Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Tục đóng cọc sọ người trong thời đại đá?

Một vài sọ người cắm trên cọc gỗ đã được phát hiện dưới đáy hồ nước Thời đại Đá ở miền trung Thụy Điển, loại phát hiện này được xác định lần đầu tiên trên thế giới.
“Chúng tôi tìm thấy hai hộp sọ vẫn còn cọc gỗ đâm xuyên đến đỉnh,” nhà khảo cổ Fredrik Hallgren, người chủ trì khai quật cùng với với Kulturmiljövård Stiftelsen Mälardalen (Hội Bảo tồn Văn hóa của Mälardalen ‘) nói với tờ The Local.
Những chiếc sọ và hiện vật khác, bao gồm xương động vật hoang dã, đã được thu thập tại địa điểm khai quật Kanaljorden, thị trấn Motala ở miền trung Thụy Điển.
Theo kết quả định niên đại C14, hộp sọ và những hiện vật khác được ước tính có khoảng 8.000 tuổi.
Theo Hallgren: “Theo như chúng tôi biết, phát hiện này là duy nhất trên thế giới. Chưa bao giờ có một phát hiện kiểu này”,
Những chiếc sọ này được phát hiện với cọc xuyên từ đỉnh đầu xuống đến cổ.

Trong một trường hợp khác một xương thái dương của một cá thể nữ được đặt bên trong một hộp sọ cá thể nữ khác.
Hallgren cùng các đồng nghiệp của mình đã xác định được hộp sọ hoặc mảnh vỡ hộp sọ của 11 cá thể, bao gồm cả nam giới và phụ nữ và ở độ tuổi từ trẻ sơ sinh đến tuổi trung niên.
Những xương này được tìm thấy trong một hồ nước cạn trong thời kỳ Đồ đá sớm, mà dường như đã phục vụ như là một địa điểm nghi lễ mai táng.
Hallgren cũng cho rằng: “Rõ ràng hồ này như một thánh địa đối với cư dân sống ở đây lúc bấy giờ”.
Các nhà khảo cổ đang đưa ra hai lý thuyết để giải thích lý do tại sao những hộp sọ người có cọc gỗ đâm xuyên trước khi được mang đặt ở đáy hồ.
“Lý giải thứ nhất cho rằng đây là một phần của dạng nghi lễ cải táng khi mà những hộp sọ được tách ra từ thi thể người chết đã được hung táng đâu đó”, Hallgren nói.
“Sau khi phần mô mềm tan rữa, hộp sọ đã được lấy ra và đặt trên cọc gỗ trước khi được mang đi để đặt trong hồ cạn.”

Một giả thuyết khác là những hộp sọ này được coi là biểu tượng được mang về từ cuộc chiến với những nhóm cư dân khác trong vùng.
“Đó có thể là một cách để chứng minh sự thành công trên chiến trường,” Hallgren giải thích.
Những phân tích hiện đang tiến hành để xác định xem các xương còn lại của người dân địa phương hoặc những người đến từ nơi khác. Sử dụng kỹ thuật DNA và phân tích khác, các nhà khảo cổ cố gắng tìm hiểu những dấu tích tìm được ở địa điểm này thuộc về một dòng họ hay họ là những người không liên quan đến nhau.
Hallgren nói rằng, theo như ông biết, việc phát hiện những hộp sọ có cọc gỗ xuyên có niên đại thuộc giai đoạn này của lịch sử là chưa từng có. “Có những ví dụ khác  về đầu người có cọc gỗ xuyên, nhưng hầu hết là từ thời thuộc địa”.
Việc khai quật địa điểm cư trú Kanaljorden được tiến hành từ năm 2009 và cách 500 mét từ nhà ga xe lửa trung tâm Motala. Địa điểm này có niên đại Thời đại đá giữa, vào lúc đó khu vực quanh Motala được coi là nơi sinh sống lý tưởng.
Chưa có nông nghiệp và cư dân sinh sống bằng đánh bắt cá, săn bắn và hái lượm.
Một địa điểm khác được khai quật gần đó ở Motala đã  thu hút được sự chú ý rộng rãi năm 2010 khi các nhà khảo cổ phát hiện ra một thứ mà các nhà khảo cổ cho là một dương vật giả thời đại đá.
Hiện vật này dài 10-11 cm (4 inch) và có đường kính 2 cm làm từ sừng hươu.
Author: David Landes | Source: The Local [September 19, 2011]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2011/09/dig-reveals-human-skulls-mounted-on.html
Lâm Thị Mỹ Dung dịch

Archaeological Beauty (7) – Ghi chú về vàng Sa Huỳnh

Văn hóa Sa Huỳnh - nền văn hóa của những cộng đồng cư dân sinh sống trên dải đất miền Trung trong thời gian từ 2500 đến 2000 năm cách ngày nay (cùng thời với văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam và văn hóa Dốc Chùa (không phải văn hóa Óc Eo) ở miền Nam Việt Nam)).
Một trong những đặc điểm nổi bật của những nhóm cư dân này là sự ưa chuộng đồ trang sức  từ nhiều chất liệu: mã não, agate, Amethyst, Crystal, Nephrite…
Vàng không phải là chất liệu phổ biến và cho tới nay trang sức bằng vàng mới chỉ tìm thấy trong vài địa điểm của văn hóa Sa Huỳnh với số lượng vài ba cá thể trong mỗi địa điểm. Cho tới nay chỉ có địa điểm Lai Nghi cung cấp cho chúng ta một số lượng đáng kể hạt chuỗi và khuyên tai bằng vàng. Đồ trang sức bằng vàng trong văn hóa Sa Huỳnh được làm theo ba cách, đó là  khuyên tai chế tác từ dây vàng đặc và hạt chuỗi chế tác bằng cách dùng lá vàng bọc bên ngoài lõi đất sét (?) và hạt chuỗi chạm lộng.
Do chưa có những phân tích thành phần vàng nên chưa có những câu trả lời về nguồn gốc của những trang sức bằng vàng , nhưng những so sánh loại hình của khuyên tai dây xoắn Lai Nghi với những khuyên tai đồng dạng ở Prohear (Cămpuchia) và Giồng Lớn (Bà Rịa-Vũng Tàu)… cho thấy có khả năng đây là hàng nhập khẩu.
Kiểu chế tác trang sức vàng bằng cách sử dụng những lá vàng mỏng phủ bên ngoài những lõi đất hay lõi làm bằng hợp chất nào đó của Sa Huỳnh sau này rất phổ biến trong giai đoạn Champa.
Hình ảnh trang sức bằng vàng ở Lai Nghi
  Hai trong 4 khuyên tai phát hiện ở Lai Nghi (Điện Bàn, Quảng Nam)




Khuyên tai cho thấy chúng được làm từ dây đồng đặc, hạt chuỗi được cuốn từ lá vàng mỏng xung quanh một lõi đất tạo hình từ trước. Để phân tích thành phần các nhà khảo cổ chỉ cần lấy một vẩy vàng nhỏ từ hiện vật. Mỗi mẫu phân tích giá khoảng 300 đô la Mỹ. 12 mẫu đã được lấy từ 12hạt chuỗi và khuyên tai Lai Nghi, 01 mẫu khác lấy từ hạt chuỗi Gò Mả Vôi (Duy Xuyên, Quảng Nam).

Khuyên tai ở Prohear (Cămpuchia) (ảnh của Andreas Reinecke)

Lâm Thị Mỹ Dung

Khuôn đúc Vườn Chuối

Hiện vật Vườn Chuối đang trong quá trình xử lý, khai quật có cái hay và bất ngờ của khai quật, nhưng nhiều khi hậu khai quật còn lắm cái bất ngờ và độc đáo hơn nhiều.
Vườn Chuối là một trong những địa điểm quan trọng của văn hóa Đồng Đậu và lần khai quật này cho thấy, lớp văn hóa Gò Mun ở đây cũng rất ấn tượng. Số lượng gốm Gò Mun sớm và Gò Mun điển hình được tìm thấy nhiều ở các lớp văn hóa trên (lớp đào từ 1-5). Đặc biệt có 01 khuôn đúc bằng đá sa thạch tuy không còn nguyên vẹn nhưng vẫn thấy rõ vật đúc là 01 rìu, trên phần họng tra cán có những họa tiết trang trí những hình chữ C uốn móc hai đầu nằm ngang. Khuôn đúc được tìm thấy ở lớp 5, nơi có nhiều mảnh gốm Gò Mun.
Đồ đồng được trang trí xuất hiện trong văn hóa Gò Mun và phát triển rực rỡ trong văn hóa Đông Sơn, tuy nhiên khuôn đúc bằng đá sa thạch với  âm bản vật đúc có họa tiết trang trí thì chưa được phát hiện nhiều.
Lần khai quật Vườn Chuối năm 2001 cũng phát hiện trên một mảnh đá dạng bàn mài có họa tiết trang trí, tuy nhiên dựa vào hình dáng hiện vật, khó có thể cho đây là khuôn đúc. Phải chăng đây là bản phôi của khuôn đúc?
Hình ảnh


Vật đúc với họa tiết hoa văn

Đá dạng bàn mài có hình khắc hoa văn, Vườn Chuối khai quật năm 2011 (ảnh Nguyễn Xuân Mạnh)

“Đôi tình nhân ở Valdaro” 6.000 năm tuổi cần một ngôi nhà mới

Suốt  6.000 năm qua, đôi tình nhân trẻ ôm nhau trong một vòng tay vĩnh cửu, dấu kín sau ánh mắt mọi người. Vào cuối tuần qua đôi tình nhân từ Valdaro – đặt theo tên của một làng nhỏ gần Mantua, miền Bắc Italy, nơi họ được phát hiện – được trưng bày lần đầu tiên cho công chúng.
Đôi tình nhân trên thực tế là hai bộ xương người, có niên đại từ thời đại Đá mới, được tìm thấy tại một nghĩa địa nhỏ làng Valdaro năm 2007, chôn sát cùng nhau, mặt đối mặt tay trong tay chân nối chân. Họ được trưng bày tại lối vào của Bảo tàng khảo cổ Mantua, nhờ vào nỗ lực của Hiệp hội Đôi tình nhân ở Mantua, tìm kiếm  ngôi nhà thường trú cho cặp vợ chồng cổ.
Khi mới phát hiện, nhiều người nghĩ rằng cặp đôi này đã bị giết chết. Điều đó thích hợp với lịch sử của một vùng nước Ý nổi tiếng với những câu chuyện tình bi thảm. Mantua là thành phố nơi Romeo bị lưu đày và được báo rằng Juliet đã chết. Nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi đã chọn nơi này làm địa điểm cho opera Rigoletto của mình, một câu chuyện khác về tình yêu bất hạnh và cái chết.

Tuy nhiên, những nghiên cứu sau đó cho thấy rằng những bộ xương không có bất kỳ dấu hiệu của một cái chết bạo lực. Họ là một người phụ nữ và một người đàn ông, tuổi từ 18 đến 20. Một số người nghi ngờ rằng họ đã chết cùng nhau, ôm chặt nhau trong một đêm đông giá lạnh. Giáo sư Silvia Bagnoli, chủ tịch Hiệp hội Đôi tình nhân ở Mantua không loại trừ khả năng này nhưng bà nói rằng có nhiều khả năng các bộ xương đã được đặt ở vị thế đó sau cái chết.
 Bí ẩn này khó có thể giải mã, Hiệp hội Đôi tình nhân ở Mantua đã vận động để đôi tình nhân có quyền sở hữu một nơi chốn riêng. Theo Bagnoli, € 250.000 là số tiền đủ cho một trung tâm trưng bàyvà 200.000 € là để trả cho một không gian đa phương tiện để kể với thế giới câu chuyện bí ẩn của đôi tình nhân thời tiền sử.
 
Source: Worldcrunch [September 12, 2011]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2011/09/6000-year-old-lovers-of-valdaro-need.html

Dọc đường khảo cổ (3) Trục vớt tàu đắm Cù Lao Chàm


Ảnh đĩa gốm Chu Đậu trục vớt ở Cù Lao Chàm (hiện vật Bảo tàng Quảng Nam)
Đúng cái năm mình khai quật Bãi Làng cũng là lúc có cuộc khai quật tàu đắm ở ngoài khơi Cù Lao Chàm để trục vớt đồ gốm Chu Đậu (do một hay vài thuyền nước ngoài tận dụng cơ hội nhà Minh bế quan tỏa cảng ăn hàng từ một cảng nào đó ở miền Bắc Việt Nam ra khơi xa tới tận châu Âu – bằng cớ là một lọ hoa tuyệt đẹp của gốm Chu Đậu đã có mặt ở Istanbul). Không may, một số trong những tàu đã bị đắm chìm dưới lòng biển.
Từ đảo Cù Lao Chàm ra tới chỗ tàu trục vớt khá xa, đồ trục vớt được phải mang về một xà lan đậu gần đảo để làm sạch và phân loại, tại tọa độ của tàu đắm dòng chảy, gió, bão rất bất thường, xà lan không thể neo đậu an toàn và thiếu nguồn nước ngọt.
Lúc đi tiết trời thuận lợi, sóng khẽ, chỉ đôi lúc vài tia sóng bất chợt giật mình níu mạn tàu, mọi người trò chuyện rôm rả, Thầy nói đôi chút về ngành khảo cổ học dưới nước, mình nhớ lại chuyến thăm cơ sở khai quật tàu đắm ở Malai hồi năm 1994 và cuộc gặp gỡ với TS. Dizon – một chuyên gia khảo cổ người Philippines(Philippines cũng là nước có division về underwwater archaeology phát triển nhất ở Đông Nam Á) ở tập huấn Kuala Lumpur, mải chuyện con tàu đến nơi lúc nào không biết.
Tàu đồ sộ, máy móc la liệt, thủy thủ và thợ máy người Tây anh nào anh nấy to vật to vã, bên cạnh họ các anh khảo cổ người Việt dáng trông e ấp.
Mình gần như được một bác thủy thủ nhấc bổng lên từ chiếc tàu con và cứ thế bác cắp mình như cắp một con nhái bén tiến thẳng vào phong khánh tiết của tàu lớn (sau này mình được nghe giải thích vì đến gần nửa năm nay, trên tàu không có bóng dáng của bất kỳ giống Cái nào), gì chứ những vụ như thế này mình đã xem phim và đọc truyện rồi nên thấy phình phường. Bác thủy thủ này tuy vậy rất lịch thiệp, bác mời mình ăn và uống tới tấp, cứ làm như mục đích ra tàu của mình chỉ là để mục kích công việc ẩm thực ở đây. 
Cả đoàn được hướng dẫn tận tình xem nơi làm việc, nơi ở và theo dõi qua màn hình những hoạt động của thợ lặn làm việc dưới đáy biển. Đồ dùng chuyên dụng, máy móc phức tạp và chuyên gia ra chuyên gia, khảo cổ học trên đất liền vất vả tốn kém một thì khảo cổ học dưới nước vất vả, tốn kém mười và thêm cả nguy cơ rủi ro cao.
Thợ lặn chuyên nghiệp lần này là những người Anh, sau mỗi lần lặn họ phải sống trong những lồng đặc biệt để tránh sự thay đổi áp suất đột ngột. Lặn sâu ở biển Đông rất nguy hiểm và phức tạp, không như cảnh trên phim khai quật tàu đắm ở Địa Trung Hải – anh thợ lặn lặn xuống sau một hồi ngoi lên, tháo mặt nạ cười lấp lánh, trên tay là một bình đáy nhọn hai quai (amphora - đựng rượu xuất đi khắp vùng Đông và Nam Âu từ cách đây gần 3000 năm).
Đang tham quan thì được lệnh quay về ngay, chả ai hiểu đầu cua tai nheo thế nào nhưng rồi đều vội vã uống nước, thu dọn đồ lề.
Yên vị trên tàu, chủ tàu giải thích lý do về sớm hơn dự định vì xuất hiện một dòng chảy ngầm nghịch.
Lần đi yên ả bao nhiêu, lần về vất vả bấy nhiêu, gần như ai cũng bị sóng hành, trừ Thầy, Thầy vẫn kể chuyện, chuyện đời, chuyện nghề…
Mình lắc lư, lắc lư, đầu ong ong, người nôn nao, chỉ cầu mong tàu mau cập đảo.
Có lẽ, những dòng chảy ngầm, những ngọn sóng bất chợt, những cơn bão không lường… cùng với nạn cướp biển đã là nguyên nhân làm cho vùng biển Đông có nhiều shipwreck đến thế.
Khảo cổ học dưới nước dẫu muôn vàn khó khăn và tốn kém nhưng thật sự cần thiết đối với một nước có đường bờ biển dài và lắm sông ngòi như nước ta, có một nghịch lý ai cũng thấy, đó là một đất nước có nghề trồng lúa nước phát triển từ cách đây ít nhất 4000 năm và hiện đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu lúa, 90% là nông dân, mà không có bảo tàng về lúa, không có ngành khảo cổ học nông nghiệp, một vùng bán đảo, sông ngòi chằng chịt mà không có trung tâm khảo cổ học dưới nước.
Nhưng có hẳn một trung tâm khảo cổ học kinh thành!

Trùng tu di tích đừng “nhân danh quá khứ“

Chạy theo các công trình dang dở để đào hiện vật vốn là chuyện “thường ngày” của ngành khảo cổ. Có công trình nào chủ động mời người đến khảo cổ? Mà có thì cũng lấy người đâu mà làm? Chuyện nghề của tiến sỹ họ Lâm cũng ẩn chứa tâm tư của những người từng đi khảo cổ ở những di tích chuẩn bị trùng tu.
Chúng tôi gặp PGS.TS. Lâm Mỹ Dung ngay ở hố khảo cổ giữa một nghĩa địa sắp bị di dời để xây khu đô thị mới. Nhóm khảo cổ gồm hơn 10 người, ai nấy đều nhễ nhại mồ hôi. Máy bơm ầm ì không nghỉ, tranh thủ hút nước khỏi hố đào sau mấy ngày Hà Nội mưa liên tiếp. “Dưới lớp đất sâu của khu nghĩa địa này vốn rất nhiều mộ cổ nên cả nhóm phải tranh thủ đào, đem về được cái nào hay cái đó. Chứ về sau người ta xây nhà cao ốc lên trên, có giời mới đào lại được” – bà Dung nói với vẻ tiếc nuối.

PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung
 Cách thức khai quật để trùng tu: “Có ai dạy đâu, toàn tự học”
 Thưa bà, để trùng tu một di tích, người ta cũng phải đào hết lên như nhóm đang làm với khu nghĩa địa này ạ?
- Không. Nói thật lòng là đến nay khảo cổ vẫn chưa biết hoàn toàn cách đào để trùng tu. Vì có ai dạy cái đó đâu, toàn tự học. Nhưng cơ bản phải xác định được là trùng tu cái gì rồi mới tính. Bởi cách thức để khai quật trùng tu sẽ rất khác so với khai quật rồi mang hiện vật về như tôi đang làm với khu nghĩa địa này.
 Nghĩa là như thế nào ạ?
 - Ví dụ, trùng tu một cái tháp Chăm đã đổ, giờ chỉ thấy mỗi phần phía trên thôi. Nhưng tháp Chăm bao giờ nó cũng có cả một khu với nhiều cấu trúc khác nhau. Bình thường, khảo cổ sẽ “lột trần” hết tất cả. Thế nhưng khai quật kiểu ấy ở công trình định trùng tu, mưa xuống, nước nó vào hố thì hỏng hết. Nếu mình định trùng tu, thì ngay từ đầu phải có cách bảo vệ hiện vật. Cái đó lại đi kèm rất nhiều thứ như tiền, thời gian, cách thức và sự phối hợp đồng điệu giữa các bên.
Chuyện “phối hợp đồng điệu giữa các bên” nghe có vẻ phức tạp quá?
 - Thế này nhé! Ở bộ môn tôi có một giáo sư được mời đi đào một cái tháp ở Đà Nẵng với mục đích là chuẩn bị cho trùng tu. Thế nhưng, khi kết thúc chuyến khai quật, chúng tôi thấy ông rất nhiều tâm tư . Thông thường, khai quật xong, người trùng tu phải theo sau ngay lập tức để đảm bảo chất lượng hiện vật. Ấy thế mà khai quật xong để đấy, mãi về sau người đi trùng tu mới vào. Đến nơi, họ lại bảo “khai quật thế này là không ổn rồi”. Có nghĩa là sự kết hợp giữa mục đích của người trùng tu với phương pháp và mục tiêu khai quật khảo cổ học chưa hài hòa. Các nhà trùng tu mời mình đến khảo cổ phải yêu cầu mình khai quật thế nào, phần nào để lại, phần nào đào, các vật liệu và phương pháp sử dụng ra sao. Nhưng hiện giờ ở ta chưa có kiểu ấy!
Trùng tu đình chùa: Làm thế nào cũng được?
 - Thưa bà, những di tích được khảo cổ còn như vậy, không biết các di tích bị tự ý trùng tu sẽ ra sao nữa.
Cái này phải chịu thôi. Hiện ở nước ta chỉ có một vài đơn vị có chuyên môn về trùng tu di tích và theo tôi biết thì vai trò của họ trong việc tu bổ cũng không nhiều. Giờ đình chùa mà muốn trùng tu lại do làng xã. Họ thích làm thế nào cũng được, các cụ bô lão trong làng thích hiệp thợ nào thì các cụ thuê hiệp thợ ấy. Cục Di sản thì cũng bị động trong việc nắm thông tin. Có khi họ làm xong rồi thì mới xuống. Như chuyện trùng tu thành nhà Mạc đấy, tiền đôi khi bỏ ra nhiều mà kết quả không bao nhiêu.
Bây giờ cả triết lý về trùng tu mình cũng không có. Có rất nhiều trường phái khác nhau về trùng tu, mỗi người áp dụng một kiểu. Người thì cứ phải khăng khăng giữ hoàn toàn cái cũ, ngay cả cho các vật liệu mới vào cũng không đồng ý. Nhưng như thế lại không thể làm được. Nói chung là về triết lý không có, phương pháp không có và mạnh ai người ấy làm. Cũng giống hệt các ngành khác thôi!
Đó là còn chưa kể đến việc khi tiến hành trùng tu, người ta mới tá hỏa khi phát hiện ra di tích khác ở bên dưới?
 - Cái đó thì nhiều lắm! Bởi vì đáng ra trước khi làm anh phải khảo sát khảo cổ học, nhưng bây giờ thì ở lắm nơi người quản lý di tích thích làm gì thì làm.
Nhưng chẳng phải nhà nước đã có qui định đàng hoàng về trùng tu rồi đó ư?
 - Ờ thì có qui định, nhưng tại sao vẫn xảy ra hiện tượng đó thì tôi chịu. Cái này còn phụ thuộc vào các mối quan hệ phức tạp lắm. Như chuyện bộ môn Khảo cổ học đưa sinh viên đi khai quật năm vừa rồi đây này. Đã làm xong giấy tờ, có giấy phép khai quật hết rồi, nhưng địa điểm ấy lại nằm trong khuôn viên của một ngôi chùa. Chẳng hiểu thế nào mà khi cả đoàn vừa đến nơi, giám đốc sở đã báo là không cho đào nữa, thế là phải chuyển một địa điểm khác đấy.
Sinh viên ngành khảo cổ “mờ mịt” về khai quật trùng tu
 Xem ra giới khảo cổ đã ít người, lại còn gặp nhiều chuyện khó khăn quá!
- Đúng là khó đủ đằng. Hiện nay đào tạo Khảo cổ học ở Việt Nam phần lớn cũng chỉ đào tạo về giai đoạn tiền sơ sử là chính, chứ giai đoạn khảo cổ học lịch sử, áp dụng cho trùng tu di tích rất tốt, thì ít lắm. Mà cũng chưa có ai là chuyên gia, cũng như chưa có giáo trình, chương trình tử tế để dạy về khai quật trùng tu cho sinh viên. Đó là chưa kể đến việc đào tạo đại học hiện nay cứ tham vọng cho sinh viên học thật nhiều thứ để biết rộng, rốt cuộc chuyên sâu lại không biết.
Thứ nữa là hiện nay các em chọn khối C rất ít nên ngành khảo cổ không nhiều lựa chọn. Khó nữa là khi vào được khoa Sử rồi thì chẳng mấy em chọn khảo cổ. Vì nó khổ, nó vất vả quá. Thậm chí, có phụ huynh cũng không cho con vào ngành này chỉ chuyện “tâm linh”, sợ đào mồ, đào mả. Kết quả là ngành khảo cổ không có người để chọn, nghĩa là tình trạng “cơm chấm cơm” mà sống thôi.
Công tác trùng tu: Đừng nhân danh quá khứ…
 Giả dụ mấy trăm năm sau có nhà khảo cổ đào đến tầng văn hóa thuộc giai đoạn hiện nay. Nếu là nhà khảo cổ ấy, bà sẽ đánh giá về thời đại này như thế nào?
- Là “quân hồi vô phèng”. Qua đó cũng hiểu được nền văn hóa bây giờ là văn hóa trọc phú. Trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn như thời nhà Mạc, nhà Nguyễn cũng từng có một vài đoạn như thế đấy. Về sau mình mà đào cái Bái Đính lên, thì rõ ràng sẽ thấy đây là công trình của một người có nhiều tiền nhưng chẳng biết cái gì chẳng hạn. Tôi chỉ có một thông điệp là đừng có nhân danh quá khứ để làm những điều linh tinh. Vì di sản “vật thể” phán ảnh rất nhiều phần “phi vật thể” bên trong đấy!
Cảm ơn bà về những trao đổi rất thẳng thắn!

Điệp Trần (thực hiện)
http://www.phapluatvn.vn/thoi-su/201108/Trung-tu-di-tich-dung-nhan-danh-qua-khu-2057124/

Mối quan hệ Sa Huỳnh – Champa nhìn từ góc độ nghiên cứu đồ gốm

Mối quan hệ Sa Huỳnh – Champa nhìn từ góc độ nghiên cứu đồ gốm[1]  
(Bài tham dự HNTBKCH 9.2011, Hà Nội)
                                                   Lâm Thị Mỹ Dung, Nguyễn Hồng Kiên, Hoàng Thúy Quỳnh
 Những nhận xét về mối quan hệ Sa Huỳnh – Champa xét từ góc độ khảo cổ học chủ yếu được đưa ra dựa vào các nghiên cứu so sánh di tích và di vật của hai giai đoạn văn hóa này, trong đó nghiên cứu so sánh đồ gốm có vị trí vô cùng quan trọng nếu không muốn nói là có vị trí quan trọng nhất.
Liên quan đến mối quan hệ Sa Huỳnh – Champa từ góc độ nghiên cứu gốm, khi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Đồ gốm Champa 10 thế kỷ đầu Công nguyên từ tiếp cận khảo cổ học xã hội và khảo cổ học kỹ thuật”, chúng tôi thấy nổi bật một số vấn đề:
1. Về các sưu tập gốm Sa Huỳnh – Champa
Tính chất văn hóa khác nhau: Tổ hợp gốm Sa Huỳnh chủ yếu có nguồn gốc từ khu mộ táng (người chết), gốm cư trú cho tới nay mới chỉ tìm thấy ở một địa điểm (địa điểm Thôn Tư, Duy Trung, Duy Xuyên, QuảngNam). Gốm Champa sớm thu được từ nhiều loại di tích và chủ yếu liên quan đến sinh hoạt cá nhân hay cộng đồng (người sống).
Chất liệu: Gốm Sa Huỳnh chỉ có dòng gốm thô, gốm Champa sớm có ít nhất hai dòng thô và mịn, trong đó dòng gốm thô tiếp nối truyền thống gốm văn hoá Sa Huỳnh, dòng gốm mịn mang phong cách gốm ngoại sinh (từ phía Bắc vàNam). Để đáp ứng những thay đổi trong xã hội, bản thân dòng gốm thô từ truyền thống bản địa cũng đã có những thay đổi trong nhiều khía cạnh, lượng cát ít hơn và chất liệu gốm được lọc kỹ hơn và đặc biệt không còn loại gốm “lòng rỗng” điển hình của văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh trước đó.
Địa bàn: về cơ bản có sự trùng khít giữa hai nền văn hóa và đây là cơ sở để gốm của cả hai giai đoạn đều được sản xuất từ những nguồn nguyên liệu sản xuất chung – sét có thành tạo trầm tích có nguồn gốc sông và phụ gia là bã thực vật và cát hạt thô hay mịn.
2. So sánh loại hình và kỹ thuật sản xuất, xử lý bề mặt
Về loại hình: Về cơ bản, những loại hình gốm đặc trưng cho văn hoá Sa Huỳnh không còn tồn tại trong những địa điểm Champa sớm, trong các địa điểm Champa sớm đã xuất hiện một loạt những loại hình gốm mới (chuyên dụng, gia dụng, nghi lễ, kiến trúc, trang trí…) để đáp ứng nhu cầu của một cấu trúc chính trị-xã hội mới.
Những điểm tương đồng trong sưu tập gốm của hai văn hóa chủ yếu nằm ở một số loại hình của gốm đun nấu và chất liệu gốm thô, hơi thô như nồi các loại kích thước vừa và nhỏ, một số bát miệng khum và bát hay cốc có chân cao rỗng hơi loe, sự kế thừa từ gốm văn hóa Sa Huỳnh còn được thấy trong cách xử lý bề mặt gốm, một số họa tiết trang trí đặc biệt là văn sóng nước và kỹ thuật làm gốm, kỹ thuật nung gốm thủ công[2].
3. So sánh sử dụng kết quả phân tích mẫu gốm so sánh Sa Huỳnh – Champa
Kết quả của những nghiên cứu kỹ thuật hỗ trợ hữu hiệu cho diễn giải rất nhiều vấn đề về nguồn gốc, tiếp nối văn hóa. Đặc biệt là những phân tích mẫu liên quan đến khai thác nguyên liệu và xử lý nguyên liệu, đánh giá trình độ kỹ thuật sản xuất gốm để từ đó tìm hiểu sự kế thừa hay thay đổi văn hóa giữa hai thời kỳ. Những phân tích từ các mẫu gốm Sa Huỳnh và Champa ở một khu vực (lưu vực sông Thu Bồn) cho thấy một số kết quả khá thú vị.
Những mẫu gốm Sa Huỳnh (bao gồm cả mẫu gốm chum quan tài và cả mảnh của đồ gốm chôn theo) cho thấy nguyên liệu làm gốm lấy ngay ở bồi tích sông, thường ngay trên bề mặt thềm sông, có những mảnh (chum) lượng cát chiếm tới trên 60% và xương gốm rất lỏng chỉ được giữ nhờ hai lớp áo bên trong và bên ngoài. Sự có mặt của khối lượng cát này dẫn đến hiện tượng “lòng rỗng” của gốm Sa Huỳnh mà chúng tôi đã đề cập trong một số nghiên cứu trước đây. Có thể thấy việc khai thác nguyên liệu làm gốm của cư dân Sa Huỳnh lấy sự tiện lợi làm yếu tố quan trọng hàng đầu và chưa thật sự chú trọng đến kỹ thuật xử lý chất liệu, tuy nhiên họ đã nắm vững tính chất của loại đất bồi tích sông này nên đã khéo léo bù đắp tính chất lỏng lẻo của xương gốm bằng lớp áo trong ngoài dầy chắc cứng và bằng cách nung và độ nung.
Độ nung gốm cao (khoảng trên 800 độ C)[3], bằng chứng là bề mạt hạt mi ca, thạch anh và cả đá nhỏ trong chất liệu làm gốm đều bị rạn, thành gốm bên trong, bên ngoài có độ cứng như nhau dẫn đến giả thiết là khi nung những đồ gốm lớn như chum quan tài có thể họ đã chất củi rơm cả ở bên trong lòng để cháy âm ỉ[4], chứ không đơn thuần như nung gốm thông thường xưa và cả nay. 
Những mẫu gốm Champa cho thấy việc khai thác và chọn lựa nơi khai thác đất làm gốm khác với giai đoạn trước, đất làm gốm là đất trầm tích, phải đào sâu vài ba mét mới khai thác được và do vậy dù độ nung thấp hơn nhưng đồ gốm chắc, mịn hơn so với gốm Sa Huỳnh. Mức độ tiến bộ còn thấy ở quy trình ủ đất và thêm chất phụ gia, như vậy, sự cải tiến không nằm trong nhiệt độ nung mà ở cách nung và đặc biệt là khai thác và xử lý nguyên liệu, cải tiến trong kỹ thuật khai thác nguyên liệu làm giảm bớt phế phẩm, bớt lãng phí nhiên liệu và đặc biệt đồ gốm có hiệu quả sử dụng tốt hơn, chất liệu đất sét xử lý kỹ cho phép tạo ra những sản phẩm chất lượng cao hơn nhưng thực dụng hơn do độ nung không cao không cần lò chuyên dụng và dùng ít nhiên liệu.
Nếu so sánh mức độ tương đồng với mức độ khác biệt giữa hai sưu tập đồ gốm ta dễ dàng nhận thấy mức độ khác biệt lớn hơn rất nhiều so với mức độ tương đồng, điều này theo chúng tôi có thể giải thích bởi những lý do sau:
  • Sự tương đồng của (chủ yếu) đồ đun nấu và một số đồ sử dụng thông thường hàng ngày của dòng gốm thô, hơi thô (qua so sánh loại hình gốm đun nấu và gốm sử dụng thông thường hàng ngày ở một số địa điểm Champa sớm với gốm cư trú Sa Huỳnh ở Thôn Tư) cho thấy cả hai cộng đồng dân cư Sa Huỳnh và Champa đều có chung những đặc điểm về môi trường sống, không gian sống, phương thức kiếm sống, tổ chức đời sống, lối sống, ứng xử với môi trường tự nhiên.
  • Sự tương đồng của những loại hình gốm thô và hơi thô còn cho thấy sự bảo lưu lâu dài truyền thống của dòng gốm thường được gọi là dân gian hay bản địa thường có quy mô sản xuất nhỏ nhưng có diện phân bố rộng, mật độ dày, sản phẩm đơn giản với hiệu quả kinh tế cao và dễ tiếp cận.
  • Sự khác biệt trước hết xuất phát từ những thay đổi trong cấu trúc xã hội, từ xã hội dạng lãnh địa sang dạng nhà nước; Sự thay đổi trong lĩnh vực đời sống tinh thần, táng thức thay đổi, tiếp nhận những yếu tố tĩn ngưỡng, tôn giáo mới…và sự thay đổi trong cường độ và xu hướng tiếp xúc, tiếp nhận những yếu tố văn hóa ngoại sinh…

[1] Nội dung của bài thông báo này được trích từ đề tài NCKH “Đồ gốm Champa 10 thế kỷ đầu Công nguyên từ tiếp cận khảo cổ học xã hội và khảo cổ học kỹ thuật” do PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung, Ths. Nguyễn Anh Thư, TS. Nguyễn Hồng Kiên, Ths. Hoàng Thúy Quỳnh và cộng sự thực hiện với sự tài trợ của TT Hỗ trợ Nghiên cứu châu Á, ĐHQG Hà Nội. Báo cáo tổng kết của đề tài lưu tại Bảo tàng Nhân học, Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội.
[2] Cho đến nay địa điểm Gò Cấm, Duy Trung, Duy Xuyên cúng cấp những chứng cứ rõ ràng nhất về sự tiếp nối truyền thống giữa gốm Sa Huỳnh và gốm thô giai đoạn sớm của Champa (giai đoạn Lâm Ấp).
[3] Theo Kết quả phân tích  thành phần khoáng vật một số mẫu gốm Sa Huỳnh tại TT Phân tích Thí nghiệm Địa chất Hà Nội.
[4] Trong một số khu mộ VHSH như An Bang, Hội An; Lai Nghi , Điện Bàn… trong và ngoài đáy chum còn nguyên những vành than củi cháy. Trước đây chúng tôi thường liên hệ hiện tượng này với tục sưởi mộ, tuy nhiên, có thể diễn giải theo một cách khác, có thể người Sa Huỳnh chuẩn bị mộ trước bằng cách nung chum ngay ở những hố đào vào cồn cát, mỗi chum bản thân nó được sử dụng như lò nung.

Nhật ký khai quật Truông Xe (3) – Bếp của người xưa

“Sống trên cát, chết vùi trong cát”, 3000 năm nay lối sống xem ra không mấy thay đổi. Đầm là nơi cung cấp nước, cá, tôm, ốc, rừng cho thú lớn, thú nhỏ và triền cát là nơi trú ngụ.
Do rất nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, vết tích nhà ở trên cồn cát hầu như không thể phát hiện, ngoại trừ một số hố nhỏ dạng lỗ cột còn in dấu trong lớp cát vàng – sinh thổ nhưng phân bố chẳng theo một cấu trúc nào.
Chỉ dấu vết của những cái bếp là rõ ràng
Người xưa đã đào những hố hình lòng chảo vào triền cát, củi là những cây bụi (dựa vào những mẩu than củi còn lại), nồi nấu thức ăn có hai loại chính, loại miệng khum và loại miệng loe, có lẽ người xưa thường ngồi ăn gần bếp và tất cả xương xẩu, vỏ ốc, trai, hến… tiện tay họ vứt vào bếp (rất nhiều vỏ sò bị nung, xương động vật, xương cá bị đốt cháy…đã được phát hiện trong những khu bếp).  
Ảnh những cái bếp xưa

Dấu vết của hai cái bếp trên triền cát

Cận cảnh mặt cắt của 1 bếp

Tàn tích thức ăn

Tàn tích thức ăn, trên ống xương nà coòn dấu vết róc thịt

Còn đây là dấu vết bếp của các bé chăn trâu hiện nay

Nhật ký khai quật Truông Xe (2) – Cát chảy

Ngay ngày hôm sau, đoàn mình cùng 9 cô, bà dân công hăm hở tiến vào cồn cát. Mới sáng nắng đã chói chang và gió đã vi vu. Vấn đề không phải ở nắng mà là ở gió!
Sườn dốc, dấu tích văn hóa của người xưa cũng thoải theo sườn cồn cát. Do những năm gần đây nhu cầu xây dựng tăng cao, kế cả xây dựng nhà ở của dân chúng lẫn những công trình công cộng, phần cát ở sườn bắc, sườn đông bắc và tây bắc  men theo đầm Trà Ổ đã bị xúc bạt đến đáy (đến phần cát trắng), rủi thay, đây chính là khu vực tập trung dấu vết cư trú của người xưa.
Những hố khai quật của đoàn được mở trên sườn đông bắc và tây bắc (vớt những gì còn sót lại của một di tích vốn rất hoành tráng).
Mở đến đâu, cát chảy đến đó, vách có taluy thế nào cũng bị lở hay xẻ rãnh chỉ sau một vài giờ, nhất là ở sườn tây bắc, nơi cát khô và rời tưởng chừng không có ti đất nào.
Vội vã làm vách, vội vã chụp ảnh, vội vã vẽ. Chưa bao giờ mình gặp một hố đào mà lúc nào cũng sẵn sàng ụp vách như thế này.
Đúng là đất trong hố đào càng khó, vách càng dễ giữ và ngược lại.
Trời xanh, gió lộng, cát khô…
Quá khó cho các nhà khảo cổ.
Tuy nhiên kết quả thì khả quan. Nhiều di tích và di vật của nền văn hóa Tiền Sa Huỳnh (cách đây hơn 3000 năm) dần xuất lộ.
Một số hình ảnh của cuộc khai quật