Hiển thị các bài đăng có nhãn ARCHAEOLOGICAL STORY/Cau chuyen Khao co. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ARCHAEOLOGICAL STORY/Cau chuyen Khao co. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2017

GIẾNG

Đi miền Trung từ những năm đầu 90, chân ướt chân ráo, cái gì cũng lạ.

Nhờ Thầy Vượng, nhờ đồng nghiệp, bạn bè từ Hà Nội và đặc biệt là từ địa phương từ xóm đến tỉnh mà vỡ được rất nhiều điều, học bao thứ hay đúng nghĩa của ″Đi một ngày đàng, học một sang khôn và học thầy không tầy học bạn″.

Cũng sau những chuyến điền dã như vậy mình rút ra được một vài thứ cần tránh trong nghiên cứu, trong tất cả những điều đó, đáng sợ nhất là định kiến và kinh nghiệm. Ví dụ điển hình về cái gọi là định kiến và kinh nghiệm chủ nghĩa chúng ta thấy rất rõ trong nghiên cứu về giếng Champa và kỹ thuật giếng Champa (rộng ra là ảnh hưởng Champa trong lịch sử và văn hoá  của người Việt ở miền Bắc và miền Trung).

Trước hết, để tồn tại được ở miền Trung, cư dân của Vương quốc Champa chắc chắn phải có những kỹ thuật và phương thức khai thác và sử dụng nước phù hợp, trước hết là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và canh tác... Điểm nổi bật trong sử dụng nước của cư dân Champa trước đây và của người Chăm Ninh Thuận hiện nay là phân biệt rạch ròi chức năng tín ngưỡng, tôn giáo với chức năng sinh hoạt, tưới tiêu. Do vậy trong tất cả các khu đền tháp Champa kể cả những nơi người Việt phá tan hoang thì giếng và dấu vết giếng vẫn còn. Cách đào giếng và xây giếng của cư dân CP cũng rất đa dạng, phụ thuộc vào địa hình và vật liệu khu vực, ở vùng cồn cát có loại giếng Mội khai thác nước ngầm tự phun lên, ở vùng sườn đồi đất đỏ bazan Quảng Trị, giếng  xếp đá thành từng mức theo  độ dốc, thu gom những mạch nước chảy từ  trên xuống và từ trong ra, ở vùng gò núi và đồng bằng duyên hải loại giếng nổi bật nhất và nhiều nhất là giếng hình vuông, đáy kè gỗ khai thác thu gom nước mạch, xây bằng gạch hay xếp đá tuỳ theo nguồn vật liệu địa phương. Đặc điểm chung của tất cả những giếng này là do có mạch tốt nên gần như không bao giờ bị cạn kiệt, nước trong và ngọt.

Bên cạnh những giếng có thể xác định được chủ nhân chắc chắn là cư dân Champa thì ở miền Trung cũng có nhiều giếng khai thác nước mạch ngầm xây bằng gạch, hình tròn mà các nhà nghiên cứu và người dân gọi là giếng Chăm, đây là vấn đề rất đau đầu và chưa có cách thức nào để xác định và cũng chưa có nghiên cứu nào đến nơi đến chốn. Đôi khi để kín kẽ, người ta gọi là giếng đào xây theo kỹ thuật Champa. Tuy nhiên cần lưu ý ở miền Trung bên cạnh lớp cư dân Champa còn có lớp cư dân Việt và cư dân Minh Hương, liệu họ có mang tới đây những kỹ thuật đào giếng của mình (như của người Minh Hương), hay đơn thuần chỉ là học kiểu thích nghi sinh thái đã có sẵn của cư dân Champa?  

Quay trở lại với những giếng đào lấy nước mạch ngầm xây gạch, xếp đá ong, xếp đá đôi khi gặp lẻ tẻ hay tập trung ở không gian văn hoá truyền thống của người Việt ở miền Bắc Việt Nam, nơi mà giếng đất thu gom nước mạch ngang và nước mưa và bể hay chum chứa nước mưa đã từ lâu thành biểu tượng vừa hay vừa dở. Đa phần các nhà nghiên cứu gắn loại giếng này với kỹ thuật giếng Champa vì trước hết đây là kỹ thuật lạ so với kỹ thuật giếng đất của người Việt và sau đó là những sự kiện lịch sử đã được ghi lại về di trú của tù binh Champa. Có thể có lý, nếu chúng ta nghiên cứu một cách cặn kẽ lối sinh hoạt của cư dân nơi đó, địa bàn phù hợp với ghi chú về  di trú của cộng đồng người Champa trong lịch sử và nếu có thể cả những phân tích DNA của cư dân nơi đó hiện nay để so sánh với người Chăm hiện nay, phân tích di truyền về ngôn ngữ và nhiều thứ nữa như kỹ thuật đào, tìm mạch và vật liệu ... Tuy nhiên hiện đang thiếu vắng những nghiên cứu liên ngành kiểu này, nên cứ thấy hao hao,″ xôi giống xôi, thủ giống thủ” thì bảo đó là kế thừa hay ảnh hưởng từ nơi khác.  

Thưc ra, hình dạng giếng, cách thức đào và xây giếng còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện địa hình, địa mạo, ở vùng bán sơn địa, giếng đào sâu hun hút rất nhiều, xây gạch, xây bằng đá ong, xếp đá ...  liệu có nên gắn với giếng Champa? Những giếng tròn sâu xây bằng gạch thời Lý, thời Trần... trong khu khai quật Hoàng thành Thăng Long khơi lên nước vẫn trong, những giếng xếp đá ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc có niên hiệu thời Lê..., nên xếp vào truyền thống nào cho hợp lý và khoa học.

Những giếng  (tương truyền 72 cái) ở Yên Sở gắn với địa bàn cũ của Colony tù binh Champa với những hàng dừa xanh (nơi từng quay bộ phim Vĩ tuyến 17 Ngày và Đêm) liệu có thể chắc chắn là đào theo kỹ thuật giếng Champa hay do tù binh Champa đào không?

Kỹ thuật lan truyền đôi khi trực tiếp và nhiều khi gián tiếp và khảo cổ học giếng còn rất mung lung.

Vì thế chỉ là cái giếng thôi mà đau hết cả đầu!

   

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Dọc đường khảo cổ "Sáng ra bờ suối, tối vào hang"

Mình đang viết về đóng góp của bà Madeleine Colani, nhà địa chất, nhà cổ sinh học, nhà khảo cổ học người Pháp đối với sự hình thành và phát triển của khoa học khảo cổ Việt Nam. Công lao của bà khó mà kể hết, nhưng công lớn nhất chắc chắn là công phát hiện và định danh văn hoá Hoà Bình, nền văn hoá thời đại đồ đá (mà cho đến giờ chưa ngã ngũ là Cũ hay Mới hay vừa Cũ vừa Mới). Dù chỉ là bài viết nhân kỷ niệm sự kiện thì với mình không thể viết cho có, viết chỉ để viết, cho thêm số đầu bài trong danh mục. 

Ở đây, chỉ muốn kể đôi chút về cái cách mà mình được dạy, được học, được thực hành về văn hoá Hoà Bình.

"Sáng ra bờ suối, tối vào hang"

Hồi mới về Bộ môn, mình hay theo Thầy Vượng đi dự toạ đàm, nói chuyện, bảo vệ luận án... Thầy bảo chịu khó đi gặp gỡ mọi người chứ cô "Tây" quá, "Đuya" quá... Và lần đó mình đi dự lễ bảo vệ luận án ở UBKHXH Việt Nam. Luận án về văn hoá Hoà Bình của TQT. Phần đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi khá rôm rả vì ở ngành khảo cổ, mỗi buổi bảo vệ là mỗi thảo luận, đàm đạo khoa học nghiêm túc nhưng không kém phần hài hước. Khi thấy NCS hơi lúng túng trong việc lý giải về không gian sống của người văn hoá Hoà Bình và giải thích sự có mặt của công cụ đá bên ngoài hang động, Thầy đã hóm hỉnh lẩy một câu "sớm ra bờ suối tối vào hang" để minh hoạ cho luận điểm của mình về ổ sinh thái Hoà Bình, cư dân sống chủ yếu trong các hang động núi đá vôi và cấu trúc địa hình cảnh quan địa lý của người Hoà Bình theo trật tự suối-, bãi bồi, hang, thềm cổ, đồi trung sinh hay miền trước núi và núi đá vôi Karst (với các hang động)! Một câu thôi đủ để hình dung ra không gian sống, lối sống của những cộng đồng dân cư cổ cách đây từ 20.000 năm. 

"Cô nhìn kìa, chúng leo như khỉ kia kìa"

Đận khác, mình theo Thầy đi khảo sát một số huyện miền núi tỉnh Thanh Hoá, Thầy trò vào Cẩm Thuỷ tá túc ở nhà khách Uỷ ban huyện, ngày đi khảo sát, tối về Thầy nói chuyện với cán bộ ban ngành, mình ngồi nghe, ghi ghi chép chép. Cẩm Thuỷ vốn có nhiều hang động văn hoá Hoà Bình và trống Mường, thế nên Thầy trò được các cán bộ văn hoá, bảo tàng địa phương dẫn đi rất nhiệt tình, mình cũng cố gắng hết sức để khỏi mang tiếng phụ nữ làm khảo cổ. Độ cao của các hang động không lớn lắm, đường lên dễ dàng nên mình hầu như không gặp trở ngại. Nhưng hôm đó tới một hang, nhìn từ dưới lên chóng hết cả mặt, miệng hang lơ lửng cách mặt đất dễ hơn 100m, cây cối um tùm. Lo lắng quá mình quay sang Thầy trách người xưa sao chọn nơi ở gì đâu mà hiểm trở, làm sao lên, nước làm sao lấy... Đang thao thao bất tuyệt, Thầy chỉ tay:"Cô nhìn kìa, chúng leo như khỉ kia kìa"! Ngẩng lên, lũ trẻ con trong bản theo đoàn khảo sát nãy giờ đã leo gần đến miệng và hú hét gọi người lớn. Mình được một bài học về sự khác biệt trong cảm nhận không gian nay khác xưa và sự thích nghi với môi trường sống ngay từ thủa trong bụng mẹ.

"Các con ơi, khóc lên đi"

Đầu những năm 90, Thầy trò đi khảo sát Quảng Trị, suốt tháng 7,8 dưới cái nắng miền Trung, nước có thể thiếu nhưng bia thì không, Thầy trò mình hết Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ..., hết công trình khai thác nước bằng đá xếp đến mộ chum vò Champa và có lẽ thu hoạch lớn nhất trong đợt khảo sát là phát hiện hang động cư trú văn hoá Hoà Bình ở vùng núi đá vôi Quảng Trị. Trước đó điểm cực nam của nền văn hoá này là hang Quy Đạt, Quảng Bình (do M.Colani thông báo). Cứ ngày khảo sát, tối về mấy đứa ngồi quanh ghi chép lại những phát hiện mới, Thầy vừa đọc, vừa hỏi ý trò. Mỗi khi tìm được di tích, di vật mới Thầy lại bảo trò "các con ơi, khóc lên đi các con ơi"... Có thể nói không ngoa rằng, những phát hiện đáng kể về tiền sơ sử Quảng Trị cho tới nay chủ yếu là của Thầy trò mình vào quãng những năm 90 đấy. 

Và cái sự "ăn gốm, ngủ gốm" Sa Huỳnh, Champa của mình cũng bắt đầu từ quãng ấy.

Thực lòng, nếu không có Thầy, nếu không có những chuyến đi, liệu mình có yêu mãi nghề khảo cổ được không? 

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Lại loanh quanh chuyện origin

Đang xôn xao vụ hoãn giới thiệu cuốn sách Nguồn gốc người Việt, người Mường của bác Tạ Đức!
Lắm còm rất chi là hay, có ý nổi lên là lý do chính trị, nhạy cảm trong thời điểm này...

Cái đương thời, đổ cho chính trị
Cái cổ thời, đổ cho tâm linh


Cả hai kiểu đổ này vừa sang vừa lợi
Nhưng chắc không hoàn toàn đúng.


Cuốn sách sử dụng nhiều dữ liệu của DTH, KCH, Di truyền học, Môi trường học...của một không gian rộng lớn và thời gian kéo dài với những thay đổi từ từ và đột ngột của môi trường tự nhiên, những di chuyển của những làn sóng dân cư khắp các lục địa Á Âu vào những thời điểm 10, 5, 4, 3, 2 nghìn năm cách ngày nay... đòi hỏi người sử dụng phải cực kỳ uyên bác, nắm vững không chỉ số liệu mà cả cách kết nối diễn giải dữ liệu ấy. Chỉ một ví dụ nhỏ, trong khảo cổ học, không đơn giản thấy hai cái bình gốm gống nhau ở hai chỗ khác nhau ở hai thời gian khác nhau là có thể bảo chúng có quan hệ với nhau...
Làm ra được một kết nối tương đối chấp nhận được của dữ liệu nhiều gốc khác nhau, theo thiển ý của mình có lẽ chỉ có ông Jade Diamond tác giả của những "Súng, vi trùng và Thép", "Con người- Loài tinh tinh thứ ba"...


Cuốn sách của Tạ Đức theo ý kiến cá nhân của mình còn quá nhiều lỗ hổng, lỗ thủng trong lưới kết nối, nhiều võ đoán, nhiều tư biện... và vì thế phải được đánh giá nghiêm túc từ góc độ khoa học.Việc in và phổ biến một cuốn sách chuyên khảo khoa học kiểu như sách "Nguồn gốc..." này phải có sự đánh giá của hội đồng chuyên môn và đánh giá thật sự công tâm, nghiêm túc. Không nên vì lý do tự nghiên cứu nên tự in thoải mái, thơ văn vớ vẩn thì in thế nào cũng được, sách khoa học thì không. Đấy cũng là trách nhiệm của những người làm khoa học đối với công chúng!


Cá nhân mình rất tôn trọng và đánh giá cao tinh thần làm việc, trách nhiệm và sự say mê nghề của Tạ Đức. Nhưng về nội dung cuốn sách, mình thấy có nhiều vấn đề, nhất là trong cái cách tác giả sử dụng, kết nối và diễn giải tài liệu khảo cổ học (nhưng vẫn phải nói rằng vô cùng thán phục về sức đọc của tác giả, và cái việc tham khảo tài liệu của tác giả thì những người làm khoa học nên theo).Cuốn sách có ích cho mình không phải ở chỗ cung cấp thông tin gì, mà ở chỗ cung cấp thế nào?


Còn nữa, nếu người Việt (hay một bộ phận người Việt) có nguồn gốc từ những vùng đất mà hiện nay là lãnh thổ Trung Quốc thì cũng chả có gì thuộc về nhạy cảm chính trị. Đã nói quá nhiều về gốc sinh học và hình thành, diễn biến văn hóa (lối sống), đã nói cũng quá nhiều về biên giới chính trị không đồng nghĩa với không gian văn hóa, đã nói quá nhiều do vị thế địa văn hóa, người Việt (cả người Việt Nam) chắc chắn có nhiều gốc khác nhau...và hãy nhớ về ưu thế lai xa!  


Và cuối cùng, dân tộc mạnh, dân tộc văn minh, dân tộc hùng cường... không phụ thuộc nhiều vào cái gốc sinh học!
Mà phụ thuộc vào hành động của chúng ta thời hiện tại.

PS. Sang một số nước như Đông Nam Á, Đông Bắc Á như Thái Lan, Phillipin, Nhật Bản, Hàn Quốc... câu chuyện về những người nông dân trồng lúa đánh cá cách đây 4 rồi 3 rồi 2 nghìn năm từ Nam Sông Dương Tử tỏa đi đến những vùng đất mới Thái Lan Thái Lan, Phillipin, Nhật Bản, Hàn Quốc... và cùng chung sức với những cư dân bản địa săn bắt hái lượm ... tạo nên một lối sống mới được coi là bình thường.  Tất nhiên, cần có thêm những chứng cứ, diễn giải và tranh luận khoa học, nhưng cứ định kiến hẹp hòi... thì khó lắm! 

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Thôn Tư - may còn Gò Cấm!

Có lẽ không nơi nào trên trái đất này người ta chuộng thay tên, đổi họ như ở ta. Đất đã hẹp, người lại đông, chen chúc nhau trên những mẩu đất con con gọi là làng hay phố, lại phải cõng thêm lớp lớp địa danh không "cha truyền, con nối", "chân không đến đất, cật không đến giời".

Địa danh học, dù không thông thạo chuyên ngành này mặc đã ngồi vài hội đồng sau đại học với đề tài liên quan đến địa danh Thăng Long -Hà Nội, nhưng ngay từ năm thứ nhất, giáo sư dạy môn Cơ sở Khảo cổ học đã lên lớp rằng địa danh, đặc biệt là địa danh bản sinh/nội sinh (local/exogenous) cung cấp cho người nghiên cứu vô vàn thông tin hữu ích, bất kể là thông tin về địa hình, phong cảnh hay lịch sử, văn hoá...

Ra đời, đi cùng Thầy, cùng đồng nghiệp, bạn bè và học trò, mình càng thấm những điều được dạy, được học.

Trong hiểu biết của mình, địa danh cũng giống như hiện vật, sự kiện... lịch sử, khảo cổ chứa đựng nhiều lớp trầm tích ý nghĩa, "vỏ nọ, lõi kia", "thấy vậy mà không phải vậy". Địa danh như một loại hình di sản phi vật thể đầy nhạy cảm cả với biến động tự nhiên, cả với biến động xã hội, dễ bị bào mòn, dễ bị biến dạng, dễ bị chìm nghỉm vào bão lũ lịch sử và có tốc độ biến mất nhanh nhất trong thứ bậc mất mát của di sản phi vật thể.

Địa danh là một phần hữu cơ của một cơ thể văn hoá, lịch sử và dẫu rằng không có địa danh nào hoàn toàn mất dạng, bốc hơi nhưng sự biến dạng, sự đắm chìm dưới lớp lớp sương mù quá khứ của địa danh chính là điều làm đau đầu các nhà nghiên cứu. Những mảnh vỡ địa danh cũng giống như những hiện vật khảo cổ cần được vớt lại, gắn chắp, khôi phục trong một nỗ lực khó khăn tìm về quá khứ.
Những địa danh, những cái tên mang âm hưởng lạ như Xó La, Hòn La, Cù Lao Ré, Đồng Nai, Sài Gòn, Óc Eo, Lùm Bà Giàng... hay quen tưởng như đã rõ căn nguyên như Thăng Long Hà Nội....đều buộc người nghiên cứu hay sử dụng kết quả nghiên cứu phải nâng lên, đặt xuống nhiều lần, mỗi thời một chút hầu làm rõ hơn nguồn tích, nội dung và biến đổi địa danh. Phải chăng Đồng Nai là cánh đồng nhiều nai hay là mang trong đó trầm tích của một ngôn ngữ tộc người chưa xa lắm, Cù Lao Ré có phải đơn giản chỉ là nơi có nhiều cây ré...?

Nhận diện địa danh có nhiều cách tiếp cận và nhiều nguồn tư liệu buộc mỗi người nghiên cứu phải lựa chọn sao cho thích hợp, may mắn khi có tài liệu thành văn, khó khăn khi chỉ là lời kể. Khi tìm hiểu về điều kiện xã hội và tự nhiên của làng Nôm (làng đi buôn đồng và đồng nát), một kiểu làng nghề không hiếm nhưng cũng không phổ biến ở châu thổ sông Hồng ở Văn Lâm, Hưng Yên, người nghiên cứu có cơ hội dựa vào thư tịch cổ về dòng chảy của sông Nguyệt Đức (sông Cầu, sông Như Nguyệt) kết hợp với tài liệu thực địa (một dòng chảy nhỏ còn lại dấu tích) và những địa danh nổi tiếng còn lại như Cầu Đá, Cầu Gáy (nhắc sự tích đắp cầu qua sông sâu phải nhờ đến thần linh), Bến Quan... Mặc dù phong cảnh thay đổi đến chóng mặt, đường bộ lên ngôi, sông lấp bồi thành ruộng, đồi thành ao, ao thành nền nhà... những trầm tích còn lại vẫn giúp chúng ta vớt lại ký ức quá khứ.

Thay đổi địa danh một cách cưỡng bức bất chấp ký ức quá khứ, trầm tích văn hoá hay không có cách bảo tồn địa danh thì cũng không khác gì chúng ta đang tâm phá bỏ những cái xưa mà không cũ để xây những cái mới dù "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" thì vẫn là kiểu sáng tạo ra những thứ vô giá trị lơ lửng, què quặt, những thứ không quá khứ cũng chả có tương lai.

Vì thế, cũng như những di sản phi vật thể, di sản ký ức khác, không thể tuỳ tiện mà vứt bỏ hay thêm thắt.
Khi nhận diện địa danh là loại di sản phi vật thể đồng thời cũng là một loại ký ức (và cả ẩn ức) tập thể tác động đến nhận thức cá nhân hay cộng đồng thì những địa danh như Hoàn Kiếm, Bến Nhà Rồng... không dễ, không nên đem ra làm chủ đề của những chế diễu dù vô ý hay có ý.  

Và nếu chính quyền muốn đặt tên Thôn Tư cho dễ quản lý thì dân gian vẫn còn Gò Cấm, để người khảo cổ biết đường lần đến tìm vớt mảnh vụn quá khứ!

(Thôn Tư là một thôn ở xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, Gò Cấm là một địa danh chỉ vùng đất cũng thuộc Thôn Tư, cả ở Thôn Tư, cả ở Gò Cấm đều có những di tích khảo cổ thuộc văn hoá Sa Huỳnh, Champa)

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Dọc đường khảo cổ (12) Găm vật, găm tình!

Chưa đi lại được bảo tàng thì ngồi xem, sửa ảnh đưa thành album phục vụ mình và một số bạn phây. Xem ảnh tự tay chụp PHÊ không kém xem TRƯNG BÀY. Có lẽ phải chế câu "Văn mình, vợ/bồ người" thành "Ảnh mình (chụp), vợ/bồ người"!

Trong hằng hà sa số hiện vật, sản phẩm của trí tưởng tượng và óc sáng tạo vô bờ bến của con người, có những hiện vật nhỏ bé nhưng găm chặt bao nhiêu ký ức. Cứ tạm gọi là cái găm, để găm cài đủ thứ, kể cả găm tình!

Người hiện đại có khoá tình yêu, người xưa có găm tình. Chả biết khoá hay găm, cái nào chặt, cái nào vững hơn. Có lẽ cả khoá, cả găm cũng chỉ là nỗ lực tuyệt vọng của những đôi tình nhân chưa thấm một điều: Tình yêu đơn thuần là một phản ứng hoá học, từ chất nọ sẽ thành chất kia. Hết phản ứng này rồi sẽ là phản ứng khác, dù mạnh hay yếu thì cũng chỉ là phản ứng! Lấy cái vật chất găm cái vô hình là điều không tưởng, nhưng người ta vốn là giống hoang tưởng. Chính vì thế mãi sẽ có găm tình, khoá tình muôn vẻ, muôn trạng. 

Đối với người làm khảo cổ, cái may là ở chỗ, nếu chưa bị người đời sau phân kim hay người chơi đồ cổ buôn đi bán lại kiếm lời thì những ký ức vật chất này trong các bảo tàng là bằng chứng sống động về trình độ kỹ thuật, quan hệ xã hội, mức độ phát triển kinh tế... và vô vàn những khía cạnh khác của cuộc sống con người! Và với người làm khảo cổ, nếu chỉ khoá là khoá, găm là găm, kim băng là kim băng... thì cũng mới chỉ là một nửa tình yêu với nghiệp của mình. Một nửa tình yêu rứt khoát không phải tình yêu!

Những chiếc găm (fibula, brooch) xuất hiện ở châu Âu từ cuối thời đại đồ đồng và bắt đầu phổ biến rộng rãi từ đầu thời đại đồ sắt, càng được sử dụng rộng rãi, càng mang nhiều sắc vẻ và từ nhiều loại chất liệu từ gốm, thuỷ tinh đến bạc, vàng, găm không chỉ dàng cho đàn bà mà đàn ông cũng dùng, người quý tộc dùng kiểu quý tộc, người bình dân dùng kiểu bình dân.

Từ bao giờ, những chiếc găm, găm đủ thứ mang thêm chức năng găm tình, chưa ai có câu trả lời thoả đáng. Chỉ biết ở châu Âu thời Trung cổ đã phổ biến những chiếc găm tình.

Ở Việt Nam cũng có những chiếc giống như găm ngay từ thời Đông Sơn, nhưng chưa ai biết, găm nào là găm vật, găm nào là găm tình! Tuy nhiên, từ nay suy xưa thì cũng có thể tưởng tượng xa hơn một chút.

(Chuyện nay: Trong một lần đi khảo cổ, lâu lắm rồi, từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, mình mượn được hộp đồ nghề của một anh đồng nghiệp, mở ra, bên cạnh những thước tỉ lệ, bút chì... là mấy cái kim băng và vài cái lông nhím. Đem thắc mắc hỏi và bị mắng một trận tơi bời. Đại ý, lớn bằng ngần này mà không biết kim băng và lông nhím để làm gì, khi lập gia đình, không được ai dặn dò chỉ bảo hay sao. Ngay lúc đó, mình chả dám cãi, bụng bảo dạ, kim băng thì để cài, ai chả biết. Vấn đề là ở cái lông nhím?
Tại hố khai quật đấy, mũi nhọn của những chiếc lông nhím được phát huy tác dụng bằng cách dùng để cậy đất ở những hiện vật nhỏ. Tiện lợi vô cùng.
Dần dà, anh đồng nghiệp cũng nói cho mình và mấy cô em sinh viên lông nhím còn được dùng làm gì!)

Bài học rút ra: Mỗi hiện vật bất kể là kim hay cổ đều có nhiều công dụng khác nhau và đằng sau chúng là những câu chuyện ảo thực lý thú!  

Hình minh hoạ (chụp ở Britist Museum)



Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

Earliest 'matches' found at Neolithic sites - "Những que diêm" sớm nhất tìm thấy trong các địa điểm thời Đá mới

Theo các nhà khảo cổ Israel, những hiện vật đất nung hình trụ bé nhỏ phát hiện trong những thập kỷ gần đây ở miền Bắc Israel và Thung lũng Jordan là những que diêm sớm nhất có niên đại lùi xa vào quá khứ cách ngày nay khoảng 8.400 năm.
The tell tale scratches on the "matches" led researchers to believe they were used to start fires [Credit: Naama Goren-Inbar, PLoS ONE]. Những vết xước còn lại trên những "que diêm" dẫn dắt các nhà nghiên cứu đến niềm tin rằng chúng từng được dùng để đánh lửa. 
Cho tới gần đây những cái que - dài chừng 10cm, dày khoảng 1cm - được xác định là những hiện vật dạng dương vật nghi lễ. Nhưng một nghiên cứu do nhà khảo cổ học- giáo sư Naama Goren-Inbar of the Hebrew University of Jerusalem chủ trì đã cho thấy có thể đây là những đồ vật đánh lửa sớm nhất từng được phát hiện.

"Chúng ta biết gì về lửa? Tro, than, những lớp đất (nung) ở trung tâm (giữa nhà hay hang)",
Goren-Inbar trần tình, cô là người nghiên cứu về sử dụng lửa sớm từ nhiều năm nay. Tại những cuộc khai quật mà cô chủ trì tại những địa điểm ở Golan, cô đã tìm thấy chứng cứ sớm nhất về sử dụng lửa ở Euroasia cách đây 750.000 năm. 

Nghiên cứu
hiện thờicủa cô, đăng tải ở tạp chí khoa học Plos One số tháng 5 (đây là tạp chí mở tự do và bài được đánh giá bởi những đồng nghiệp), được gợi ý từ một trưng bày mà cô đã xem ở Bảo tàng Israel cách đây vài năm, nơi cô nhìn thấy những hiện vật đất nung hình que có niên đại TNK IX cách ngày nay (cách đây hơn 8.000 năm), phát hiện ở Sha'ar Hagolan. Những cái que được trưng bày bên cạnh tượng phụ nữ và được mô tả là đại diện cho dương vật.
"Tôi nhìn chúng và nghĩ rằng chúng cần được diễn giải theo cách khác", cô nói.
Kinh nghiệm của cô về sử dụng lửa sớm đã dẫn cô tới kết luận răng đây là một phần trong phức hợp cơ chế đánh lửa, hay những hiện vật giống que diêm đã tạo ra lửa thông qua ma xát/cọ xát.
Mũi khoan dùng để đánh lửa được biết từ những văn hóa Thổ dân ở Úc, người Mỹ bản địa và thậm chí từ Ai Cập cổ đại, cô Goren - Inbar cho biết, nhưng cho tới trước nghiên cứu của cô, chưa có bất cứ dấu vết sớm hơn nào về dụng cụ này.

Mũi khoan đánh lửa được phát hiện trong mộ của Tutankhamun và những hieroglyph của Ai Cập minh họa lửa trên thực tế cũng vẽ mũi khoan đánh lửa theo cô Goren-Inbar. Sự hiện tồn của mũi khoan đánh lửa từ hơn 8 nghìn năm trước cho thấy kỹ nghệ phát triển chật vật qua hàng nghìn năm.

Kiểm tra những vật đất nung hình que bằng kính hiển vi,
Goren-Inbar và đồng nghiệp của cô phát hiện thấy đầu que có những dấu vết dạng đường xoi, dấu hiệu của sự chuyển động quay nhanh phù hợp với diễn giải mới này. 
"Bất cứ vật nào dài mà hẹp đều được quy về biểu tượng dương vật", nhà khảo cổ Yosef Garfinkel of the Hebrew University, người khai quật những que bằng  đất nung ở Sha'ar Hagai đang trưng bày tại the Israel Museum phát biểu.

"Các nhà khảo cổ từng đùa rằng, bất cứ vật gì mà họ không hiểu được tính chất của nó, họ đều gắn nó với ý nghĩa nghi lễ. Diễn giải trước đây của những hiện vật đất nung hình que là một ví dụ điển hình", Yosef nhấn mạnh
 Author:  Asaf Shtull-Trauring | Source: Haaretz [August 08, 2012]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2012/08/earliest-matches-found-at-neolithic.html#.UCgz0aB6XIU 

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Ancient games: an Olympic factfile Những môn thể thao thời cổ: Tệp sự kiện Olympic

Đang lúc London là chủ nhà của cuộc thi Olympic Games lần thứ 30, TS.  Craig Barker,, Bảo tàng Đại học Nicholson và Michelle Kiss, một nhà nghiên cứu có 10 năm kinh nghiệm của Trường Dòng William Carey đã gợi lại tinh thần Olympic cổ xưa bằng cách nhìn lại nguồn gốc của lễ hội thể thao cổ nhất này để có thể cung cấp một số tương đồng cho cuộc thi trong ba tuần này ở London.
[Credit: Getty Images]
  • Cuộc thi Olympic đầu tiên diễn ra vào năm 776 TCN ở Olympia, Hy Lạp, một nơi linh thiêng thờ thần Dớt (Greek god Zeus). Những cuộc thi Olympic được tổ chức 4 năm một lần, và truyền thống đó được duy trì đến ngày nay. Tuy nhiên, đối với những cuộc thi thời hiện đại, các thành phố trên thế giới đua tài nhau để được quyền đăng cai thì những cuộc thi điền kinh của thế giới cổ đại luôn luôn ở Olympia.
  • Olympia nổi tiếng như là nơi thi tài với tầm quan trọng ngày càng gia tăng - tượng thần Dớt được coi là 1 trong 7 Kỳ quan của thế giới cổ đại - trước khi những cuộc thi thể thao bị hoàng đế La Mã Theodosius I bãi bỏ hoàn toàn vào năm 394 SCN, lý do giả định là vì những trò thi này gợi nhắc tới tà giáo. Trong khi người ta nói nhiều về giá trị di sản của London 2012, Olympia và sân vận động điền kinh của nó là địa điểm quan trọng về lịch sử và khảo cổ học.
  • Năm 2102, tin tức nổi lên khi đội bóng chuyền nam của Úc đến London bằng hạng thương gia, còn đồng nghiệp của họ, những vận động viên bóng chuyền nữ ngồi ở hạng thường (economy). Tuy nhiên, trong những cuộc thi tài thời cổ đại đầu tiên, sự bình đẳng giới trong thể thao kém hơn rất nhiều: Nữ giới không được thi. Những người tranh tài được chia thành hai nhóm, thanh thiếu niên (12-18 tuổi) và đàn ông (trên 18 tuổi). Những con ngựa đua cũng được chia thành ngựa non và ngựa trưởng thành.
  • Trong lúc khó có thể  biết cụ thể thành phần của đám đông và khán giả thì có vẻ chắc chắn là chỉ có đàn ông và những cô gái trẻ được phép xem.
  • Trong thời cổ đại, ngọn lửa được cháy suốt trong thời gian diễn ra cuộc tranh tài, và ý tưởng về ngọn đuốc được tái dụng lại ở Amsterdam năm 1928. Cứ bốn năm một lần ngọn lửa được thắp cháy trước đền thờ nữ thần Hera và sau đó đuốc được đưa về thành phố chủ nhà. Cuộc chạy đua tiếp sức rước đuốc không phải có nguồn gốc từ thời cổ đại mà bắt đầu ở cuộc thi Olympic đầy tranh cãi ở Berlin năm 1936
  • Trọng tài được chọn từ cộng đồng dân cư sống ở Elis, khu vực quanh Olympia. "Trọng tài người Elis" buộc những người thi phải chấp hành nghiêm khắc luật lệ: thực hiện đúng thời gian tập luyện, không được gian lận và hèn nhát.
  • Những môn thể thao của Olympics cổ đại bao gồm chạy, ném đĩa, nhảy, ném lao, đánh bốc, thi 5 môn phối hợp, đua ngựa và pankration (hỗn hợp giữa đấm bốc và vật). Đại đa số môn thi gồm chạy, ném đĩa, ném lao thi ở Sân vận động Olympia, còn những môn thi khác được tổ chức ở vùng xung quanh.  
  • Trước khi bắt đầu bất cứ cuộc thi Olympíc nào, người ta cũng tuyên thệ về sự ngừng chiến, tuyên bố mọi cuộc chiến tranh, tranh luận và án tử hình đều phải hoãn lại cho đến khi cuộc thi kết thúc. Sự ngừng chiến này cũng đảm bảo cho vận động viên đến Olympia một cách an toàn trong tháng diễn ra cuộc thi tài. Tuyên thệ ngừng chiến được viết trên đĩa bằng đồng và đặt ở Olympia. Hội đồng Olympic quốc tế đương đại đã tái hồi lại truyền thống ngừng chiến này, và tất cả 193 thành viên LHQQ cũng đồng ý, và lần đầu tiên hợp sức để bảo trợ cho Quyết định Ngừng chiến Olympic đối với 2012 London Olympics.

 Sporting controversies are not new! Famous athletes of antiquity included

  • the sixth-century BC wrestler Milo of Croton, who was said to have died when he was wedged against a tree during a display of strength gone wrong and subsequently devoured by wolves. Đô vật Milo ở Croton, TK 6 TCN, bị chết khi ném  
  • Astylos, also of Croton, who competed at Olympic Games between 488 and 480 BC, but was expelled from his home city when he agreed to compete for Syracuse, and so can lay claim to being the first free-agent in sporting history 
  • Roman emperor Nero, who despite being thrown from his chariot in the 10-horse race at the 67 AD games, was still proclaimed the winner on the grounds that he would have won had he been able to complete the race

Source: The University of Sydney [July 26, 2012]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2012/07/ancient-games-olympic-factfile.html#.UBXatKB6XIU 

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

Vấn đề khảo cổ học (6). Thêm đôi chút về một loại hạt chuỗi

Trong những địa điểm văn hóa Sa Huỳnh, nếu chịu khó rây cát hay đất, các nhà khảo cổ sẽ thu được vô số những hạt chuỗi nhỏ, có những hạt cực nhỏ (mình hay dùng từ cườm tấm để chỉ những hạt nhỏ này), đơn sắc (đen, vàng, tím, đỏ, xanh...), trong suốt hay đục mờ, đục đặc. Đây là những hạt chuỗi mà thuật ngữ KCH tiếng Anh gọi là Indo- Pacific beads.
Những hạt trong suốt màu xanh, đỏ, tím, vàng... dễ nhận biết ngay bằng chất liệu thủy tinh, với những hạt lớn, nếu soi qua nắng còn thấy những bọt khí của thủy tinh gia công kiểu thủ công, nhưng những hạt đục mờ, đục đặc... thì hơi khó, đặc biệt những hạt có màu đất thường gây khó khăn cho người xem khi phải nhận dạng chính xác chất liệu. Vì thế đôi khi để chỉ những hạt chuối nhỏ màu đất này người ta dùng khái niệm pasta.
Mình đã gửi một hạt chuỗi như thế (tìm thấy ở Lai Nghi, Điện Bàn, Quảng Nam thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Sa Huỳnh) cho GS. Qinhui Li để phân tích ở  Center for Sa - Tech Archaeology, Shanghai Institute of Optics and Fine Mechanics, kết quả cho thấy đây là một dạng thủy tinh nhân tạo, tuy nhiên thành phần của nó khác xa so với thành phần của hai mẫu thủy tinh khác của địa điểm Núi Sen (một địa điểm giai đoạn muộn của văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa). Như vậy, những hạt chuỗi màu đất này đều là hạt chuỗi thủy tinh và không nên dùng khái niệm pasta cho thêm phức tạp vấn đề. Và như nhiều nhà nghiên cứu đã nói, có nhiều truyền thống chế tác thủy tinh thời cổ ở Việt Nam và vấn đề là cần thêm nhiều những phân tích như thế này.

 
Mẫu gửi đi
Hạt chuỗi Gò Mả Vôi, Duy Xuyên, Quảng Nam (ảnh của A. Reinecke)
Hạt chuỗi Lai Nghi, Điện Bàn, Quảng Nam
Hạt chuỗi Lai Nghi (ảnh của A. Reinecke)

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Trống đồng của ai - Chả của ai!

Các nhà khảo cổ Ta và Trung Quốc bàn thảo từ nhiều năm nay quanh những vấn đề trống đồng sớm nhất là trống đồng nào, trống đồng đi từ đâu, đến đâu và về đâu.

Ai cũng cố chứng minh cho luận điểm của mình, cả Việt Nam, cả Trung Quốc đều cho rằng trống đồng có nguồn gốc từ đất nước mình.

Tất nhiên, xác định chính xác niên đại trống là vấn đề rất khó, có thể dựa vào hình dáng, hoa văn trang trí, thành phần hợp kim... và nếu may mắn hơn nữa có thể dựa vào những đồ vật đi kèm trong cùng tầng đất. Rất tiếc, đa phần trống được tìm một cách ngẫu nhiên, những vật đi kèm nhiều khi không ai biết đích xác chúng nằm trong, nằm dưới, nằm trên hay nằm bên... nói tóm lại là tư liệu địa tầng và bối cảnh cực kỳ mơ hồ. 

Vì thế, sau 1000 năm nữa, những vấn đề đặt ra ngày hôm nay về trống đồng sẽ vẫn nguyên như vậy!

Tuy nhiên, có cả một không gian trống đồng rộng lớn, bao gồm khu vực Vân Nam, Lưỡng Quảng (TQ) và Bắc Việt Nam, một không gian được coi là nôi của những tộc Bách Việt. Vẫn cùng là trống, cùng là nhạc khí và cùng là đồ nghi lễ, ở mỗi vùng trống đồng vẫn có những nét riêng, mỗi truyền thống trống đồng với những đặc điểm riêng cùng góp phần tạo hình không gian văn hóa trống đồng rộng lớn và đa dạng, không chịu bất kỳ sự chi phối nào của biên giới chính trị/hành chính ngày nay.

 Bảo tàng tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc
 Bên trong bảo tàng

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

Mỗi hiện vật một câu chuyện – Kendi, ấm hay bình, bình hay ấm hay vừa ấm vừa bình

   Khái niệm Kendi xuất phát từ Kundi, Kundi lại có gốc chữ Phạn Kundika có nghĩa là bình nước. Trong tiếu tượng học Hindu, Kundik được xem là thuộc tính của thần Brahma và Siva, trong Phật giáo nó là thuộc tính của Avalokitesvara. Nói chung đây là đồ dùng để uống truyền thống ở  Đông Nam á không có quai nhưng có thể có vòi, tên gọi kendi luôn gắn với đồ để uống có vòi. ở Indonesia ngày nay, kendi được dùng để chỉ đồ dùng uống nước gia dụng và nghi lễ. Có nhiều khả năng kendi có vòi Đông Nam á là một loại hình tiến hóa của dạng bình nước Ấn Độ có nguồn gốc từ  kendi Lưỡng Hà.
 Tóm lại, kendi là thuật ngữ dùng để gọi loại bình không có quai và tay cầm, có hoặc không có chân đế, cấu tạo gồm hai bộ phận cơ bản là bầu rỗng để đựng chất lỏng và một vòi. Vòi được gắn liền và thông với bầu để rót chất lỏng từ trong bầu ra. Kendi vừa là đồ gia dụng vừa là đồ nghi lễ. Trên một số diêu khắc Champa và Đông Nam á khác, hình tượng kendi hoặc tồn tại độc lập, hoặc được miêu tả trong cảnh hành lễ.
  Kendi Champa (thuộc nhóm gốm 2) thường gặp ở những địa điểm giai đoạn muộn từ thế kỷ 3 trở đi. Địa điểm Trà Kiệu cũng là nơi cung cấp bộ sưu tập lớn nhất về kendi được biết cho đến nay ở khu vực miền Trung Việt Nam (trước đây trong các thông báo và nghiên cứu chúng tôi gọi loại hình này là ấm không quai, song xét về chức năng khái niệm ấm không thích  hợp lắm, có lẽ dùng tên gọi bình- kendi thì hợp lý hơn thể hiện được công dụng thực và chức năng biểu trưng của bản thân vật dụng). 
  Chất liệu và màu sắc của kendi tương tự như vò. Kendi thường được chế tác bằng kỹ thuật xoay, vòi và chân đế làm rời, sau đó gắn vào. ở một số mảnh dấu vết kỹ thuật còn lại cho thấy sau khi tạo dáng sản phẩm, người thợ còn miết láng ở một số chỗ cần thiết để tạo bề mặt nhẵn hoặc quét lên bề mặt gốm một lớp áo sét loãng để tăng thêm độ bền và yếu tố mỹ thuật cho sản phẩm.
Kendi thường có miệng hẹp những thành miệng loe rộng, rìa miệng dày và thường lõm hình lòng máng, một số có miệng tạo gờ nổi bản rộng thẳng xuống. Cổ kendi cao, hình ống và hơi thắt lại ở giữa. Thân hình cầu tròn hay dẹt. Vòi kendi có hình dáng khá đa dạng, bên cạnh loại vòi thẳng còn có loại thon dài rồi vòi tròn ngắn ở đầu có gờ tròn nổi. Trong sưu tập kendi các địa điểm giai đoạn sau Công nguyên ở miền Trung Việt Nam chưa thấy loại kendi có vòi kép hay kendi có vòi hình bầu vú. Những kendi có chân đế thường thuộc dạng chân đế rỗng, cao và choãi. Kendi ở giai đoạn sớm đa dạng hơn kendi ở giai đoạn muộn. Nhìn chung kendi miền Trung Việt Nam đơn giản hơn về loại hình so với kendi ở các nước Đông Nam á khác.
Hoa văn trang trí rất đơn giản, thường chỉ là 1 hay 2 đường vạch chìm song song với nhau chạy vòng quanh ở giữa phần vai và thân kendi. Đôi khi giữa hai đường này có xen vạch hình sóng nước đơn hoặc kép.
 Những kendi gốm nhiều loại cũng phát hiện được nhiều trong các di tích văn hoá Óc Eo có mặt trong suốt thời kỳ phát triển của văn hoá này (thế kỷ 2 đến đầu thế kỷ 7) và giai đoạn sau OE. Theo TS. Lê Thị Liên, chức năng của những kendi này khá đa dạng, tín ngưỡng tôn giáo, sinh hoạt, tuỳ táng và dựa trên việc tiếp nhận các ảnh hưởng từ Ấn Độ (sớm nhất là từ vùng tây bắc Ấn) cư dân địa phương đã sáng tạo ra nhiều loại khác nhau.  
(Hình ảnh lấy từ sách Kendi, 2007)

 Vòi kendi trong sưu tập gốm Hồ Tấn Phan (Huế)

Về một bài nghiên cứu trên Tia Sáng

Trên Tia Sáng có một bài của "nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương" với nhan đề "Truy tìm nguồn gốc loài thú lạ trên mái chùa Một Cột"
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=5071&CategoryID=41

Thực ra, GS. Hà Văn Tấn đã có bài nghiên cứu về vấn đề này cách đây khá lâu, ông Trần Trọng Dương khi viết về chủ đề này đã không chịu tìm hiểu tài liệu của người đi trước để biết và để đánh giá những luận điểm của người nghiên cứu khác, để kế thừa hay phản bác (yêu cầu tối thiểu của một nghiên cứu là phải có phần lịch sử nghiên cứu vấn đề). Tia Sáng cũng hồ đồ khi đăng bài mà không xem xét, tạp chí Tia Sáng là tạp chí khoa học của Bộ Khoa học và Công nghệ chứ không phải là một trang báo mạng bình thường.

Đây là bài của GS. Hà Văn Tấn (copy từ fb của TS. Nguyễn Hồng Kiên)

“XI VẪN” TRONG BÀI THƠ VỀ CHÙA MỘT CỘT CỦA NHÀ SƯ HUYỀN QUANG

by Nguyễn Hồng Kiên on Thursday, April 12, 2012 at 11:54am ·
   
Vị tổ thứ ba của phái thiền Trúc Lâm thời Trần, ngài Huyền Quang, có một bài thơ rất hay về chùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột, biểu hiện một triết lý thiền sâu sắc. Bài thơ đó đã được công bố nhiều nơi, ở đây tôi xin phép không nhắc lại, mà chỉ nói tới hai câu thứ ba và thứ tư, tả cảnh chùa:
Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.


Trong tập Thơ văn Lý Trần xuất bản gần đây, hai câu đó được dịch nghĩa như sau:
Bóng xi vẫn nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá.
Hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Dịch như thế là được, không có vấn đề gì.

Vấn đề là ở chỗ chú thích: “Xi vẫn” hoặc còn gọi là xi vĩ, là hình những con cú được chạm hoặc đắp nổi trên nóc đình, chùa. Ở chùa Một Cột ngày nay là hình con rồng.

Do hiểu “xi vẫn” là hình con cú. Huệ Chi đã dịch hai câu trên trong bài thơ như sau:
In ngược hình chim, gương nước lạnh,
Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn (1).

Mới đây, trong quyển Những ngôi chùa danh tiếng, khi viết về chùa Một Cột, Nguyễn Quảng Tuân đã chép lại bài thơ dịch của Huệ Chi và bình luận thêm như sau:
 “Qua bài thơ chúng ta thấy tác giả tả cảnh chùa Diên Hựu với bóng xi vẫn (hình một loài chim) nằm ngủ in ngược xuống dưới mặt hồ trông như tấm gương vuông lạnh giá và với hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt”. Ngày nay ao Bích Trì, cầu vồng và bảo tháp đã không còn. Và các con Xi vẫn ở trên mái đã được thay thế bằng những con rồng”(2).

Có thật Xi vẫn là hình chim cú, như Huệ Chi nói: hay hình một loài chim, như Nguyễn Quảng Tuân nói hay không?

Đúng là có một loài cú mèo mà tên Trung Quốc đọc theo âm Hán Việt là Xi hưu. Nhưng trong trường hợp Xi vẫn thì Xi không phải là một loài chim, càng không phải là cú.
Ai lại đắp hình chim cú lên nóc đình chùa !  

Xi cũng có khi viết là () ở đây là một loài động vật ở biển, được nói đến trong truyền thuyết Trung Quốc.
Về động vật truyền thuyết này, có sách nói đó là loài cá, có sách nói đó là loài thú.

Sách Loại yếu chép: “Ở BIỂN ĐÔNG có loài cá giống con Xi, phun sóng tức mưa xuống, từ đời Đường về sau đắp tượng nó ở trên nóc nhà”.
Sách Tô chí diễn nghĩa chép: “Xi là loài thú ở biển, vua Hán Vũ Đế xây điện Bá Lương cho Xi vĩ là tinh của nước, có thể trừ được hoả tai, nên đặt hình tượng của nó ở trên điện”.

Trong khi đó, sách Đường hội yếu lại viết: “Sau khi điện Bá Lương thời Hán bị hoả tai, CÓ VU SƯ NGƯỜI VIỆT NÓI RẰNG trong biển có loài cá cuộn đuôi như con Xi, đập vào sóng thì mưa xuống, bèn làm hình tượng của nó trên nóc nhà để làm điềm trừ lửa “.

Như vậy, xi là loài động vật biển mà theo truyền thuyết, có thể gây ra mưa, nên  người Trung Quốc đắp hình nó trên nóc nhà với ý nghĩa phòng ngừa hoả hoạn.

Chú thích Thơ văn Lý Trần ghi rằng: “Xi vẫn hoặc còn gọi là Xi vĩ. Thực ra Xi vĩ  là hình đuôi con Xi, còn Xi vẫn là hình miệng con Xi.
Tuy vậy, do thói quen, người ta thường gọi lẫn lộn xi vẫn với xi vĩ.
Chẳng hạn, sách Cựu Đường thư của Lưu Tuân, người thời Ngũ Đại, chép năm Khai Nguyên thứ 14 (năm 726), có một trận gió lớn làm cho các xi vẫn trên của Đoan Môn rơi hết. Cũng sự kiện đó, trong Tân Đường thư, Âu Dương Tu đời Tống lại chép là các Xi vĩ rơi hết.

Trong thực tế, sự biến chuyển từ hình Xi vĩ đến hình Xi vẫn là một quá trình khá dài trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc.
Vì chùa Một Cột thời Trần, theo ngài Huyền Quang, có hình Xi vẫn trên mái, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng nên biết đến sự ra đời và biến chuyển của Xi vẫn trong kiến trúc Trung Quốc.

Như trên đã dẫn, một số sách có nói về hình Xi vĩ (đuôi con Xi) trên điện Bá Lương thời Hán, nhưng các nhà lịch sử kiến trúc Trung Quốc đã nghi ngờ về điều này.
Họ cho rằng xi vĩ chỉ xuất hiện trên nóc các kiến trúc từ thời Tấn về sau mà chưa có ở thời Hán.
Họ dựa vào câu chép trong sách Bắc sử (Vũ Văn Khải truyện): “Từ Tấn về trước chưa có Xi vĩ ”, và câu chép trong Tấn thư (An Đế kỷ): “Tháng 6 năm Nghĩa Hy thứ nhất (năm 405) sét đánh vào Xi vĩ ở nhà Thái miếu”. Những câu này trong các bộ chính sử xác nhận sự xuất hiện của Xi vĩ ở đời Tấn.


Dựa vào các di tích kiến trúc, đặc biệt là dựa vào các hình nhà trong các bích hoạ, các nhà lịch sử kiến trúc Trung Quốc đã phác hoạ được con đường phát triển của Xi vĩ (3).
Đại thể từ thời Tấn đến Nam Bắc triều, hình xi vĩ còn khá đơn giản, chỉ là hai cái mấu cong ở hai đầu nóc nhà (xem hình dưới).
Đến đời Tuỳ, Đường, xi vĩ đã phát triển đến các hình thức đẹp, có dạng cao lớn, phía sau (tức phía trở ra hồi nhà) thường có hai hàng kỳ nổi lên. Còn phía trước, có những hình trang trí như những u tròn, được gọi là “bảo châu” (xem hình dưới).
Nhiều ngôi chùa cổ ở Nhật Bản còn giữ được kiểu Xi vĩ đời Đường, mà người Nhật gọi là shibi. Tôi đã có dịp xem các shibi như vậy ở chùa Horyu, Tosho, tại Nara, Nhật Bản.

Nhưng từ thời Trung Đường, hoặc cuối Đường, hình dạng Xi vĩ có sự biến chuyển quan trọng.
Phía sau của Xi vĩ không thay đổi mấy nhưng phía trước dần dần trở thành miệng con thú đang há ra. Như thế là Xi vĩ đã trở thành Xi vẫn.
Từ cuối Đường đến Tống, hình Xi vẫn càng ngày càng đa dạng. Trong tấm đuôi ngược lên phía trên, thường có những dạng có vẩy, làm cho Xi vẫn đã khá gần với hình rồng (xem hình dưới).


Trong Doanh tạo pháp thức của Lý Minh Trọng soạn năm 1100, có mục nói về Xi vĩ, nhưng cũng đã đề cập đến Long vĩ (đuôi rồng), mà thực chất là Long vẫn (miệng rồng).
Qua các đời Nguyên, Minh, Thanh, dần dần có những Long vẫn, hay đúng ra là hình rồng, với các dạng thức hoàn thiện (xem hình).


Đời Thanh, gọi chung Xi vẫn hay Long vẫnChính vẫn hay Đại vẫn.

Như vậy là chúng ta đã điểm qua lịch sử phát triển của Xi vĩXi vẫn, một hình thức trang trí hai đầu nóc nhà, trong kiến trúc Trung Quốc.

Điều chúng ta quan tâm ở đây là hình thức trang trí nóc nhà đó ảnh hưởng đến kiến trúc hay không? Liệu bài thơ của ngài Huyền Quang có phải đã đưa ra một sự miêu tả hiện thực hay từ Xi vẫn ở đây chỉ là một từ có sẵn mà tác giả mượn để chỉ các trang trí trên nóc nhà nói chung?
Tôi nghiêng về ý kiến cho rằng trên nóc chùa Một Cột thời Trần thực đã có các hình Xi vẫn.
Các ảnh hưởng của kiến trúc Trung  Quốc đến kiến trúc Việt Nam thời kỳ Lý Trần rõ ràng không thể phủ nhận. Ta có thể thấy được điều này qua các tháp hiện còn ảnh hưởng của kiến trúc Trung Quốc đến Việt Nam trong thời kỳ Lý Trần chỉ có thể là những ảnh hưởng của kiến trúc từ cuối Đường đến Tống Nguyên.
Mà trong giai đoạn này của lịch sử kiến trúc cổ Trung Quốc, kiểu trang trí xi vẫn trong thơ Huyền Quang là hoàn toàn hợp lý. Điều đó có nghĩa là trên nóc chùa Một Cột thời Trần, có hình miệng con xi (xi vẫn) chứ không phải là hình đuôi con xi (xi vĩ) nữa. Mà đã là hình miệng con xi thì trên thực tế, rất gần với hình rồng.
Phải chăng hình rồng có vảy thời Trần là có ảnh hưởng nào đó của Xi vẫn thời Tống, Nguyên?


Một điều đáng suy nghĩ nữa là trên nóc chùa Một Cột thời Lý là đã có Xi vẫn hay chưa? Chúng ta biết rằng chùa Một Cột thời Lý có quy mô to lớn hơn và khác với chùa Một Cột ngày nay.
Quy mô đó có thể thấy qua những điều miêu tả trong Đại Việt sử ký toàn thư và trong văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi, Hà Nam. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, quyển 3, tr.15a) chép: “Mùa Thu, tháng Chín (năm Long Phù thứ năm, 1105), làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu... Bấy giờ vua (Lý Nhân Tông) cho chữa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ, đào hồ ở đài hoa sen, gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy chung quanh, ngoài hành lang lại đào hồ gọi là Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây bảo tháp”. Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (dựng năm 1122) cũng có đoạn tương tự: “Mở chùa Diên Hựu ở vườn Tây Cấm, dấu theo quy mô thủa trước, lo toan thánh ý ngày nay. Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao chồi lên một cột đá, trên cột có một đoá hoa sen nghìn cánh xoè ra. Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm, trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang vẽ bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Ở sân trước cầu, hai bên tả hữu, xây tháp báu lưu ly”.


Như vậy là ở chùa Một Cột thời Lý, có hai ngôi tháp được xây dựng năm 1105. Trong thơ của Huyền Quang thời Trần có nói đến hai ngôi tháp, hẳn đó là những ngôi tháp có từ thời Lý. Có điều là ngôi chùa Một Cột thời Trần không còn là ngôi chùa thời Lý. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, q.5.tr.16b) chép: “Năm Kỷ Dậu (Thiên ứng Chính Bình thứ 18, 1249), mùa Xuân, tháng Giêng, trùng tu chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ”. Nói rằng chùa được trùng tu trên nền cũ, có nghĩa là ngôi chùa trước đó không còn nữa.

Mà ngày xưa, trùng tu, tức xây dựng lại, không ai bắt buộc phải theo đúng hình mẫu cũ như công việc trùng tu di tích hiện nay. Do đó, chúng ta hoàn toàn không thể biết được những Xi vẫn có trên ngôi chùa thời Trần đã tồn tại trên ngôi chùa thời Lý hay chưa. Nếu có, thì cũng là Xi vẫn, đầu kiểu khác, chứ không thể là Xi vĩ.

Viết bài này, tác giả không chỉ nhằm đính chính một chỗ hiểu sai trong bài thơ nổi tiếng về chùa Một Cột của ngài Huyền Quang, mà muốn gợi ra một số vấn đề về kiến trúc Phật giáo Lý Trần, một giai đoạn rực rỡ trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.


(*) Đã in trong Nghiên cứu Phật học, số 3/1991.

(1) Thơ văn Lý Trần, Tập II, quyển Thượng- Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.1989.tr.705.

(2) Nguyễn Quảng Tuân. Những ngôi chùa danh tiếng- Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh,1990, tr.18.

(3) Về quá trình biến chuyển của Xi vĩXi vẫn, có thể xem bài “Trung Quốc cổ đại kiến trúc đích tích sức” (Hình trang trí nóc nhà trong kiến trúc cổ đại Trung Quốc) của Kỳ Anh Đào, trong tạp chí Văn vật số 3, 1978, tr.62-70.

Bonus
Note của TS. Nguyễn Hồng Kiên ĐÁNG LƯU Ý là:
"Sách Loại yếu chép: “Ở BIỂN ĐÔNG có loài cá giống con Xi, phun sóng tức mưa xuống, từ đời Đường về sau đắp tượng nó ở trên nóc nhà”.
Sách Tô chí diễn nghĩa chép: “Xi là loài thú ở biển, vua Hán Vũ Đế xây điện Bá Lương cho Xi vĩ là tinh của nước, có thể trừ được hoả tai, nên đặt hình tượng của nó ở trên điện”.
Trong khi đó, sách Đường hội yếu lại viết: “Sau khi điện Bá Lương thời Hán bị hoả tai, CÓ VU SƯ NGƯỜI VIỆT NÓI RẰNG trong biển có loài cá cuộn đuôi như con Xi, đập vào sóng thì mưa xuống, bèn làm hình tượng của nó trên nóc nhà để làm điềm trừ lửa “."
Nguồn: 
http://www.facebook.com/notes/nguy%E1%BB%85n-h%E1%BB%93ng-ki%C3%AAn/xi-v%E1%BA%ABn-trong-b%C3%A0i-th%C6%A1-v%E1%BB%81-ch%C3%B9a-m%E1%BB%99t-c%E1%BB%99t-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-s%C6%B0-huy%E1%BB%81n-quang/229652080475741?notif_t=note_reply