận án về văn hoá Hoà Bình của TQT. Phần đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi khá rôm rả vì ở ngành khảo cổ, mỗi buổi bảo vệ là mỗi thảo luận, đàm đạo khoa học nghiêm túc nhưng không kém phần hài hước. Khi thấy NCS hơi lúng túng trong việc lý giải về không gian sống của người văn hoá Hoà Bình và giải thích sự có mặt của công cụ đá bên ngoài hang động, Thầy đã hóm hỉnh lẩy một câu "sớm ra bờ suối tối vào hang" để minh hoạ cho luận điểm của mình về ổ sinh thái Hoà Bình, cư dân sống chủ yếu trong các hang động núi đá vôi và cấu trúc địa hình cảnh quan địa lý của người Hoà Bình theo trật tự suối-, bãi bồi, hang, thềm cổ, đồi trung sinh hay miền trước núi và núi đá vôi Karst (với các hang động)! Một câu thôi đủ để hình dung ra không gian sống, lối sống của những cộng đồng dân cư cổ cách đây từ 20.000 năm. 

"Cô nhìn kìa, chúng leo như khỉ kia kìa"

Đận khác, mình theo Thầy đi khảo sát một số huyện miền núi tỉnh Thanh Hoá, Thầy trò vào Cẩm Thuỷ tá túc ở nhà khách Uỷ ban huyện, ngày đi khảo sát, tối về Thầy nói chuyện với cán bộ ban ngành, mình ngồi nghe, ghi ghi chép chép. Cẩm Thuỷ vốn có nhiều hang động văn hoá Hoà Bình và trống Mường, thế nên Thầy trò được các cán bộ văn hoá, bảo tàng địa phương dẫn đi rất nhiệt tình, mình cũng cố gắng hết sức để khỏi mang tiếng phụ nữ làm khảo cổ. Độ cao của các hang động không lớn lắm, đường lên dễ dàng nên mình hầu như không gặp trở ngại. Nhưng hôm đó tới một hang, nhìn từ dưới lên chóng hết cả mặt, miệng hang lơ lửng cách mặt đất dễ hơn 100m, cây cối um tùm. Lo lắng quá mình quay sang Thầy trách người xưa sao chọn nơi ở gì đâu mà hiểm trở, làm sao lên, nước làm sao lấy... Đang thao thao bất tuyệt, Thầy chỉ tay:"Cô nhìn kìa, chúng leo như khỉ kia kìa"! Ngẩng lên, lũ trẻ con trong bản theo đoàn khảo sát nãy giờ đã leo gần đến miệng và hú hét gọi người lớn. Mình được một bài học về sự khác biệt trong cảm nhận không gian nay khác xưa và sự thích nghi với môi trường sống ngay từ thủa trong bụng mẹ.

"Các con ơi, khóc lên đi"

Đầu những năm 90, Thầy trò đi khảo sát Quảng Trị, suốt tháng 7,8 dưới cái nắng miền Trung, nước có thể thiếu nhưng bia thì không, Thầy trò mình hết Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ..., hết công trình khai thác nước bằng đá xếp đến mộ chum vò Champa và có lẽ thu hoạch lớn nhất trong đợt khảo sát là phát hiện hang động cư trú văn hoá Hoà Bình ở vùng núi đá vôi Quảng Trị. Trước đó điểm cực nam của nền văn hoá này là hang Quy Đạt, Quảng Bình (do M.Colani thông báo). Cứ ngày khảo sát, tối về mấy đứa ngồi quanh ghi chép lại những phát hiện mới, Thầy vừa đọc, vừa hỏi ý trò. Mỗi khi tìm được di tích, di vật mới Thầy lại bảo trò "các con ơi, khóc lên đi các con ơi"... Có thể nói không ngoa rằng, những phát hiện đáng kể về tiền sơ sử Quảng Trị cho tới nay chủ yếu là của Thầy trò mình vào quãng những năm 90 đấy. 

Và cái sự "ăn gốm, ngủ gốm" Sa Huỳnh, Champa của mình cũng bắt đầu từ quãng ấy.

Thực lòng, nếu không có Thầy, nếu không có những chuyến đi, liệu mình có yêu mãi nghề khảo cổ được không? 

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 8 năm 2014

Trống đồng – Chằng chéo trên Vành văn hóa Trung – Việt

Bronze Drums—Crossbred on the Sino-Vietnamese Cultural Rim
Trống đồng – Chằng chéo trên Vành văn hóa Trung – Việt 
Một phần nhỏ trong bài của Li Tana Jiaozhi (Giao Chı) in the Han Period Tongking Gulf 
In trong The Tongking Gulf Through History
Tana Li,Nola Cooke, James Anderson (eds.,)
Published by University of Pennsylvania Press, 2011 

Lich sử sớm của Việt Nam thường được chia thành hai phần: Thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt. Thời kỳ đồ đồng bản địa – đặc trưng bởi văn hóa Đông Sơn và đặc biệt bằng những trống đồng. Sau đó sự xâm lăng của Trung Hoa đã cắt đứt truyền thống địa phương bằng việc bắt đầu của thời kỳ đồ sắt. Nhưng có một rắc rối ở đây: mặc dù chính quyền Trung Hoa đã được thiết lập tại đây vào TK 2 TCN, một số lượng lớn trống đồng – biểu trưng của quyền lực bản địa và uy quyền thủ lĩnh – được đúc sau khi Trung Hoa đô hộ. Trống Ngọc Lũ, hình tượng của văn hóa Việt Nam truyền thống, mà theo học giả thuộc địa Pháp Victor Goloubew, được cư dân châu thổ sông Hồng đúc vào thế kỷ 1 CN, ít nhất là 100 năm sau khi nền thống trị Trung Hoa bắt đầu (chú thích số 30).

Có thể đồng ý rằng, những trống đồng này vẫn được người châu thổ sông Hồng đúc bất chấp sự cai trị của Trung Hoa; hay đây là những trống được đúc bởi những cư dân sinh sống ở những vùng quê đồi núi xung quanh, cách biệt với chính quyền Trung Hoa. Nhưng có thể có một khả năng hấp dẫn thứ ba: rằng cả hai truyền thống cùng song hành và tương tác mạnh mẽ với nhau. Những người làm khảo cổ có chứng cứ phong phú để chỉ ra rằng trống đồng là kết quả của những tương tác không ngừng giữa những nhóm cư dân; nhưng những nhà sử học vẫn có xu hướng nghĩ rằng trống đồng quá ư là thiêng liêng với những thủ lĩnh địa phương nên chúng phải được đúc một cách bí mật đâu đó trong các vùng núi sử dụng những kỹ thuật “truyền thống” được truyền qua các thế hệ một cách không đổi thay (chú thích 31). Mặt khác các nhà khảo cổ tin rằng, kỹ thuật đúc trống đồng cần một hệ thống mở để duy trì: có đòi hỏi đó là vì nhiệm vụ này cần “cả kỹ năng mỹ thuật và kỹ thuật ở trình độ cao” (trích dẫn 32), nghệ nhân trong khắp vùng chia sẻ với nhau. Như vậy, Magdalenevon Dewall cho rằng có sự hiện diện của những xưởng thủ công địa phương mà chủ nhân của chúng mặc dù sử dụng chung các kỹ thuật và loại hình hiện vật thì vẫn tìm kiếm để sáng tạo những mô típ và kiểu trang trí. Điều này đòi hỏi tính lưu động cao của nghệ nhân và chất liệu tương ứng.

 Sẽ khá đắt để duy trì và hỗ trợ được kỹ năng mỹ thuật và kỹ thuật ở mức độ cao, chưa tính đến những công xưởng chuyên nữa, từ đó dấy lên những vấn đề làm thế nào mà xã hội bản địa duy trì được sự xa hoa này. Đáng chú ý là những đặc điểm của quy trình trồng lúa được thể hiện trên 02 trống đồng nổi tiếng Việt Nam, trống Ngọc Lũ và trống Hoàng Hạ (chú thích 33). Như thư tịch cổ Trung Hoa đã trích dẫn ở trên cho thấy, cả Hepu và cả Cửu Chân phụ thuộc Giao Chỉ về lúa gạo, như thế những mô tả quy trình trồng lúa cho thấy sự hiện diện của kinh tế tự cấp và phi -  sinh kế, một kiểu mưu sinh  dựa trên trao đổi lúa gạo lấy những hàng hóa khác. Trong bối cảnh này, rất thú vị là tiền Vương Mãng (năm 8-25 CN) đã được khai quật bên cạnh đồ đồng Đông Sơn.

Nếu tiền Vương Mãng từ miền Trung Trung Hoa được dùng để đổi lấy những con ốc tím lớn (ốc xà cừ) từ Giao Chỉ trong giai đoạn nhà Hán thì sẽ hợp lý nếu cho rằng của cải sinh ra từ trao đổi kinh tế đã tạo thuận lợi cho sự tiếp tục của truyền thống trống đồng, và rằng đó là những trao đổi mang trống đồng và kỹ thuật chế tác trống từ Giao Chỉ đến vùng ven biển Quảng Tây, về nơi mà chương viết của Michael Churchman thảo luận về vai trò và ý nghĩa của những trống đồng này.

Những nghiên cứu mới nhất của Trung Quốc về hợp chất sử dụng đúc trống đồng cho thấy một số trống Đông Sơn đến từ Trung Hoa, nhưng những trống khác tìm thấy ở Quảng Tây có xuất xứ từ vùng văn hóa Đông Sơn và sau đó được mang sang Quảng Tây (chú thích 34). Những tác giả của những nghiên cứu này từ đó kết luận rằng trống loại Lengshuichong Quảng Tây phát triển dưới ảnh hưởng của trống Đông Sơn và rằng kỷ nguyên vàng của đúc trống đồng ở Quảng Tây là vào thời Hán, đúng lúc những mối quan hệ tăng cường giữa ven biển Quảng Tây và Giao Chỉ có nhiều chứng cứ nhất.

Ở đây, chúng ta cần dừng lại và cân nhắc bối cảnh chính trị của đúc trống đồng. Có hai khía cạnh nổi bật đối với câu chuyện này: nếu những trống đồng là biểu trưng về quyền lực địa phương, thì 600 trống cộng với những trống mới đúc từ thế kỷ 1-6 cho thấy sự tăng lên hơn là sự giảm xuống của số lượng những trung tâm quyền lực địa phương; và nếu đúc trống liên quan chặt chẽ tới sản xuất, trao đổi và tích lũy của cải trong vùng, xem ra nó xuất hiện ở hay gần những trị sở, ngay dưới mũi của những người cai trị Trung Hoa. Trên thực tế, năm 1999 một (mảnh) khuôn đúc trống đồng Đông Sơn đã được nhà khảo cổ người Nhật Nishimura Masanari tìm thấy ở Luy Lâu, trị sở Trung Hoa sớm nhất ở Giao Chỉ (từ năm 111 TCN) (chú thích 35).   

Nishimura Masanari coi loại hình khuôn đúc này giống với những khuôn từ các địa điểm Thương, Chu ở Trung Hoa, Nishimura thực sự cho rằng thời kỳ Đông Sơn thuộc về thời đại kim khí muộn, và một số học giả Nhật Bản khác cho rằng, khác với niềm tin thông thường rằng sự xâm lược của nhà Hán đã đặt dấu chấm hết cho văn hóa Đông Sơn, hiện vật Đông Sơn bao gồm cả trống đồng vẫn tiếp tục được sử dụng và được thích ứng vào những vùng phụ cận xung quanh kiểu Hán (chú thích 36).

Không có lý do để những nhà cầm quyền Trung Hoa chống lại việc đúc này, và cũng không có sử liệu nào cho thấy đúc trống đồng bị cấm đoán. Và sau tất cả điều này, sự cai trị xa lạ của Hán từ bên ngoài đặt vào và như Keith Taylor chỉ rõ “ Người Trung Hoa phải điều chỉnh thói quen của họ cho phù hợp với văn hóa địa phương, họ đã không ở vào vị trí để áp đặt lối sống của họ cho người địa phương” (chú thích số 37).

Ở ĐNA chìa khóa đối với sự kiểm soát trung ương về nhân lực là khả năng tạo ra những đồng minh chính trị dựa trên cơ sở quý tộc địa phương – “ông lớn” (chú thích 38). Sự hỗ trợ của chính quyền Trung Hoa cho sự tín nhiệm đối với “ông lớn’ đã được chỉ ra rõ ràng trong sử liệu thời Đường: “đối với những thủ lĩnh địa phương, những người mạnh hơn về của cải như nô lệ, ngọc trai và voi, thì triều đình thường ban cho những vị thế chính thức với mục đích để khai thác những lợi ích từ họ. Thực tiễn này được thực hiện trong tất cả các triều đại từ Tống, Qi, Liang và Chen” (chú thích 39).

Hơn là biểu trưng về độc lập, trống đồng trong thời kỳ này nên được hiểu là sự  biểu thị để thích ứng của cả hai cả tầng lớp quý tộc Trung Hoa và địa phương. Người cầm quyền tốt nhất luôn luon là người biết cách hòa hợp với những thủ lĩnh địa phương được bảo trợ hay với những người bản than họ là “ông lớn”. Những trường hợp thấy rõ nhất đó là Sĩ Nhiếp (Sĩ Nhiếp vương) và những người anh em của ông, cai trị Nanhai, Hepu, Giao Chỉ và Cửu Chân thế kỷ 2 CN và dòng họ Du Huidu thế kỷ 5. Cả hai dòng họ này đều là dòng họ địa phương: Họ Sĩ xuất phát từ Cangwu, Quảng Tây và họ Du ở Chu Diên, Giao Chỉ. Của cải và uy tín của họ ở địa phương chắc chắn có vai trò chủ đạo trong sự bổ nhiệm.

Kiểm tra tất cả những nhân tố này – dân số, sản xuất lúa gạo và những tài nguyên bản địa quan trọng tạo nên của cải – cho thấy một cách mạnh mẽ rằng thời sơ kỳ lịch sử, Giao Chỉ chứ không phải Quảng Châu đóng vai trò như một lực lượng liên kết vùng, nối kết cả miền Trung Trung Hoa với Vịnh Bắc Bộ và Vân Nam với biển.  Miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay hợp thành đối tác buôn bán quan trọng nhất của miền Trung Trung Hoa trước khi con đường tơ lụa trên biển đi vào hoạt động. Như Wang Gungwu đã chỉ ra, Giao Chỉ “rất có giá trị về phương diện thương mại hàng hải đối với Trung Hoa” (chú thích 40). Việc buôn bán này trở nên cốt yếu đối với TH cùng với sự suy tàn của nhà Hậu Hán và đánh mất quyền kiểm soát đối với con đường nội địa tây bắc. Nhà Hán chính thức bỏ con đường tơ lụa trên đất liền vào năm 107 CN và từ sau đó, liên hệ giữa TH và phương Tây tập trung trên bờ biển phía nam. Những thương nhân người Ấn Độ được ghi lại trong sử liệu là đã “nộp cống” vào những năm 159 và 161, tới TH qua Giao Chỉ và khi buôn bán của họ với ĐNA hải đảo trở nên thường xuyên hơn tiếp thêm sinh khí cho buôn bán ở Nam Hải, mà ở đó Giao Chỉ là điểm cuối. 



Lâm Thị Mỹ Dung dịch

Vấn đề là có sự khác nhau cơ bản giữa những nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài về niên đại của trống đồng. Những trống đồng Đông Sơn loại 1 Heger như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ… được nhiều nhà khảo cổ học Việt Nam xác định niên đại TK 5 TCN, những trống đúc từ CN trở đi là trống muộn, đúc theo truyền thống Đông Sơn và ở những vùng xa trung tâm. Còn trong bài này những trống Đông Sơn điển hình đều có niên đại muộn, từ thế kỷ I CN. Như vậy hai hệ thống niên đại khác nhau sẽ có hai cách diễn giải khác nhau hoàn toàn!