Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử/History. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử/History. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

TRƯỜNG LUỸ NGHI HOẶC KÝ- KỲ CUỐI: LÝ HOẶC

                                                                       Lê Hồng Khánh

 I. MẤY ĐIỀU XÁC QUYẾT:
Chữ “Lý hoặc” chúng tôi mượn từ tên một tác phẩm nổi tiếng của Mâu Bác - tập luận văn “Lý hoặc luận”, nghĩa là dùng lý luận để làm sáng tỏ những nghi hoặc, ngờ vực. Ông nầy là một học giả Phật giáo người Trung Hoa nhưng nhập tịch vào Giao Chỉ (Bắc Việt ngày nay), sống và nghiên cứu, tu tập ở Trung tâm Phật giáo Luy Lâu (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) vào khoảng cuối thế kỷ II. Mượn chữ nghĩa của người xưa để đặt tên cho bài viết của mình, chúng tôi đồng thời muốn xác quyết mấy điều sau đây:
   1) Sự ủng hộ của người viết đối với việc tìm hiểu, nghiên cứu về Trường Luỹ và khẳng định giá trị lịch sử, văn hoá của hệ thống đồn luỹ được xây dựng công phu nầy là không hề bàn cải. Chúng tôi đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình trong quá trình tiếp xúc, làm việc với nhóm EFEO cũng như trong bài viết “Mấy ý kiến về Trường Luỹ và việc nghiên cứu Trường Luỹ” đã in trên tạp chí Xưa Nay (Hội Khoa học Lịch sử VN), sau đó in lại trên trên tạp chí Sông Trà. Xin trích lại nguyên văn một đoạn từ bài viết đó: “Độ lùi của thời gian hẳn nhiên khiến người nghiên cứu xa dần hiện trạng lịch sử và đó là một bất lợi, nhưng sự lùi nầy lại có thể mang đến một ưu thế khác khi chúng ta đã có thêm thời gian để có cách tiếp cận khác, lỏng dần sự chi phối của các điều kiện chính trị - xã hội, mà vì đó quá trình, và dẫn theo là thành quả nghiên cứu, những luận giải về lịch sử ít nhiều bị thiên lệch hoặc phải chấp nhận thiên lệch. Từ những thập niên cuối thế kỷ XX chúng ta đã “nhìn lại”, “đánh giá lại” những con người như Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, Lê Văn Duyệt ...; còn trước đó là các đền đài, lăng tẩm của kinh thành Huế, cùng nhiều công trình kiến trúc được xây dựng với mục đích “phục vụ bộ máy cai trị” của nhà nước phong kiến Việt Nam, đặc biệt là triều Nguyễn. Như vậy, Trường Lũy có thể nhìn lại được chăng? Khiêm lăng (Lăng Tự Đức) được xây dựng bằng công sức của hàng vạn phu phen, binh lính, thợ thuyền để làm chỗ cho ông vua Tự Đức rong chơi, nghỉ ngơi khi còn sống và an táng khi qua đời. Ấy vậy mà công trình kiến trúc mỹ lệ và đường bệ nầy là một bộ phận không thể thiếu trong tổng thể hệ thống kiến trúc kinh thành Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, và là niềm vinh dự cho nhân dân Việt Nam, cho văn hóa Việt Nam. Dĩ nhiên chúng ta cũng biết rằng, trong quá trình xây dựng lăng nầy, đã từng nổ ra một cuộc khởi loạn của binh lính, phu phen do 2 ông Đoàn Trưng, Đoàn Trực lãnh đạo, mà sử gọi là “Loạn chày vôi”. Les politiques passent, les cultures restent – Chính trị qua đi, nhưng văn hóa thì còn lại, là thế đó!” (1)
2) Những trao đổi chân thành, nghiêm túc trên tinh thần khoa học là rất cần trong hành trình gian khó tiếp cận chân lý, vì vậy sự ủng hộ như vừa nói không đồng nghĩa với việc tán đồng vô điều kiện những giả thuyết mà nhóm EFEO đưa ra trong quá trình nghiên cứu về Trường Luỹ, nếu những giả thuyết đó còn những vấn đề khiến phải “nghi hoặc”; mặc khác, chúng tôi cũng không đồng tình với những ai dùng bài viết nầy để phủ nhận đóng góp khoa học đáng trân trọng của nhóm EFEO, cũng như hạ thấp giá trị của di tích Trường Luỹ bởi những thiên kiến lệch lạc, nông cạn, phi lịch sử.
3) Người viết cũng không giấu giếm sự hứng thú khi được “nói lại” với chính những người bạn của mình trong nhóm EFEO; bởi vì sự khác nhau về các phán đoán ở đây lại dựa trên cơ sở tương đồng cơ bản, đó là sự tôn trọng những khác biệt trong quá trình nghiên cứu, sự xa rời thói quen lặp lại một cách “vô tư” những phát ngôn của người khác về những vấn đề vốn rất cần phải được thường xuyên nhìn lại, quan sát lại.
4) Trường Luỹ và những vấn đề liên quan về lịch sử, văn hoá, dân tộc… chắc chắn còn được trao đổi rất nhiều, và sự trao đổi nầy sẽ là đóng góp cần thiết để làm rõ hơn những giá trị quý báu của Trường Luỹ vốn đã quá lâu rồi, vì nhiều lý do khác nhau, bị lãng quên một cách đáng tiếc; đồng thời, sự trao đổi (và cả tranh luận công khai trên các phương tiện báo chí, truyền thông) mặc nhiên sẽ tạo ra sự chú ý từ dư luận trong và ngoài nước, và đây chính là một trong những cách hữu hiệu nhất để giới thiệu, quảng bá về Trường Luỹ.
Trên cơ sở mấy điều như trên, chúng tôi xin được tiếp tục thảo luận thêm một kỳ nữa, nhằm góp phần “lý hoặc” những hồ nghi, ngờ vực để những giá trị quý báu của Trường Luỹ có thể hiện diện sòng phẳng trước thanh thiên bạch nhựt.

II. LUỸ DÀI, DÀI BAO NHIÊU?
Trong bài viết kỳ trước, chúng tôi đã nêu nghi vấn về các con số liên quan đến chiều dài của Trường Luỹ mà nhóm EFEO và một số bài báo đã nêu. Tại “Hội nghị bàn công tác bảo vệ di tích Trường Luỹ Quảng Ngãi” do UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức ngày 5/1/2010 (sau thời điểm chúng tôi công bố phần I bài Trường Luỹ ký), nhóm EFEO đã đề cập đến số liệu chiều dài Trường Luỹ, như sau: “Những nghiên cứu trong nhiều năm qua trên Trường Luỹ cho thấy luỹ dài 132 km mà phần năm trên đất Quảng Ngãi là 111km. Trong khu vực Đông Nam Á không có di tích luỹ nào có quy mô lớn như thế.”(2) Đoạn trích nầy it nhất có 3 điều cần làm rõ:
-                     Số liệu chiều dài luỹ có bao gồm chu vi các “bảo” không?
-                     Các đoạn luỹ đã bị phá có được đo không, và nếu đo thì bằng cách nào khi chúng không còn dấu vết rõ ràng trên thực địa?
-                     Khẳng định quy mô “lớn” của Trường Luỹ mà chỉ nêu chiều dài của nó, liệu đã thoả đáng chưa?
         Song, vấn đề chúng ta đang bàn ở đây là chiều dài của luỹ. Có thể hiểu, khi người ta nêu đến số lẻ trong hàng đơn vị (132 và 111), thì cũng thể đoán rằng đây là con số dựa trên một sự tính toán, đo đạt nào đó mà không thể là phỏng đoán. Có điều, con số nầy cho thấy phán đoán của chúng tôi ở kỳ trước là đúng. Xin trích lại nguyên văn: “Nhưng từ lúc nầy đến khi chiều dài của Trường Luỹ được công bố chính thức, chúng tôi (LHK), qua việc tìm hiểu các tài liệu lịch sử, phán đoán  và phân tích những dữ kiện có được, cho rằng chiều dài Trường Luỹ chỉ ở mức xấp xỉ 150km, trong đó, đoạn đi qua đất Quảng Ngãi (do Nghĩa Phòng, thuộc Nghĩa Định Sơn phòng quản lý) trên dưới 100km, phần còn lại, trên đất Bình Định (thuộc Định phòng) chừng non 40 cây số ngàn.”(3). Thực ra, trong bài viết “Trường Luỹ và việc nghiên cứu Trường Luỹ” chúng tôi đã nói đến con số 177 dặm chiều dài của luỹ. Đây là số liệu mà sử quan triều Nguyễn đã ghi rõ trong Đại Nam nhất thống chí và Đồng Khánh địa dư chí. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê  chủ Biên; Nxb KHXH. Hà Nội, 1988), một dặm có chiều dài tương đương 444,44m; vị chi tổng chiều dài Trường Luỹ là 78.665,88m, xấp xỉ 79 cây số ngàn (4). Còn theo Từ lâm Hán Việt từ điển (Vĩnh Cao - Nguyễn Phố)  thì 1 dặm = 1800 xích (thước Trung Quốc) = 576 mét; tính ra Trường Luỹ có chiều dài là 101.952m , tương đương 102 km (5). Nếu theo chú giải của nhóm dịch giả - biên khảo bản dịch Đồng Khánh địa dư chí  (Ngô Đức Thọ, Nguyễn văn Nguyên, Philippe Papin, Phan Văn Các, Lê Việt Nga, Dương Thị The ; NXB Thế giới; HN) thì 1 dặm = 720 m, vị chi chiều dài Trường Luỹ  là 127.440 m, tương đương 127 cây số (6). 

III. CÁC HIỆN VẬT KHẢO CỔ HỌC NÓI GÌ?
Báo cáo tháng 1/2011 của EFEO cho biết, trong 2 năm 2009 và 2011 họ đã tiến hành khai quật một số di tích đồn/bảo trên hệ thống Trường Luỹ (Thiên Xuân, Rùm Đồn và đèo Chim Hút – đều thuộc huyện Nghĩa Hành) và thám sát tại di tích luỹ ở thôn Phú Thọ (xã Hành Tín Tây, huyện Nghĩa Hành). “Kết quả cho thấy: Trong các đồn /bảo có khá nhiều hiện vật gốm không men hay đất nung vỡ ra từ các loại hình như vò, nồi, choé, vại… Đây là những vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày của những binh lính đồn trú. Bên cạnh đó các nhà khảo cổ học còn phát hiện nhiều mảnh gốm có men, những loại gốm nầy, qua nghiên cứu chúng là gốm thương mại có xuất xứ từ Quảng Đông, Hồng Kông, Hải Nam (Trung Quốc), từ Hải Dương, Bát Tràng (Bắc Việt Nam). Loại hình gốm nầy chủ yếu là bát, đĩa tráng men, có hoa văn trang trí trên thân. Niên đại chủ yếu từ cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18. Căn cứ vào hiện vật gốm có niên đại cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 phát hiện tại chân móng của di tích đồn/bảo Đèo Chim Hút, có thể nhận định đồn/bảo nầy có niên đại sớm hơn niên đại xây luỹ theo Sử Biên Niên năm 1919. Cho đến nay, nhận định đã có một số đồn bảo được xây dựng trước, vào khoảng cuối thế kỷ 17 là có cơ sở tin cậy. Những đồ gốm thương mại này cũng cho thấy sự buôn bán khá tấp nập của 2 vùng cao và đồng bằng trên địa bàn Quảng Ngãi trong những thế kỷ 17 – 18.
      Ngoài những đồ gốm, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy trong hố khai quật di tích Thiên Xuân những mảnh vòng trang sức bằng đồng và hạt chuỗi thuỷ tinh của đồng bào H’re xưa. Tư liệu nầy phối hợp với những nghiên cứu về kỹ thuật xếp đá hiện nay của người H’re cho thấy: Việc cộng đồng H’re cùng người Việt tham gia vào việc xây cất các đồn/bảo và luỹ là rất đáng tin cậy.
      Có thể nói rằng mặc dù hiện vật khai quật không nhiều về số lượng chỉ vài chục ngàn mảnh gốm các loại và 2 mảnh vòng, một viên cườm hạt chuỗi nhưng giá trị và thông tin khoa học của chúng lại rất lớn và bổ ích. Chúng giải toả được nhiều mắc mớ trong nghiên cứu cũng như trả lời những câu hỏi khó về niên đại và chủ nhân của di tích.” (7)
      Không cùng hướng suy luận như trên, chúng tôi xin trình bày cách “đọc” các hiện vật mà nhóm EFEO khai quật theo cách của riêng mình và chân thành xin ý kiến của bạn đọc, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là của chính những người bạn trong nhóm EFEO.
1) Cần phải tách, ít nhất là di tích đồn/bảo Thiên Xuân (xóm Đá) ra khỏi 2 di tích đã khai quật còn lại, vì ở đây, sau khi vai trò đồn trú và phòng thủ không còn nữa, bảo/đồn Thiên Xuân trở thành một làng/xóm/khu dân cư của người Việt, cho đến năm 1946, khi người dân phải di chuyển đến một nơi cư trú khác, thấp hơn, có địa danh là xóm Vườn. (8) Như vậy, với Thiên Xuân, nhận định:“Kết quả cho thấy: Trong các đồn /bảo có khá nhiều hiện vật gốm không men hay đất nung vỡ ra từ các loại hình như vò, nồi, choé, vại… Đây là những vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày của những binh lính đồn trú” là chưa đủ, vì những vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày tìm thấy còn gồm cả của người dân, thậm chí, rất có thể, còn nhiều hơn của binh lính.
2) Trong báo cáo của EFEO có đoạn: “Căn cứ vào hiện vật gốm có niên đại cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 phát hiện tại chân móng của di tích đồn/bảo Đèo Chim Hút, có thể nhận định đồn/bảo nầy có niên đại sớm hơn niên đại xây luỹ theo Sử Biên Niên năm 1819. Cho đến nay, nhận định đã có một số đồn bảo được xây dựng trước, vào khoảng cuối thế kỷ 17 là có cơ sở tin cậy.” (9) .Chúng tôi cho rằng, cách viết nầy dễ gây ngộ nhận, vì rằng chuyện một số đồn/bảo (trong hệ thống Trường Luỹ) xây dựng trước thời điểm 1819 là chuyện sờ sờ trong biên niên sử nhà Nguyễn, chưa cần đến việc khai quật, hiện vật, nghiên cứu gì thêm. Đây không phải là “nhận định” của ai, vì sử đã viết rõ rồi. Xin nói thêm, sử nhà Nguyễn còn thông tin: nhiều đồn/bảo “đoạn Trường Luỹ” được xây dựng từ thời Bùi Tá Hán trấn nhậm vùng đất nay là Quảng Ngãi, nghĩa là từ thế kỷ XVI.
3) Tìm thấy “2 mảnh vòng, một viên cườm hạt chuỗi” (của người H’re, nhưng tài liệu không nói rõ tìm thấy ở di tích nào trong số 3 di tích đã khai quật), liệu có “phối hợp với những nghiên cứu về kỹ thuật xếp đá hiện nay của người H’re cho thấy: Việc cộng đồng H’re cùng người Việt tham gia vào việc xây cất các đồn/bảo và luỹ là rất đáng tin cậy.”? Chúng tôi cho rằng đây là một nhận định chưa đủ sức thuyết phục. Hai mảnh vòng và một viên cườm hạt chuỗi kia có thể là “chiến lợi phẩm” của binh lính Việt, cũng có thể là của một vài “tù binh” H’re nào đó, thậm chí có thể của Người Việt, mà không hẳn là của những người H’re “cùng người Việt tham gia vào việc xây cất các đồn/bảo và luỹ”. Nói rằng “thậm chí của người Việt” vì cho đến gần đây, ở một số vùng nông thôn người Việt, người ta có tục mua hoặc đổi lấy các vòng đồng, vòng bạc của đồng bào H’re về đeo cho con trẻ để “trừ tà”. Còn về kỹ thuật xếp đá của người H’re và người Việt chúng tôi đã trình bày ở kỳ trước, lần nầy chỉ xin nói thêm: Có quá nhiều công trình có “xếp đá” của người Việt đã được tạo lập trước thời điểm xây dựng Trường Luỹ, nhưng ít nhất, cho đến nay, chúng ta không hề tìm thấy một công trình nào của người H’re xây dựng vào thời gian tương ứng.
4) Viết: “Có thể nói rằng mặc dù hiện vật khai quật không nhiều về số lượng chỉ vài chục ngàn mảnh gốm các loại và 2 mảnh vòng, một viên cườm hạt chuỗi nhưng giá trị và thông tin khoa học của chúng lại rất lớn và bổ ích. Chúng giải toả được nhiều mắc mớ trong nghiên cứu cũng như trả lời những câu hỏi khó về niên đại và chủ nhân của di tích.”, theo chúng tôi là có phần tư biện và làm rối rắm những điều vốn không hề rối rắm. Niên đại xây dựng Trường Luỹ, chỉ cần đọc sử Việt Nam là người ta đã rõ, hơn cả những gì mà nhóm EFEO đi tìm mấy năm qua, vậy khó chỗ nào vậy? Chủ nhân của Trường Luỹ ư? Người Việt chứ còn ai vào. Luỹ dài nầy được đắp trong cuộc qua phân Việt - H’re, không chỉ được chép rành rành trong chính sử, mà còn hiện diện trong thơ, văn của các tác gia đương thời. Khi chưa có nghiên cứu của nhóm EFEO người ta cũng đã biết như vậy rồi. “2 mảnh vòng và một viên hạt cườm hạt chuỗi” ấy giá trị có thể rất lớn, thậm chí vô cùng lớn, trong trường hợp khác, vì chuyện khác, chứ quyết không phải trong câu chuyện về lịch sử và chủ nhân Trường luỹ mà chúng ta đang bàn!

IV. CON ĐƯỜNG CỔ, CON ĐƯỜNG NÀO?
“Bên cạnh đó, Trường Luỹ còn thúc đẩy giao dịch bắc – nam. Chứng cứ khảo cổ, lịch sử và dân tộc học gợi ra khả năng Luỹ được xây dựng dọc theo một con đường cổ (ban đầu là “quan lộ” nối kinh đô và các tỉnh miền Nam): đường cái quan thượng. Ngày nay, cư dân huyện Đức Phổ còn gọi “Trương Luỹ” là “đường cái quan thượng”. Trên thực tế, vết tích con đường cổ hiện vẫn còn ở xã Phổ Châu, huyện Đức Phổ, Ba Động, Ba Thành, Ba Khâm, huyện Ba Tơ. Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa, xã Hành Dũng huyện Nghĩa Hành. Và gần như chỗ nào có luỹ chúng tôi đều nhận thấy hiện diện một con đường cổ ngay gần luỹ. Qua một chứng cứ khảo cổ khác, ta lại thấy Trường Luỹ đóng vai trò tuyến đường lớn (chỗ con suối cắt qua thì lát bằng đá. Từ đó, giả thuyết hiện nay cho rằng việc xây dựng Trường Luỹ là nhằm bảo vệ một con đường trước đó. Con đường nầy chính là con đường huyết mạch Bắc – Nam, nó đảm bảo cho việc đi lại, giao thương trên toàn lãnh thổ, nếu bị chia cắt, an ninh quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Qua tài liệu điền dã trong những năm qua, chúng tôi có thể khẳng định một điều: Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con đường nầy tiếp tục là đường hành quân, vận chuyển lương thực của bộ đội, nó trở thành một phần của con đường Hồ Chí Minh…” (10)
Thực ra, sự hiện diện không phải chỉ một mà nhiều con đường cổ ở miền tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cũng như nhiều tỉnh duyên hải miền Trung khác là điều không lạ. Sử biên niên nhà cho thấy có không ít cuộc chuyển quân của Tây Sơn và Nguyễn Ánh trong giai đoạn từ 1786 đến cuối cuộc giao tranh của 2 thế lực nầy. Cũng từ các tác phẩm địa chí thời nhà Nguyễn và trước tác của các võ quan đương thời, chúng ta được biết, có chằng chịt những sơn đạo quy mô khác nhau ở miền tây Quảng Ngãi phục vụ cho công cuộc phòng thủ, thu mua sản vật, đi lại giữa các vùng. Quảng Ngãi tỉnh chí (11) giành nhiều trang viết sinh động về các cuộc thao diễn quân sự mỗi năm một lần, vào tháng ba, ở cơ nhất, gồm cả lễ tế cờ, khao quân, dựng lều chợ để người khách trú, người Tam Kỳ (Quảng Nam), Tam Quan (Bình Định) đến mua bán, trao đổi hàng hoá. Tiếp sau kỳ thao diễn là thời gian “đi vãng” của quan Tiểu phủ sứ cùng binh lính, tuỳ tùng kéo dài hàng tháng qua các vùng Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà với cảnh tượng “quân lính kéo đi đầy non, đầy núi”. Dĩ nhiên, không có đường sá thì không thể nào có những hoạt động như vậy.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, sau khi Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, thiết lập vương quyền trên phạm vi cả nước, vai trò của những con đường theo tuyến Bắc - Nam ở phía tây Quảng Ngãi đã trở nên khác trước. Tập sách đồ sộ “Hoàng Việt nhất thống địa dư chí” do Thượng thư Bộ Binh Lê Quang Định khởi soạn chỉ 1 năm sau ngày vua Gia Long lên ngôi và kéo dài suốt 3 năm sau đó, mà nội dung chủ yếu được nêu rõ trong Biểu dâng sách là: “Bờ cõi đất đai rộng từ Gia Định mãi đến Lạng Sơn, đường sá gần xa rành mạch từ kinh đô đến nơi biên quận. Chép rõ các hành cung, dịch trạm, gác đền đình tạ, chợ búa bến sông, cầu cống chùa quán, danh thắng xưa nay, vùng dân đông hay ít, hiểm trở của núi khe, nguồn gốc của sông biển, của cải sản vật, phong tục từng nơi, tất cả đều được tóm tắt đầy đủ, không điều gì bừa bộn.” (12) không hề có một dòng nào về cái gọi là con đường “nối kinh đô và các tỉnh miền Nam”.
 Giả thuyết cho rằng “việc xây dựng Trường Luỹ là nhằm bảo vệ một con đường trước đó” là không có hoặc chưa tìm thấy cơ sở khả tín; vì rằng, những người chủ trương xây dựng Đoạn Trường Luỹ và sau đó là Trường Luỹ (nhà Lê Trung hưng, chúa Nguyễn và triều đình Nguyễn) không hề giấu mục đích xây dựng công trình nầy là nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của người H’re từ miền Tây; giữ vững ổn định vùng đất Nam Nghĩa Bình Phú, tạo hành lang vững chắc cho công cuộc Nam tiến (buổi đầu) và tiếp đó là công cuộc kiến thiết một nước Việt nam thống nhất sau một thời gian dài binh hoả triền miên. Thực tế những biến động liên tục gần như cả thế kỷ XIX được ghi lại trong lịch sử, trong sáng tác văn học của các tác gia đương thời (Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Thông…) và cả trong văn học bình dân cho thấy mục đích nầy là không thể bàn cải. Vài câu trích sau đây trong tác phẩm Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh cũng đã hé mở cho chúng ta điều đó:
          “Tây phương không đường tới; Bắc lộ khó nẻo qua;
            Đường Nam phương thấy đó chẳng xa, thì những sợ nhiều quân Đá Vách.”
                                       (Nguyễn Cư Trinh – Truyện Sãi Vãi)
Vậy thì, liệu bên cạnh mục đích công khai, chủ yếu như trên, việc xây dựng Trường Luỹ còn có còn “mục đích ẩn” nào nữa hay không. Phải nói rằng, cho đến khi có việc khảo sát và nghiên cứu của EFEO, chưa có ai và cũng không thấy có bất cứ tài liệu nào nói về vai trò “bảo vệ một con đường trước đó” của Trường Luỹ. Đường sá được xây dựng, mở ra là nhằm phục vụ việc đi lại, giao thông, vận chuyển. Những tác động của đường sá vào phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh cũng từ chức năng giao thông, vận chuyển mà ra. Xây dựng một công trình đồ sộ, tốn nhiều công của, thời gian như Trường Luỹ mà nhằm để bảo vệ một con đường thì chắc chắn con đường đó phải vô cùng quan trọng. Vậy thì, có nghịch lý hay không, khi Trường Luỹ vẫn còn đó, gần như nguyên vẹn, theo cách diễn đạt của EFEO, mà con đường thì chỉ thấy những vết tích mà thôi?
Cũng cần lưu ý rằng, vào thời điểm Trường Luỹ được hình thành, Sơn phòng được thành lập, ở phía đồng bằng, đường thiên lý Bắc Nam đã trở thành con đường bộ huyết mạch, quan trọng bậc nhất của cả nước, với hệ thống trạm quán vận hành khá quy củ. Con đường nầy cũng không hề đối mặt với sự đe doạ nào đáng kể từ phía biển, mãi cho đến nửa sau thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tìm cách xâm lược đất nước ta.
Chúng tôi cho rằng, mục đích việc xây dựng Trường Luỹ gắn với quan hệ Đông Tây, hơn là quan hệ Bắc Nam như giả thuyết của EFEO. Cũng cần nhớ rằng, Trường Luỹ không phải là ranh giới cuối cùng về phía Tây nằm dưới quyền quản lý thực tế của nhà nước phong kiến Đại Nam. Vượt ra ngoài Trường Luỹ, nhà Nguyễn đã thiết lập được bộ máy quản lý ở những mức độ khác nhau đối với nhiều plây, nóc của các sắc tộc thiểu số, mà rõ nhất là việc xuất hiện các chức vụ “Chánh tổng dịch man”, “Phó tổng dịch man” trong bộ máy quan lại. Theo thời gian, số lượng các làng, tổng ngày càng nhiều hơn, việc trưng dụng nhân lực, thuế khoá cũng ổn định dần, đảm bảo cho sức mạnh của một nhà nước Trung ương tập quyền có lãnh thổ rộng lớn mà ngày nay đại gia đình các dân tộc Việt Nam đang thừa hưởng.

V. TRƯỜNG LUỸ VÀ CÂU CHUYỆN CỦA HÔM NAY:
“Câu chuyện của hôm nay” chính là giá trị của Trường Luỹ, nhìn từ hậu thế. Về điều nầy, các báo cáo của EFEO đã nêu tương đối đầy đủ, cho dù còn có những điểm cần phải bổ sung chứng cứ và lý giải thuyết phục hơn. Cũng là dễ hiểu, vì đối với nhóm EFEO việc nghiên cứu Trường Luỹ đang trong giai đoạn đầu, lại phải chạy đua trước áp lực thời gian, và quan trọng hơn, họ phải xử lý cùng lúc nhiều nan đề khá phức tạp. Từ các nguồn thông tin và nhận định của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là từ các báo cáo của nhóm EFEO, chúng tôi thử nêu một số giá trị nổi bật của di tích Trường Luỹ như sau:
1) Về quy mô di tích:
 Có thể nhận thấy Trường Luỹ là một di tích có quy mô đáng kể, xét trong không gian lịch sử mà nó được hình thành. Chạy từ biên giới tỉnh Quảng Nam đến phía bắc tỉnh Bình Định, Trường Luỹ quả có một chiều dài đáng kinh ngạc so với các thành luỹ được xây dựng trong lịch sử Việt Nam, kể cả những thành luỹ có ý nghĩa quan trọng về chiến lược như hệ thống Thành Luỹ Tây Đô (do Hồ Quý Ly chỉ huy xây dựng vào thế kỷ XIV), Luỹ Thầy (do Đào Duy Từ chỉ huy xây dựng vào thế kỷ XVII)... Đây cũng là công trình quân sự - phòng thủ có thời gian xây dựng dài nhất Việt Nam, khởi đầu từ thời Bùi Tá Hán trấn nhậm Quảng Ngãi (thế kỷ XVI) cho đến cuối thế kỷ XIX, khi tổ chức Sơn phòng bị triệt bỏ. Nhìn tổng thể, Trường Luỹ là một hệ thống, bao gồm: luỹ (giữ vai trò Trung tâm), các đồn/bảo, sơn đạo, các tụ điểm giao dịch/chợ phiên, các làng người Việt (Kinh), các plây/ tổng của người H’re nằm dọc hai bên luỹ. Quy mô đáng kể của Trường Luỹ còn thể hiện ở độ cao lớn của luỹ (cao nhất đến 4m, đáy chân luỹ rộng nhất đến 6m); sự đa dạng về hình dáng (hình móng ngựa; móng ngựa chồng lên nhau; khối hình thang); tính thích ứng trong sử dụng vật liệu xây dựng và kết cấu công trình, tuỳ thuộc vào địa hình, nguyên vật liệu tại chỗ, yêu cầu phòng thủ…với các kiểu thức: đắp và nện bằng đất (chủ yếu); xếp đá ốp đá bên ngoài cốt đất; xếp toàn bằng đá. Tiện đây chúng tôi xin được lưu ý, “Luỹ” 壘 trong “Trường Luỹ”, chữ Hán nghĩa là thành đắp bằng đất (bộ thổ, phồn thể 18 nét, giản thể 9 nét). Khảo sát điền dã cho thấy Tĩnh Man Trường Luỹ chủ yếu được đắp bằng đất, những đoạn ốp đá không nhiều, xếp toàn bằng đá lại càng hãn hữu.
Chúng tôi chỉ sử dụng cụm từ “quy mô đáng kể” mà không phải là “quy mô lớn nhất” như nhiều ý kiến phổ biến hiện nay, bởi vì, một sự xác quyết về quy mô phải đầy đủ các dữ kiện cần thiết để so sánh; hơn nữa, chỉ chủ yếu dựa vào chiều dài mà cho rằng “Trường Luỹ có quy mô lớn nhất Đông Nam Á” là chưa đủ sức thuyết phục. Song, với những gì đang có, Trường Luỹ xứng đáng nhận được sự quan tâm đúng mực của những con người biết quý trọng di sản của tiền nhân, biết lắng nghe câu chuyện thì thầm “sóng lớp phế hưng” trong từng đoạn luỹ lầm lủi gió mưa, từng viên đá trơ gan tuế nguyệt…
2) Về giá trị nghiên cứu:
Ý nghĩa lịch sử của Trường Luỹ là điều rất dễ nhận thấy. Suốt khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, vùng đất Quảng Ngãi là địa bàn tranh chấp triền miên giữa các thế lực mâu thuẩn nhau về quyền lợi, điều kiện sinh tồn (phong kiến Việt - Chăm, Lê - Mạc, chúa Nguyễn - Tây Sơn, Nguyễn Ánh - Tây Sơn, nhà Nguyễn – các cuộc nổi dậy ở miền Tây). Gắn với các cuộc chiến tranh, các tranh chấp là tên tuổi của nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng (Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Bùi Tá Hán, Nguyễn Cư Trinh, Lê Văn Duyệt, Đỗ Đăng Đệ, Nguyễn Tấn, Nguyễn Thân…) với những hành trạng và vai trò khác nhau trong tiến trình lịch sử dân tộc; đồng thời ít hoặc nhiều có liên quan đến việc hình thành Trường Luỹ. Họ có thể là một bậc minh quân, một khai quốc công thần hay một nhân vật lịch sử còn nhiều tranh cải, thậm chí là kẻ bị lên án phản đồ, nhưng khi nghiên cứu về quá trình kinh dinh vùng đất Quảng Ngãi hậu thế không thể không nhắc đến họ.
Trong lần điền dã gần đây (tháng 2/2011), chúng tôi đã phát hiện một số di tích tương truyền là mộ và đền thờ Bùi Tá Hán nằm ở khu vực lân cận Trường Luỹ. Đây chắc hẳn là những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu về Trường Luỹ thời kỳ trước nhà Nguyễn.
Về quan hệ giao thương, kinh tế, hẳn chúng ta còn nhớ câu ca dao Nam Trung bộ nổi tiếng: “Ai về nhắn với nậu nguồn/ Mít non gởi xuống,cá chuồn gởi lên”. Vì sao một luỹ dài được xây dựng chạy dọc miền Tây Quảng Ngãi, chia cắt vùng cư trú của người Việt (Kinh) và các dân tộc thiểu số, nhưng quan hệ buôn bán, trao đổi giữa hai vùng vẫn diễn ra thường xuyên, sôi động; thậm chí có thể nói rằng mối quan hệ nầy đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của Đàng Trong và sau đó là vương quốc Đại Nam của nhà Nguyễn? Vì sao những người khai thác tre và dây rừng cung cấp nguyên vật liệu làm guồng xe nước (ở vùng hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ) hằng năm vẫn đi sâu vào các khu rừng phía tây Trường Luỹ mà không gặp một trở ngại nào từ phía các tộc người bản địa? Các chợ phiên hình thành như thế nào và vai trò của nó ra sao trong quan hệ buôn bán Đông Tây?
Quá trình trao đổi, quan hệ về kinh tế hẳn nhiên dẫn đến sự giao thoa về văn hoá: Cách cày bừa bằng 2 trâu (hoặc bò) của người Việt vùng Nam Trung bộ phải chăng đã học được từ người H’re? Tại sao cây nêu của người H’re lại không giống với cây nêu của các tộc người thiểu số lân cận (Cor, Ka dong) và cả vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, trong khi lại có nhiều nét tương đồng với cây nêu của người Việt? Có hay không mối quan hệ giữa người H’re và người Chăm cổ? Phải chăng tập quán định cư, lập làng quanh các chân đồi thấp, gần các thung lũng có thể trồng lúa nước mà không còn du canh, du cư như hầu hết các tộc người thiểu số miền Tây, sự hình thành tầng lớp “cà rá” giàu có, nhiều quyền lực và uy tín, đã cho thấy xã hội người H’re (trước tháng 8/ 1945) đang trong quá trình tan rã của các công xã thị tộc và bước vào ngưỡng của của xã hội phân chia giai tầng?
Hàng loạt câu hỏi và theo đó là hàng loạt vấn đề đặt ra từ việc tìm hiểu và nghiên cứu Trường Luỹ mà những gì mà nhóm EFEO nêu lên mới chỉ là những gợi ý ban đầu.  
Trường Luỹ ẩn trong nó mang mang chuyện kể, về con người, về núi sông mưa gió, lẫn lộn vui buồn, chập chùng ký ức. Giờ đây, chúng ta lại hy vọng, bằng suy nghĩ và hành động đúng đắn của mình, hậu thế sẽ dựng lên từ Trường Luỹ một huyền thoại mới, rằng những qua phân một thời là câu chuyện mãi mãi lùi vào dĩ vãng...
                                           Bến Đá, tiết Lập Xuân, năm Tân Mão – 2011.
                                                                               LHK
-------------------------------------
(1) Lê Hồng Khánh; Trường Luỹ và việc nghiên cứu Trường Luỹ; tạp chí Sông Trà – tháng 6/2010; trang 117- 118
(2) Nguyễn Tiến Đông và Andrew Hardy; Khảo cổ học Trường Luỹ, 5 năm nghiên cứu; tài liệu tại Hội nghị bàn công tác bảo vệ di tích Trường Luỹ Quảng Ngãi – tháng 1/2011; trang 3.
(3) Lê Hồng Khánh; Trường Luỹ ký; tạp chí Cẩm Thành số 63- 2010; trang 22. Trong bài viết kỳ I chúng tôi đã xếp Quảng Ngãi tỉnh chí vào nhóm tác phẩm chữ Hán, đúng ra tác phảm nầy viết bằng Quốc ngữ, nay xin đính chính và thành thật cáo lỗi cùng bạn đọc.
(4) Hoàng Phê (Chủ Biên); Từ điển tiếng Việt; Nxb KHXH; Hà Nội - 1988, trang 264.
(5) Vĩnh Cao - Nguyễn Phố; Từ lâm Hán Việt từ điển, Nxb Thuận Hóa, Huế. 2001 (tr.1368)
(6) Quốc sử quán triều Nguyễn; Đồng Khánh địa dư chí; Philippe Papin, Phan Văn Các, Lê Việt Nga, Dương Thị The dịch và chú giải; NXB Thế giới HN 2003 tập 1, trang 21.

(7), (9), (10) Nguyễn Tiến Đông và Andrew Hardy; nt ; trang 20 - 21.
(8) Lê Hồng Khánh; Đi tìm xóm Đá; tạp chí Cẩm Thành số 48- 2006; trang 50.
(11) Nguyễn Bá Trác (Chủ trương); Quảng Ngãi tỉnh chí; Nam Phong tạp chí – 1933.
(12) Lê Quang Định; Hoàng Việt nhất thống địa dư chí; Phan Đăng dịch, chú giải và giới thiệu; Nhà XB Thuận Hoá và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây; 2002; trang 10


Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

TRƯỜNG LUỸ NGHI HOẶC KÝ! KỲ 1: NGHI HOẶC ĐỂ LÝ HOẶC.





                               Tác giả: Lê Hồng Khánh

1) Đôi điều về và với nhóm EFEO:

Từ khoảng cuối năm 2005, một nhóm  nghiên cứu, dẫn đầu là tiến sỹ Andrew Hardy, quốc tịch Anh, Trưởng đại diện Trung tâm Viện Viễn đông bác cổ Pháp (Centre de L’école francaise d’Extrêm – Orient) tại Hà Nội và Tiến sỹ Nguyễn Tiến Đông, quốc tịch Việt Nam, hiện làm việc tại Viện khảo cổ học Việt nam (sau đây gọi tắt là nhóm EFEO), đã đến Quảng Ngãi và xúc tiến khảo sát, nghiên cứu Tĩnh Man Trường Luỹ (thường được gọi tắt là Trường Luỹ), một công trình quân sự hình thành đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, ở miền Tây Quảng Ngãi. Vào thời điểm đó và kéo dài cho đến đầu năm 2010, tên công trình nầy được nhóm nghiên cứu gọi một cách dè dặt là “Bờ Luỹ”, (dù vẫn dịch sang tiếng Pháp bằng cụm từ  longue muraille  du Quang Ngai ) thay cho tên gọi chính thức vốn được ghi rõ trong các bộ chính sử của nhà nước Đại Nam và cũng không lạ gì với A. Hardy và Nguyễn Tiến Đông. Công lao cần được ghi nhận của nhóm EFEO là họ đã tiến hành điều tra, khảo sát một cách khoa học và đa ngành (khảo cổ học, dân tộc học, folklore học,…), đồng thời trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn đưa ra một số giả thuyết về Trường Luỹ, gợi mở nhiều hướng tiếp cận các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá gắn với vùng cao Quảng Ngãi (và theo đó là Quảng Nam và Bình Định) suốt gần trọn thế kỷ XIX, rồi theo vết loang lịch sử, một vài  vấn đề thuộc các lĩnh vực nầy còn kéo dài đến tận ngày nay, và dĩ nhiên, ít hoặc nhiều, tác động lên xã hội miền Thượng vào thời chúng ta đang sống. Hơn thế nữa, nhờ vào những lợi thế riêng, nhóm EFEO đã đặt ra một chủ đề nghiên cứu nghiêm túc, thu hút sự quan tâm của các nhà chuyên môn và giới truyền thông, về một công trình dường như nằm trong khu vực “nhạy cảm” về chính trị, trong bối cảnh những vấn đề về dân tộc - tôn giáo có lúc “cộm” lên ở Tây Nguyên và vùng cao các tỉnh Nam Trung bộ, trong đó có vùng cư trú của đồng bào Hre. Những gợi ý của nhóm EFEO, thông qua thực tiễn, về cách thức tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách nghiêm túc, khoa học; tính công khai, dân chủ và sẵn sàng tranh luận trong suốt quá trình làm việc để cùng hướng đến hiệu quả cao nhất của chương trình, là điều rất đáng trân trọng.
Đã từng cộng tác với họ, trong một khoảng thời gian và ở một số lĩnh vực nhất định, chúng tôi hiểu và thông cảm những nhọc nhằn mà họ phải chịu đựng, những khó khăn ban đầu tưởng không thể vượt qua, những nghi ngờ mà đến tận lúc nầy vẫn chưa chắc đã được giải toả rốt ráo. Một trong những lý do thôi thúc viết bài nầy, chính là sự tôn trọng của chúng tôi giành cho họ, trên bình diện khoa học, cũng như trên quan hệ con người, với Andrew Hardy, Nguyễn Tiến Đông cùng các cộng sự và học trò của hai người, thuộc nhiều quốc tịch. Các nhà nghiên cứu và bạn đọc muốn biết nhóm EFEO đã làm gì, làm như thế nào và đạt những thành tựu ra sao, tốt nhất  xin hãy đọc các báo cáo mà họ đã công bố. Bài viết của chúng tôi chỉ nêu lên một vài ý kiến có tính chủ quan, khi đối chiếu những điều được nhóm EFEO trình bày trong các báo cáo của họ và rất nhiều bài báo của các đồng nghiệp, báo viết lẫn báo mạng, đã cho đăng tải. Thấy như có một sự “lệch pha” nhất định khiến có thể dẫn đến vài nghi hoặc về phía độc giả và giới chuyên môn. Lại cũng thấy có những điều cần trao đổi, thậm chí tranh luận - một cách thức tiếp cận chân lý mà Andrew Hardy vốn rất thích thú, về những giả thuyết mà họ đã nêu ra.
Nghi hoặc là một trong những tiền đề của lý hoặc. Có nghi hoặc mới có lý hoặc. Vậy nên chúng tôi mạo muội trình bày thiển ý của mình, như thể là người mở chuyện để đưa đến những trao đổi khoa học, chân tình, ngỏ hầu tiếp nhận cao kiến của các đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu, các bậc thức giả và đông đảo bạn đọc quan tâm đến vấn đề Trường Luỹ và lịch sử vùng cao Quảng Ngãi.
2. Phát hiện Trường Luỹ?
Liên tục những ngày sau cuộc toạ đàm về Trường Luỹ lần thứ 3, tổ chức tại khách sạn Hùng Vương (TP Quảng Ngãi) ngày 16/4/2010, với sự hiện diện của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, báo chí trong nước, kể cả báo viết lẫn báo mạng, đưa tin dồn dập về Trường Luỹ, và theo đó là những xác quyết  rằng nhóm EFEO đã “phát hiện” ra Trường Luỹ(!)
Sự thật là, suốt một thời gian dài, không một tài liệu nào xuất bản trong nước, thậm chí ngay tại Quảng Ngãi, đề cập đến Trường Luỹ, dù chỉ là những dòng vắn tắt. Cuốn sách Quảng Ngãi – Đất nước – Con người – Văn hoá (Sở Văn hoá Thông tin Quảng Ngãi tổ chức biên soạn và xuất bản lần đầu năm 1997, tái bản năm 2001) do một nhóm các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá từ trung ương và địa phương ra công biên soạn, hiệu đính, mà lạ thay, Trường Luỹ đã không được nhắc đến, dù chỉ một dòng, mặc cho cái “sự vật - hiện chứng lịch sử” ấy đã và đang sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt. Mặc khác, dù không ít người làm báo, nghiên cứu lịch sử đã đi lại, điền dã, khảo sát rất nhiều lần ở miền Tây Quảng Ngãi, nhưng thật khó nói vì  sao một dãi luỹ chạy dài hàng trăm cây số, cao đến vài ba mét, được nhắc đi, nhắc lại hàng ngày trong lời ăn tiếng nói của người bản địa, đã không được để ý đến. Vì sự “nhạy cảm” đã nói trên kia hay vì lý do nào khác?
Có lẻ, vì sự “xa lánh” Trường Luỹ như vậy mà khi đọc/nghe bản báo cáo do A. Hardy và Nguyễn Tiến Đông chấp bút, rất nhiều người ngộ nhận nhóm EFEO đã “phát hiện” Trường Luỹ và vội vã tung hô, theo cái cách mà họ - những nhà khoa học chững chạc ấy, không hề chờ đợi.
Tuy nhiên, với những ai đã đọc qua một số sách, bài biên khảo, tài liệu lịch sử về Quảng Ngãi hoặc có liên quan đến Quảng Ngãi đã xuất bản trước đây, bằng chữ Hán (Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đồng Khánh địa dư chí, Quảng Ngãi tỉnh chí,..), chữ Pháp (Notice ethnique sur les Mọi de la resgion de Quang Ngai, Les Moi du Sơn Phòng, Le poste administratif de Làng Rí (Quang Ngai), Les Jungles Moi,..), chữ Quốc ngữ (Quảng Ngãi nhất thống chí, Non nước xứ Quảng,..) đều không lạ gì sự hiện diện của Trường Luỹ ở miền Tây Quảng Ngãi. Gần đây nhất, trong bộ sách Địa chí Quảng Ngãi (xuất bản năm 2008), Trường Luỹ, và theo đó là Sơn phòng, cũng đã được đề cập ở mức độ đủ để người đọc không còn cho là Trường Luỹ chỉ được phát hiện vào thế kỷ…21!
Người viết bài nầy xin phép A. Hardy và Nguyễn Tiến Đông, được nhắc lại, một lần duy nhất và cần thiết, tại đây, điều mà chúng ta, vốn đã mặc nhiên xác quyết, không một lời bàn cãi, rằng các vị đã nghiên cứu Trường Luỹ rất công phu, công phu nhất từ trước đến nay, nhưng “phát hiện Trường Luỹ”  hẳn là một câu chuyện khác!
3. Chiều dài Trường Lũy là bao nhiêu?
Trong các báo cáo của mình, nhóm EFEO nêu phỏng đoán Trường Luỹ dài khoảng 200 km. Từ đây, hầu hết các bài viết đều cho rằng 200 km, hoặc nhiều hơn, chính là chiều dài của luỹ. Thậm chí có bài báo còn cho rằng, chiều dài nầy lên đến “gần 500km”. Được biết nhóm EFEO đang tiến hành đo đạt thực địa, vẽ bản đồ Trường Luỹ bằng công nghệ  định vị GPS (Global Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầu) , và điều nầy, hiển nhiên sẽ cho chúng ta những kết quả khá chính xác về tổng chiều dài Trường Luỹ. Nhưng từ lúc nầy đến khi chiều dài của Trường Luỹ được công bố chính thức, chúng tôi (LHK), qua việc tìm hiểu các tài liệu lịch sử, phán đoán  và phân tích những dữ kiện có được, cho rằng chiều dài Trường Luỹ chỉ ở mức xấp xỉ 150km, trong đó, đoạn đi qua đất Quảng Ngãi (do Nghĩa Phòng, thuộc Nghĩa Định Sơn phòng quản lý) trên dưới 100km, phần còn lại, trên đất Bình Định (thuộc Định phòng) chừng non 40 cây số ngàn. Cổ nhân  đã dặn “nói có sách, mách có chứng”, điều đó không sai; song từ đây đến lúc số liệu đo đạc chiều dài Trường Luỹ được công bố, xin được mượn một câu nói đã trở nên quen thuộc với nhiều người: “Hãy đợi đấy!”
4. Trường luỹ do ai xây dựng?
Đi tìm lời giải cho vấn đề nầy, trước hết phải trả lời 2 câu hỏi cốt lõi sau đây:
- Ai chủ trương, hoạch định, tổ chức, chỉ huy xây dựng Trường Luỹ?
- Nhân lực sử dụng đào đắp Trường Luỹ là những ai?
     +  Lời giải cho câu hỏi thứ nhất về cơ bản đã có sẵn trong sử sách, tài liệu. Một số sử liệu trích dẫn sau đây phần nào có thể giúp cho một câu trả lời đúng đắn: 
- Luỹ dài Tĩnh Man: ở cách tỉnh thành 23 dặm, phía bắc giáp địa giới huyện Hà Đông tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp địa giới huyện Bồng Sơn tỉnh Bình Định, luỹ dài 177 dặm. Hồi đầu bản triều đặt binh sáu đạo để phòng giữ ác man Thạch Bích; năm Gia Long thứ 4, đặt cơ Thập Kiên làm đạo Bình Man, đắp 115 sở bảo, sau đổi làm cơ Lục Kiên, theo địa thế các bảo, sở mà đắp thêm luỹ dài, đặt 27 lân phụ luỹ, mõi lân đặt một cai lân và một phó lân, thay phiên nhau đóng giữ; năm Minh Mệnh thứ 3 đổi cai lân làm bát phẩm bá hộ, phó lân làm cửu phẩm bá hộ; năm thứ 9 đổi Lục Kiên làm năm cơ Tĩnh Man, cơ nhất trú phòng 22 bảo là Phú Thọ, Tuy An, Thuận An, Tuấn Lĩnh, Dũng Thuỷ, Phú Thành, An Lạc, Bảo Sơn, Phú Sơn, Vĩnh Khánh, Phú Lân, Mỹ Sơn, Kiên Thành, Thổ Sơn, Mỹ Bố, Hưng Nhân, Hưng Bình, Phú Xuyên, Phú Nhuận, Lân Định, An Đình và Giang Ngạn; cơ nhị trú phòng 21 bảo là Thanh Bồng, An Viên, Thanh Nguyên, Thạch Bàn, Kiên Giáp, Cao Đôi, Trường Giang, An Sơn, Viên Môn, Bàn Thạch, Câu Giao, Mã Hoàn, Lĩnh Lâm, Hội Vân, Lê Thạch, Nham Thạch, Thạch Phong, Hùng Lĩnh, Chi Trụ, Thanh Khê và Linh Chi; cơ  tam trú phòng 22 bảo, là Kiên Thạch, An Lĩnh, Hùng Thành, Cam Lâm, Tráng Sỹ, Đại Phụ, Phong Nhuệ, Mỹ Lộc, Thanh Thụ, Giảng Sỹ,Tú Lĩnh, Thạch Lĩnh, Thạch Lâm, Mỹ Sơn, Trung Phu, Bồng Lai, Củng Cố, Trường Đình, Trường Hoà, Lý Nhân, Tân Phong và Phúc Lộc; cơ tứ trú phòng 25 bảo là Phú Lộc, Ninh Giang, Tài Công, Vũ Giáp, Long Bình, Sơn Chi, Giang Bình, Hoà An, Vạn Niên, Thạch Bì, An Thạch, Lập Thạch, Vĩnh Thạch, Bình An, Tân An, Tân Bình, Mậu Lâm,  Bích Khuê, Trúc Lâm, Hùng Nghĩa, Xuân Linh, An Phong, Bình Định, Thạch Luỹ và Tam Giang; cơ ngũ trú phòng 24 bảo là Hoà Dương, Lâm Tùng, Nhân Hoà, Thạch Căn, Thuận Lợi, Thanh Thuỷ, Mỹ Thịnh, Phú Nhân, Thanh Lê, Lương Tài, An Bài, Vạn Phúc, An Tượng, Trạch Lâm, Liệt Sơn, Hương Thanh, Sơn Quan, An Nhơn, Thanh Lâm, Thanh Vân, Phúc Thôn, Tài Thọ, An Dũng và Thanh Trung. Sửa sang trường thành, xây đắp 114 bảo, lấy viên lãnh binh tại tỉnh lãnh việc phòng ngự ác man, thật là chu đáo.” (1)
    - “Lê Văn Duyệt: người huyện Chương Nghĩa, sau vào ngụ ở Định Tường,[...]. Duyệt là người thâm trầm, dữ tợn, chiến đấu giỏi. Đầu được phong chức Thái giám, từng theo đi Vọng Các, khi trở về nước, thăng Nội hậu cai đội, rồi thăng Diệu vũ hiệu uý, vì quân công được thăng Tả dinh đô thống chế, các trận đánh ở cửa Thị Nại và cửa Tư Hiền, vũ công của Duyệt đứng hành đầu, sau được phong tước Quận công; mùa hè năm Gia Long thứ nhất, bắc phạt, được trao chức Bình Tây tướng quân, kéo quân đi trước. Quân của Duyệt đi đến đâu như gió lướt cỏ, đánh lấy được Bắc Thành, lại đem quân đi đánh tan ác man ở Quảng Ngãi, đắp luỹ, đặt lân, giữ vững biên thuỳ bờ cõi được yên. Sau đó làm Tổng trấn Gia Định, hộ tống Quốc vương Cao Mên Ông Chăn về nước, thanh thế lừng lẫy, người Xiêm sợ uy…” (2)
- “Đất thượng du tỉnh tôi là một vùng núi liên tiếp kéo dài đến ngót ngàn dặm, chỗ ở của người “man” và dân kinh cách nhau không xa lắm.
Thời Quốc sơ, triều đình đã thiết lập sáu đạo để phòng ngự, nay dấu tích các đồn bảo vẫn còn một ít. Thời nguỵ Tây, dân vùng biên cảnh đều tự lo phòng thủ lấy. Sau khi bình định xong đất nước, vào năm Gia Long thứ 3 (1804), sáu kiên cơ Trấn Man được thành lập, phía bắc giáp Quảng Nam, phía Nam giáp Bình Định, đặt ra các đồn ải ở trong sáu cơ nầy, cứ bốn, năm trăm trượng một đồn, hoặc bảy tám trăm trượng một đồn, cắt quân trấn giữ.
Năm thứ mười tám triều Gia Long(1819), xây đắp Trường Luỹ, sau luỹ là các đồn ải, trấn đóng bảo vệ an ninh. Từ đó về sau tăng giảm hệ thống phòng thủ, không phải thực hiện chỉ một lần mà bấy giờ quan lại thiết trí các đồn bảo thường theo khoảng cách đường sá mà xây cho đều nhau…” (3)
- “Kỷ Mão năm thứ mười tám (1919), Khâm sai Chưởng tả quân Bình Tây Tướng quân Quận công Lê Văn Duyệt tâu xin xây Trường Luỹ, nam giáp ranh giới huyện Bồng Sơn tỉnh Bình Định, bắc giáp ranh giới huyện Hà Đông tỉnh Quảng Nam, dọc theo luỹ có đào hào trồng tre, trước luỹ là vùng “man”, sau luỹ có xây đồn gồm 115 cái, mỗi đồn có mười tên lính giữ, gồm có 1.150 người, lại lấy dân các huyện thượng bạn lập thành 27 lân theo sáu kiên cơ mà phòng ngự.” (4)
   + Câu hỏi thứ 2, về nhân lực, liên quan đến giả thuyết của nhóm EFEO, rằng “hai bên đã cùng xây dựng Trường Luỹ”:
“Trường Luỹ và các kiến trúc liên quan tạo thành một hệ thống quân sự rõ ràng có mục đích bảo vệ khu vực của người Việt, và chủ yếu do sỹ quan, binh lính của người Việt quản lý. Nó là một kiến trúc phòng vệ quân sự được dựng lên để ngăn chặn xung đột. Tuy nhiên nghiên cứu mới đây lại đang chỉ ra rằng luỹ không phải là công trình chỉ do người Việt xây dựng. Nguồn gốc của việc tạo một ranh giới được sự đồng ý của cả hai bên. Hai bên đã cùng tham gia vào xây dựng luỹ, với việc sử dụng đáng kể kỹ thuật xếp đá của người Hre. Quá trình trao đổi chính trị và kỹ thuật liên quan đến việc xây dựng Trường Luỹ là một trong những đặc điểm của di tích.” (5)
Chỉ là giả thuyết, dĩ nhiên, nhưng chúng ta phải bàn về nó kỷ hơn, vì có vẻ nhiều người đã tin vào đó như thể một khẳng định.
Qua tất cả các báo cáo đã được công bố, nhóm EFEO, đã không đưa ra cứ liệu và lập luận biện giải cho giả thuyết của mình, ngoài cụm từ “nghiên cứu mới đây” và “sử dụng đáng kể kỹ thuật xếp đá của người Hre”.  Chúng ta cần phải chờ, hơn thế nữa, trên tinh thần khoa học và tôn trọng lẫn nhau, yêu cầu họ cho biết: “Nghiên cứu mới đây” là gì? Ai nghiên cứu? Thuộc chuyên ngành khoa học nào? Nội dung và kết quả nghiên cứu đó ra sao để có thể làm cơ sở cho một giả thuyết mà nếu được chứng minh đầy đủ có thể làm đảo lộn nhiều vấn đề các sử gia tiền bối đã ghi chép, cũng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứa, biên khảo cả trong và ngoài nước?
Bây giờ chúng ta thử xem, trong quá trình xây dựng Trường Luỹ, có “sử dụng đáng kể kỹ thuật xếp đá của người Hre” không?
Gần như chắc chắn là không có một sử liệu hay một tài liệu có giá trị nào khác nói như vậy, trước nhóm EFEO. Thừa nhận một sự thực là, cho đến nay, người Hre vẫn ứng dụng khá thành thạo kỹ thuật xếp đá  bằng tay, với việc sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn, để kè các con đập thô sơ, bờ ruộng, bờ bao quanh vườn nhà… Song điều nầy không giúp cho việc khẳng định họ là những người đã đem kỹ thuật kè đá vào việc xây dựng Trường Luỹ. Nếu lật ngược lại cách đặt vấn đề  và cho rằng người Hre đã học được kỹ thuật xếp đá khi tiếp cận, quan sát Trường Luỹ thì sao? Lại nữa, vì sao người Hre cư trú ở những vùng gần Trường Luỹ khá giỏi kỹ thuật xếp đá bằng tay, trong khi đó ở những nơi xa dần về phía Tây, sự khéo léo đã yếu đi hẳn? Phải chăng người Hre cư trú gần Trường Luỹ học được kỹ thuật xếp đá, còn đồng tộc của họ ở nơi xa hơn thì không, hoặc chỉ học được một cách lõm bõm?
 Sử nhà Nguyễn cho biết, Trường Luỹ được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, và “tiền thân” của nó là những “Đoạn Trường Luỹ” được đào đắp dưới thời Bùi Tá Hán (1496 – 1568), vị võ tướng tài ba Trấn thủ thừa tuyên Quảng Nam khoảng giữa thế kỷ XVI. Trong cuộc hành trình Nam tiến đầy gian nan, người Việt đã đến Quảng Ngãi và định cư sinh sống ở những nơi mà tận ngày nay chúng ta vẫn còn nhìn thấy kỹ thuật xếp đá (bằng tay và dùng nguồn nguyên liệu tại chỗ) khá rành rọt để đắp các bờ bao chống sạt lở, bờ chắn cát, bó quanh nền nhà, kè đường đi lối lại và đặc biệt là cả giếng nước như ở huyện đảo Lý Sơn và nhiều vùng ven biển. Xa hơn, lần về phía bắc, ở các vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, nơi mà người Việt từ miền ngoài đã vào định cư từ lâu đời, dấu tích của những công trình kè đá, đặc biệt là giếng lấy nước, vẫn còn không ít, cho đến ngày nay. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh, các giếng nước và công trình kè đá ấy là của người Chăm, và người Việt đã tiếp thu kỹ thuật đó một cách thành thục và đầy sáng tạo. Nếu có ai trong chúng ta còn nghi ngờ thì người viết bài nầy xin mạn phép có lời mời đến huyện đảo Lý Sơn để “tham quan” những giếng Chăm xếp đá còn lại và tận mắt nhìn thấy cách người dân ở đây xếp những khối đá granit, đá phún thạch, đá san hô thành những bờ ngăn cát, bờ ruộng trồng hành, kè mồ mã, nền nhà, đường đi lối lại, đặc biệt là ở phía cù lao Bờ Bãi, hay còn gọi là đảo Bé. Còn phía trong đất liền, vùng ven biển hai huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, những con đường , giếng nước kè đá không còn nhiều, nhưng những người thợ đẽo và xếp đá ong cha truyền con nối ở đây vẫn có thể kể cho người quan tâm rất nhiều điều về tay nghề, kinh nghiệm cũng như những câu chuyện lý thú liên quan đến kỹ thuật sắp những viên đá có sẵn hoặc đã qua ghè đẽo. Về kỹ thuật xếp đá của người Chăm, Tiến sỹ khảo cổ học Nguyễn Tiến Đông, một trong hai nhân vật chính của nhóm EFEO, là người quá am tường, vì nếu chúng tôi không nhầm, cách đây không lâu, ông và các cộng sự đã công bố một công trình nghiên cứu về giếng Chăm ở Hà Tĩnh khá công phu.
Người Việt, và lực lượng quân đội của mình, vốn đã có bề dày kinh nghiệm trong việc xây đồn đắp luỹ dọc từ Luỹ Thầy (Quảng Bình) trở vào, lại tiếp thu kỹ thuật xếp đá tinh xảo của người Chăm rất lâu trước khi tiến lên miền Tây Quảng Ngãi, đã mang theo kỹ thuật xếp đá của mình để xây Trường Luỹ, hay họ phải đợi người Hre giúp cho  kỹ thuật ấy trong việc xây dựng những đồn luỹ ngăn chặn chính người Hre?
 Người Việt đã học được kỹ thuật xếp đá từ người Chăm? Cũng có thể, nhưng ở đây chưa phải là lúc bàn đến điều nầy. Vấn đề là, trước thời điểm xây dựng Trường Luỹ rất lâu, người Việt ở vùng đồng bằng, ven biển Quảng Ngãi đã đạt đến trình độ xếp đá, đủ để dựng nên những đồn bảo và đắp những đoạn luỹ dài để phòng thủ, cố gắng bảo vệ cuộc sống yên bình trong bối cảnh bề bộn can qua. Lịch sử Nam tiến của người Việt và một số dấu hiệu về dân tộc học còn nhìn thấy ở người Hre, cho phép suy đoán về địa bàn cư trú vùng đồng bằng hoặc cận đồng bằng của người Hre trước khi di chuyển lên vùng núi thấp phía tây cách nay chừng nửa thiên niên kỷ. Nhưng sự suy đoán nầy không hẳn nhiên cho phép khẳng định người Hre đã có được kỹ thuật xếp đá “hoàn hảo” trước khi người Việt xây dựng Trường Luỹ. Người Chăm có thể đã “chuyển giao” kỹ thuật xếp đá cho người Việt ở cù lao Ré và ở nhiều nơi thuộc vùng đồng bằng, ven biển Quảng Ngãi; nhưng đó có phải là nhóm người Chăm tiền Hre hay không? Nên nhớ rằng vương quốc Chăm (Champa, Chiêm Thành) được tổ chức theo hình thức liên minh các tiểu quốc và nhóm tộc người, có sự chênh lệch và khác biệt nhất định về phát triển kinh tế xã hội, về tri thức và trình độ kỹ thuật. Andrew Hardy và Nguyễn Tiến Đông chắc chắn đã nhớ  điều nầy khi viết: “Câu chuyện Trường Luỹ cũng liên quan chặt chẽ tới câu chuyện lịch sử đảo Lý Sơn. Hòn đảo cũng là một nguồn bằng chứng cho nhiều vấn đề của Trường Luỹ, đặc biệt là sự mở cõi của người Việt Nam qua việc di cư và sự hội nhâp với người Champa. Ở khía cạnh nầy, sự hiện diện diện kỹ thuật xếp đá của người Việt trên đảo Lý Sơn, cũng như một truyền thống đi biển xuất sắc của họ là những yếu tố đáng chú ý.” Và rằng “ Tổ tiên của người Hre hiện nay đã sống ở vùng đồng bằng thời kỳ Champa nhưng những đặc điểm dân tộc – ngôn ngữ (ethnolinguistique) của họ lại khác với người dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Điều này gợi ý rằng Champa là một xã hội đa dân tộc.” (6)
Ở đây cũng xin được nói rõ: Trường Luỹ vắt ngang địa hình khá phức tạp của miền Tây với nhiều núi, đồi, sông suối, thung lũng, cơ bản được đắp bằng đất và chỉ có một số đoạn ngắn, băng qua các sườn đồi có độ dốc vừa, được đắp cốt đất ở trong, ốp đá ở bên ngoài để tránh trôi trượt, và ít hơn nữa là những đoạn xây hoàn toàn bằng đá, ở những nơi có độ dốc lớn. Kỹ thuật xếp đá chỉ được ứng dụng phổ biến trong việc xây đắp các đồn, bảo, nằm phía sau hệ thống hào luỹ, sâu về phía cư trú của người Việt. Một số không ít những bức hình đăng tải lâu nay trên báo (chụp ở Thiên Xuân, Đèo Chim Hút thuộc huyện Nghĩa Hành) cho thấy các đoạn tường thành xếp hoàn toàn bằng đá, đã bị chú thích nhầm (hoặc người chụp ảnh nhầm) là Trường Luỹ, nhưng thực ra đó chỉ là bờ thành đá bao bọc các “bảo”- hệ thống chốt điểm trú đóng và phòng thủ của biền binh hoặc dân binh nằm phía sau luỹ. “Bảo” không thuộc Trường Luỹ dù nằm chung trong hệ thống Đồn – Bảo – Luỹ do Sơn Phòng quản lý.
Thêm nữa, người đề xuất và chỉ huy xây dựng Trường Luỹ là ông Lê Văn Duyệt (1764 – 1832), một võ tướng lừng danh của nhà Nguyễn, người đã nhiều lần cầm quân ra Bắc, vào Nam, từng có mặt tại Gia Định khi Nguyễn Ánh cho đắp Bát Quái thành (còn gọi là Quy thành) vào năm 1790 với kiến trúc “hỗn hợp Đông – Tây” theo hoạ đồ của 2 sỹ quan công binh Pháp là Victor Oliver de Puymanel và Theodore Lebrun. Vai trò quan trọng của Thành Bát Quái và thành Diên Khánh (xây dựng năm 1794, nằm trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà ngày nay) trong chiến cuộc Nguyễn Ánh – Tây Sơn cũng như thành công của hệ thống Luỹ Thầy do các chúa Nguyễn xây dựng vào thế kỷ XVII, trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh chắc chắn là những bài học mà các vua đầu triều Nguyễn và các đại thần đầy thế lực, trong đó có Lê Văn Duyệt, thuộc nằm lòng. Hơn ai hết, chính họ là người hiểu rõ công dụng của thành lũy trong việc xây dựng một nhà nước tập trung hùng mạnh – cho dù đó là  điều mà các vương triều châu Âu đã biết từ lâu. Thống kê cho thấy từ thời Gia Long cho đến cuối thời Minh Mạng có đến trên 30 thành luỹ được xây dựng khắp từ Nam chí Bắc.
Còn có những yếu tố “ngoài kỹ thuật” mà chúng ta cần thiết phải xét đến khi đề cập đến nguồn nhân lực xây dựng Trường Luỹ mà trước hết là bối cảnh hình thành công trình quân sự nầy. Và đây là nguyên văn trong báo cáo của nhóm EFEO:
 “Trường Luỹ và các kiến trúc liên quan tạo thành một hệ thống quân sự rõ ràng có mục đích bảo vệ khu vực của người Việt, và chủ yếu do sỹ quan, binh lính của người Việt quản lý. Nó là một kiến trúc phòng vệ quân sự được dựng lên để ngăn chặn xung đột…”(7)
Suốt nhiều thế kỷ, miền Tây Quảng Ngãi là vùng đất không hề yên ổn đối với nhà nước phong kiến Việt Nam. Đây là địa bàn chất chồng, đan xen nhiều mâu thuẩn: mâu thuẩn giữa các nhóm tộc người cùng chung sống trên một địa bàn chật hẹp và hiểm trở; mâu thuẩn giữa xu hướng hình thành một nhà nước thống nhất, trung ương tập quyền và các thế lực cát cứ; mâu thuẩn giữa tầng lớp thống trị và những người bị áp bức, cùng khổ…Thêm vào đó, vùng núi rừng hiểm trở phía Tây còn là nơi ẩn náo của các thế lực thất thế ở phía đồng bằng, trong đó có tàn binh Tây Sơn, vào đầu thời Nguyễn. Nói rằng hệ thống Trường Luỹ được xây dựng chỉ nhằm mục đích bảo vệ khu vực của người Việt là đúng, nhưng chưa đủ, vì rằng nhà nước phong kiến Việt Nam luôn có xu hướng mở rộng tầm ảnh hưởng để thực hiện chính sách “kinh dinh”, mà trước mắt là có thể thu được nhiều thuế hơn cho Quốc khố, mua hoặc đổi chác được nhiều lâm thổ sản (quế, sa nhân, cánh kiến, trầm hương, gỗ quý,…) với giá rẻ hơn rất nhiều khi đem bán lại cho các thương nhân Trung Hoa hoặc Phương Tây.
Không thể siêu hình đòi hỏi bộ máy cai trị phong kiến nhà Nguyễn phải có “chính sách dân tộc”, theo cách của xã hội hiện đại, nhưng cũng không thể quên  những nguyên nhân quan trọng dẫn đến va chạm bạo lực Kinh Thượng lúc bấy giờ là chính sách cai trị hà khắc, xoá bỏ tập quán, bản sắc văn hoá tộc người, thuế khoá nặng nề và tình trạng nghèo khổ, bần cùng đến nghiệt ngã của các tộc người thiểu số ở miền Tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.
Ngay khi vừa lên ngôi (1802), Gia Long  đã áp đặt chế độ trấn quan, cho lập đồn binh ở các nguồn, đề phòng những cuộc nổi dậy, trấn áp tàn quân Tây Sơn còn dựa vào người Thượng và ẩn náo đâu đó giữa núi rừng hiểm trở. Triều đình nhà Nguyễn cũng đã nhanh chóng  ban hành các loại thuế đánh vào lâm thổ sản ở vùng cao, làm cho đời sống người miền Thượng vốn khổ sở lại càng thêm quẩn bách.
Trong khi đó, quan lại được triều đình cử đến, nhiều người thiếu thực tài cai trị nhưng lại hà khắc, tàn bạo với người Thượng mà trường hợp Phó Quản cơ Lê Quốc Huy là một ví dụ điển hình. Liên tục trong các năm 1803, 1807, 1808, người Hre ở miền Tây Quảng Ngãi nổi lên chống lại quân triều đình. Trong những lần ấy, Lê Văn Duyệt, một người Quảng Ngãi mưu lược, giỏi dụng binh, được đích thân vua Gia Long sai đi an định. Đại Nam liệt truyện chép về sự kiện “Bình man” năm 1808 của viên võ quan trọng thần họ Lê như sau:
         -  “Năm thứ 7, (1808) ác man lại lấn dân ngoài biên, vua dụ rằng ác man làm lo không thể không đánh. Nhưng dường đi hiểm cao, chưa dễ phá ngay được, ngươi tuỳ nghi xử lý cho lòng nó phục. không đánh mà khuất phục được người, lại là thượng sách. Duyệt đã đến nơi. Mật sai vệ uý Từ, cùng Phó Vệ Uý Nhượng giả dư đảng Tây Sơn ngầm vào trại man cùng họ ăn ở, nhân hỏi tình trạng, người man nói với Từ rằng chúng không có ý phản, nhưng khổ về Phó Quản cơ là Lê Quốc Huy hà sách không thôi, cho nên họp nhau mưu phản đấy thôi. Từ về đưa việc ấy nói với Duyệt, Duyệt bắt Quốc Huy chiều luật quân pháp tâu xin chém đi rồi quân man nhiều đứa đến hàng, vua triệu Duyệt về.” (8)
Nguyễn Tấn (1822 – 1871), người trong một thời gian dài giữ chức Sơn phòng tiểu phủ sứ,  cho biết kế sách của mình trong trường hợp tiến công quân sự, càn quét và giết chóc không đạt được ý đồ thu phục người Hre, như sau:
            - “Nếu chúng đến khiêu chiến thì phải đánh nhưng không cần đuổi theo đến cùng. Mùa hạ cướp lúa, mùa thu cướp thóc của chúng, làm cho chúng đói không sinh sống được. Làm như thế thì bọn kia tất phải cúp đuôi xin hàng. Đạt tới trình độ đó thì kế hoạch vỗ về mới có thể thi thố được…”(9)
- […] đánh thuế chứ đừng cho chúng tích trữ vật thực, bởi vì nếu tích trữ được lương thực thì chúng dễ bề làm phản…Nếu bọn chúng còn ngoan cố không chịu nạp thuế thì ta phái quân lên gặt hết lúa của chúng mà ăn, lần thứ hai nếu còn không chịu nạp thì đánh. (10)
Những chính sách hà khắc, bạo ngược như vậy, cộng với nhiều nguyên nhân khác,  đã làm cho người miền Thượng nung nấu căm thù, dẫn đến nhiều cuộc giao chiến, nhiều khi đẫm máu, kéo dài cho đến cuối thế kỷ XIX.
Có trớ trêu không, khi cho rằng người Hre lại tham gia vào việc xây dựng một công trình quân sự nhằm khống chế chính mình, nếu họ không phải là những tù binh bị bắt buộc phải phục dịch cho đối phương? Lật lại chính sử triều Nguyễn, vốn nhiều lần ghi chép về việc xây hào đắp luỹ khắp trong Nam ngoài Bắc, trong đó có việc huy động nhân tài vật lực tại chỗ, hầu như cũng không thấy có việc cưỡng bức tù binh hay thường dân đối phương, trong đó có người người Hre, để có thể nêu giả thuyết rằng họ đã tham gia vào việc xây dựng Trường Luỹ.
Trong một bối cảnh như vậy, liệu có thể nói: “Nguồn gốc của việc tạo một ranh giới được sự đồng ý của cả hai bên. Hai bên đã cùng tham gia vào xây dựng luỹ, với việc sử dụng đáng kể kỹ thuật xếp đá của người Hre. Quá trình trao đổi chính trị và kỹ thuật liên quan đến việc xây dựng Trường Luỹ là một trong những đặc điểm của di tích.”(11) như giả thuyết của nhóm EFEO không?
Đây chính là một nghi hoặc lớn. Chúng tôi, và có lẻ cả bạn đọc nữa, không vội vàng phủ nhận giả thuyết mới mẻ nầy, song sẽ nêu, tại đây, yêu cầu nhóm EFEO đưa ra các minh chứng. Và chờ đợi…
Rất tiếc là bài viết nầy phải dừng lại ở đây, vì hai lý do: một là, cần có thời gian cho sự chờ đợi cần thiết vừa nói trên; và hai là, điều quan trọng hơn, câu chữ đã quá dài so với khuôn khổ của một bài báo được ưu ái cho đăng trên tạp chí Cẩm Thành.
                                                 Quảng Ngãi, tiết TrọngThu Canh Dần -2010
                                                                             LHK
Kỳ II: LÝ HOẶC

-------------------------
Chú thích:
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam Nhất thống chí (tập 2); bản dịch Phạm Trọng Điềm; NXb Thuận Hoá, Huế, 1992 ; Quyển VIII – tỉnh Quảng Ngãi, trang 430 -431.
 (2) như trên, trang 441.
 (3) Nguyễn Đức Cung; Lịch sử vùng cao qua Vũ Man tạp lục thư; Nhật Lệ xuất bản; Philadelphia, Pennsylvania – USA – 1908; phần dịch Phủ Man tạp lục; trang 202.
(4) như trên, trang 210.
(5),(6), (7) Andrew Hardy (EFEO) và Nguyễn Tiến Đông (Viện khảo cổ học VN); Trường Luỹ Quảng Ngãi – Bình Định: Di sản văn hoá độc đáo (Báo cáo khoa học lần thứ 3 của dự án Lịch sử và Di sản miền Trung Việt Nam: Trường Luỹ tại Quảng Ngãi – Bình Định: Đánh giá giá trị di sản, thách thức bảo tồn và tiềm năng phát huy giá trị di sản.); trình bày tại Hội thảo khoa học tổ chức ngày 16/4/2010 tại khách sạn Hùng Vương – Quảng Ngãi. Không đánh số trang. Những gạch dưới nhấn mạnh là của nguyên bản.
       (8) Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam liệt truyện; quyển 22. Mục XIX. Bản dịch Viện Sử học; Nhà xuất bản Thuận Hoá Huế; 1997; trang 404 -405
       (9), (10)  Nguyễn Đức Cung; như trên; trang 200.
       (11) Andrew Hardy (EFEO) và Nguyễn Tiến Đông (Viện khảo cổ học VN); như trên.
------------------------------
 Cám ơn tác giả đã gửi bài.

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Phù Nam nhìn lại: Giải cổ tác gia (VI)

Michael Vickery
Người dịch: Hà Hữu Nga
Phù Nam – Tên gọi và Kinh đô
Quan điểm truyền thống và không bị thách thức nghiêm trọng cho rằng fu nan/*b'ḽu-nậm là một cố gắng của người Trung Quốc trong việc ghi âm từ “núi” vnaṃ/bnaṃ trong ngôn ngữ Khmer cổ. Cách lý giải này đã ảnh hưởng đến việc tìm kiếm, thảo luận về vị trí của kinh đô, các tước vị của nhà vua (vua núi), và đã dẫn đến việc tiếng Khmer hiện đại sáng tạo ra cái tên ānācakr bhnam, “vương quốc núi”, một cái tên hàm ý một vùng rộng lớn hơn, mà hầu hết các sử gia Cambodia có thể chấp nhận.
Một vấn đề trong việc khôi phục lại một cái tên Khmer là ở chỗ hầu hết những cái tên có chữ nan/nam trong các văn bản Trung Quốc cổ về Đông Nam Á mà chữ này được hiểu theo nghĩa đen là “phương nam” và những cái tên đều mang đặc điểm địa lý. Các ví dụ tiêu biểu là 南越 Nam Việt, 南海 Nam Hải, 安南 An Nam, 日南 Nhật Nam. Vậy thì tại sao lại không giải thích 扶南 Phù Nam tương tự là 扶 phù + 南 nam? Aymonier đã làm như vậy và gợi ý là “phương nam được bảo hộ”. Pelliot đồng ý có thể là như vậy, nhưng có ý coi 扶南 Phù Nam là hai từ phiên âm, vì trong một số văn bản chữ Hán nó được viết vần bằng hai chữ khác nhau cho âm tiết thứ nhất, một là chữ fu và chữ khác là pa. [108]          
Như đã lưu ý ở trên, trong giới học thuật nghiêm túc, có hai giả thuyết đề cập đến vị trí của kinh đô Phù Nam, giả thuyết đầu tiên là Angkor Borei của Aymonier và Pelliot, còn giả thuyết thứ hai là Ba Phnom của Coedès, mà mãi gần đây khi có các công trình khai quật Angkor Borei nhưng không hề phát hiện được các di tích nào như thế thì giả thuyết này mới buộc phải thay đổi.    
Vấn đề là ở chỗ, việc xem xét loại toàn bộ các quan điểm trong một số công trình của Coedès và những người khác mà chỉ có các chuyên gia mới thực hiện được sẽ là một công việc rất hữu ích. Sự đồng thuận của Aymonier-Pelliot về Angkor Borei với tư cách là di chỉ kinh đô Phù Nam đứng vững mãi cho đến năm 1928, khi Coedès, thảo luận về các phả hệ của các vua Angkor nào đó (sau thế kỷ IX), đã cho rằng thủ đô của Phù Nam là ở Ba Phnom, chứ không phải là Angkor Borei. [109]
Bình luận về kết luận của Aymonier, được Pelliot ủng hộ, cho rằng một bi ký ở Battambang đã chứng tỏ rằng Vyādhapura [व्याधपुर* Vyādhapura 獵人城 * Liệp nhân thành, Đô thành thợ săn], tin là cái tên chữ Phạn của Kinh đô Phù Nam gần với Angkor Borei, Coedès cho rằng Aymonier, “khi đọc tên của một quan chức cấp tỉnh là Loñ Vrai Krapās Vyādhapura...và từ đó mà kết luận rằng Vyādhapura nằm ở tỉnh Prei Krebas hiện đại, và ông đã đồng nhất nó với Angkor Borei...là di chỉ đã sản sinh ra các tác phẩm điêu khắc thuộc một phong cách rất cổ”. [110] Nhưng theo Coedès, “Trong bi ký Khmer, việc chỉ định cho cùng một vị trí bằng hai cái tên đặt bên cạnh nhau [có nghĩa là hai địa danh vrai krapās và vyādhapura], thì không đúng với thông lệ, còn về phần tôi, thì tôi thiên về khả năng dịch nhân vật có tên là Loň Vrai Krapās Vyādhapura là 'Loñ của xứ Vrai Krapās và của thành Vyādhapura', hoặc thậm chí là 'Loñ của xứ Vrai Krapās ở (lãnh thổ) Vyādhapura'".  
Coedès chắc chắn đã đúng trong việc sửa đổi cách dịch của Aymonier, cho dù không phải vì lý do là ông đã viện dẫn bằng chứng, và hai lựa chọn mà ông đưa ra là hợp lý hơn, vì tước vị loñ đứng trước một địa danh đã xác định rõ là vị loñ ấy đã có một chức năng hành chính nào đó ở khu vực ấy, và tước vị loñ không đủ cao cho người có tước vị đó có những trách nhiệm cả ở vrai krapās lẫn vyādhapura nếu đó là hai nơi khác nhau. [111] Tuy nhiên Vrai Krapās ở Vyādhapura không nhất thiết phải chuyển Vyàdhapura khỏi Angkor Borei.
Trong công bố của ông về các bi ký Bantãy Prãv (К. 220-К. 222), Coedès vẫn kiên định: “Người ta biết rằng đoạn này [chữ Khmer, dòng 18, tr.62 "loñ vrai krapâs vyādhapura" được dịch là “Loñ Vrai Krapās ('rừng cây bông'), của Vyādhapura"] khiến cho Aymonier (Cambodge I, pp. 197, 201) đồng nhất Vyādhapura với Prei Krabas thuộc tỉnh Tà Kèv hiện đại...Trong bất kỳ một trường hợp nào cũng không thể có mối quan hệ hành chính hoặc địa lý giữa hai cái tên này, còn Vrai Krapās thì chỉ đơn giản là tên riêng của vị loñ ở đó là thôi. Ngược lại với những cái tên theo các tước vị khloň vala và khloň viṣaya..., những cái tên theo sau việc chỉ định tước vị loñ thì là những tên riêng: vậy là trong bi ký có trước (1.11) thì hai vị loñ khác có nguồn gốc Vyādhapura đều có các tên riêng là Ňaṃ Thmur và Jeṇ Khter”. [112]
“Tấm bi ký có trước” mà Coedès gọi là K. 221, ibid., pp. 54-61, ở dòng 11 (chữ Khmer, tr.58 viết “Ioñ ñaṃ thmur nu Ioñ jeṇ khter anak vyādhapura", dịch, tr. 59, là “Loñ Ňam Thmur và Loñ Jen Khter, các nhân vật của Vyādhapura'). Các khảo sát của Coedès không hoàn toàn thích hợp. Việc rút ra các kết luận về những cái tên riêng hoặc các tước vị của một cá nhân [loñ tự thân nó là một tước vị về cấp bậc hoặc vị thế] trên cơ sở những cái tên về các thực thể địa lý/hành chính (sruk, srok) không mang tính chính thống tiên thiên. Ở mức độ giải thích của Coedès cho rằng những cái tên loñ thường là tên người, thì đó là đúng. Nhưng những cái tên đó gần như luôn luôn là một từ đơn, có tính dạng thức, so với các ngữ cảnh khác, thì hầu như chắc chắn đó là một tên người. Chẳng hạn trong bi ký K.222, dòng 10, loñ gno và dòng 19 loñ pvār.
Ví dụ, trong các bi ký Bantãy Prãv, К. 222, dòng 2, "Ioñ ayak nāgapura", trong đó chữ cuối cùng chắc chắn là tên địa danh, còn Coedès thì dịch ở trang 62 là “Loñ Ayak của Nāgapura”. Tuy nhiên chữ “ayak” không chỉ để thể hiện tên riêng, không phải là một địa danh, theo các ngữ cảnh khác (chẳng hạn váp ayak [của] chdiṅ jrau, ở dòng 13 của bi ký К. 222, trong đó chdiṅ jrau, “sông sâu” hiện vẫn là một địa danh, nhưng ở đoạn sau của chính bi ký đó chúng ta thấy "Ioñ ayak mān saṃvandhi nu kaṃsteṅ", được Coedès dịch là “Loñ Ayak, người liên quan đến gia đình Kaṃsteṅ".
Ba cái tên dẫn ra ở trên từ bi ký K. 221 và K. 222 là rất bất bình thường trong văn tập bi ký. Một cái tên tương tự ở bi ký K.221, dòng 13, là loñ kuti ruṅ, được Coedès giải thích ở tr. 60 là "Loñ Kuti của Ruṅ", có nghĩa là Loñ (tước vị), tên riêng Kuti, của Ruṅ (địa danh). Nhưng trong trường hợp này có một bằng chứng khác trong một bi ký khác ở miền bắc, K.380/1037 (Preah Vihear) có tên là sruk kuti ruṅ, trong đó kuti ruṅ không phải là một tên người, mà bản thân nó là một địa danh, tên của một srok [làng]. Ví dụ này ủng hộ cho cách giải thích của Aymonier về vị loñ ở Vyādhapura. Một ví dụ tương tự khác của bi ký Bantãy Prãv là loñ stuk antek, “vị loñ ao [stuk] rùa [antek] [113].  
Các ngữ cảnh đầy đủ trong hầu hết các trường hợp, cho phép ta phân biệt giữa các tên riêng và tên hành chính/địa danh, và sẽ an toàn khi nói rằng vrai krapās có thể không phải là tên riêng của một vị loñ. Còn về ñam thmur và jeṇ khter, thì cái tên thứ hai, tùy thuộc vào cách hiểu chữ khter, vẫn chưa được biết, có lẽ cần được giải thích như là một địa danh ở Vyādhapura, còn cái tên đầu tiên lại tùy thuộc vào cách hiểu thực sự về ñam [thmur là một giống bò], cũng là một địa phương hoặc một chức năng của loñ.       
Vậy là chỉ riêng cách dịch mới của Coedès thì vẫn không đủ để loại bỏ Vyādhapura khỏi Angkor Borei, vì Vyādhapura thời đó có thể vẫn còn là một thực thể rộng lớn hơn với trung tâm của nó là Angkor Borei, và bao gồm cả Vrai Krapās. Như Coedès đã lưu ý “Việc đồng nhất Vyādhapura với một địa phương nhất định ... cần phải dựa vào một văn bản có nguồn gốc từ địa phương đó và chỉ định rõ cái tên Vyādhapura”. Và ông thêm “Có văn bản ấy: đó chính là một bi ký ở Vat Cakret, tỉnh Bà Phnoṃ, được viết vào thế kỷ X” [114].
Đồ cung tiến hoàng gia được khắc trên bi ký bằng chữ Phạn này là thuộc về [अद्रिव्याधपुरईश*] adrivyādhapureṡa, "thần Çiva [Īṡa] trên núi [adri] của Vyādhapura", đó chắc chắn phải là núi Ba Phnom. Vậy là vị trí Vyādhapura phải được tìm kiếm ở chân núi này. Tuy nhiên, Coedès tỏ ra rất thận trọng khi nói rằng cần phải đợi đến khi phát hiện ra các từ Khmer hoặc Phạn có nghĩa tương đương với Đặc Mục, kinh đô cổ Phù Nam, và việc đồng nhất thành Na Phú Na, phía nam Phù Nam, và các vua Phù Nam buộc phải chạy tỵ nạn về đó trong cuộc xâm lăng của Chân Lạp. Sau đó ông cũng không hề gợi ý rằng đô thành xa về phương nam ấy có thể không phải là Angkor Borei.  
Rất đáng chú ý là Coedès thêm rằng “Điều đó không hề mâu thuẫn với bi ký Bantãy Prãv. Nếu Vrai Krapās thực sự tương hợp với Prei Krebās, còn Ba Phnom thì chỉ bị ngăn cách Prei Krebās bởi con sông Mê Kông, và rất có thể trong số các địa phương thuộc vùng đó còn bao gồm cả Angkor Borei”. Điều đó còn đúng chừng nào chúng ta chưa biết gì thêm, nhưng không được quên rằng tấm bi ký đang được nói đến có niên đại thế kỷ 5-6 sau thời kỳ hưng thịnh nhất của Phù Nam, khi các địa phương và quy mô của các đơn vị hành chính có thể đã thay đổi. [115]
    
Sau đó Coedès, để nỗ lực củng cố quan điểm của ông, lại đã thực sự làm cho nó suy yếu đi. Ông viết “tên núi Ba Phnom là một tên cổ, và đã được làm chứng trong thế kỷ X dưới dạng Vraḥ Vnaṃ trong một bi ký phát hiện được tại Phum Mien, cách đó khoảng 50 km về phía bắc...Chắc chắn là ngọn “núi thiêng” này là nơi mà bi ký Vat Cakret xác định bằng cái tên adri...”. Liên quan đến vấn đề này, sẽ là khá liều lĩnh khi khăng khăng rằng một tấm bi ký phải thuộc về một vị trí cách xa 50 km; và sau này khi Coedès nghiên cứu về tấm bi ký đang được đề cập đến ông đã phát hiện ra rằng cụm từ vraḥ vnaṃ không hề là một ngọn núi, mà là một dinh thự, “một ngọn tháp [vraḥ vnaṃ] bằng đá ong. [116]       
Việc xem xét lại của Coedès về sự đồng thuận tồn tại cho đến tận lúc đó đã dẫn đến một quan niệm đặc biệt nào đó của những người khác. Vì vậy Mauger, người hướng dẫn việc phục dựng Asram Moha Rosei, một ngôi đền nhỏ có lẽ thuộc giai đoạn Phù Nam trên sườn đồi Phnom Da, một ngọn đồi gần Angkor Borei, đã cho rằng Angkor Borei là “một ngôi thành vững chắc đã từng được coi là đồng nhất với Vyādhapura, cho đến tận công trình nghiên cứu bi ký mới đây của ông Coedès" trong Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient 1928. [117] Một năm sau Mauger đã mở rộng vấn đề này bằng cách nói rằng sau khi Mahendravarman chinh phục Vyādhapura – Ba Phnom, thì thủ đô của Phù Nam đã chuyển về [那弗那城*] Na Phất Na (“vẫn chưa được xác định”), và [ईशानवर्मन्*] Īṡānavarman đã hoàn thành cuộc chinh phục Phù Nam năm 627. “Và, trong thời gian đó có một ngôi thành có tường bao lớn...ở Angkor Borei,...như đã thể hiện trong [bi ký K.600] ...được phát hiện trong năm vừa qua”. [118] 
Cần phải lưu ý rằng cho dù sự tồn tại một “ngôi thành lớn có tường bao” ở Angkor Borei không có gì phải nghi ngờ, và đã được thừa nhận từ thời Aymonier và Pelliot, nhưng bi ký  K. 600 vẫn không chứng tỏ điều đó. Bi ký cổ nhất (niên đại 611) bằng tiếng Khmer được phát hiện cho đến ngày nay ấy không hề nói gì về ngôi thành và cũng không ghi tên của một vị vua nào. Nó ghi lại những quyên cúng về sức lao động, đất đai, gia súc của hai quan chức vùng, một poñ có tên là Uy, và một mratāñ tên là Antār. Vì vậy mà không có bằng chứng về vị thế của Angkor Borei trong thời gian đó, cũng không có bằng chứng hỗ trợ hay phản bác về mức độ bao trùm của quyền lực một vị vua, cũng như không có bằng chứng ủng hộ hay phản bác về việc vùng này có thuộc về chính thể được coi là “Phù Nam” hay “Chân Lạp”. Cái mà nó chứng minh, và đó là điều quan trọng, chính là ở chỗ ngôn ngữ của vùng này chắc chắn là một phần của Phù Nam, vào đầu thế kỷ VII, trước niên đại mà sử liệu Trung Quốc cung cấp về cuộc chinh phục cuối cùng của Chân Lạp đối với Phù Nam, chính là tiếng Khmer. Vì vậy, một thành cổ, đã được thừa nhận dựa vào các hiện vật trên mặt đất, trở thành một điều gây bối rối, được đồng nhất không phải với thành phố chính của Phù Nam, cũng không phải với thành phố vẫn được hiểu là các thủ lĩnh Phù Nam lẩn trốn khi bị Chân Lạp tấn công.     
Coedès chỉ nắm bắt được vấn đề này vào những năm 1940. Bắt đầu với “di chỉ Na Phú Na vẫn còn bí ẩn”, ông đã đọc bi ký K.49, có niên đại 664, trong thời Jayavarman I [जयावर्मन्*], và được phát hiện gần Ba Phnom. Bi ký nói về một nhóm thành viên hoàng gia đã được đưa đến đó bởi vị sadhu [साधु* bậc thánh, hiền nhân] sống ở Naravaranagara [नरवरनगर* naravaranagara, 優秀人城 Ưu tú nhân thành*], vì đó là cội nguồn của một nhóm hoàng gia, nên nó phải là kinh đô của Jayavarman I, và cái tên đó rất khớp, hệt như cái tên navanagara [नवनगर*新城* Tân Thành] không được chứng thực của Pelliot ăn khớp với các chữ phiên âm Na Phất Na [那弗那城*] trong tiếng Hán vậy. Do đó kinh đô của Jayavarman I “có lẽ ở Angkor Borei, một di chỉ khảo cổ học rất quan trọng, mà ở gần đó đã phát hiện được vài bi ký [Jayavarman I]”, và là nơi mà có lẽ ông đã xây dựng kinh đô của mình sau triều đại [ईशानवर्मन्*] Īṡānavarman, và kinh đô của vị vua này thì ở Sambor Prei Kuk thuộc tỉnh Kompong Thorn ở miền trung của đất nước [119].     
Tuy nhiên Claude Jacques đã nghi ngờ cách dịch và giải thích của Coedès khi cho rằng Naravaranagara ở gần di chỉ của tấm bi ký, chỉ khoảng 20 km về phía nam Ba Phnom, khi vẫn không giải thích về Angkor Borei [120]. 
Paul Wheatley vẫn tiếp tục lẫn lộn. Không vượt khỏi bài viết năm 1928 của Coedès, ông vẫn giữ quan niệm sai lầm cho rằng vraḥ vnaṃ thuộc về một ngọn núi thiêng, và đã dâng hiến một bài viết để thể hiện rằng cái tên của ngọn núi thiêng đó được ghi bằng các âm tiếng Hán vào thế kỷ V là Mo-tan [Muâ-tậm cổ, thể hiện cách phát âm /ma-tam/] là Mahendraparvata trong phiên bản tiếng Tamil là Mayentiram. [121] Tuy nhiên sau khi giải thích loanh quanh về các nguồn ấy, điều hay nhất mà Wheatley có thể làm cho tương hợp /ma-tam/ = Mayentiram chính là “cái điều mà hình thái Muâ-tâm có khuynh hướng chuyển tải không chỉ cái tên Mayentiram, mà còn cả ý nghĩa của [vị trí mà ở đó] Ma[hesvara] vẫn còn rớt lại”. Nói cách khác, chỉ có âm tiết đầu tiên của cái tên chữ Hán là tương hợp với âm tiết đầu của cái tên chữ Ấn Độ - vẫn không đủ sức thuyết phục; và chúng ta có thể gạt bỏ lý thuyết Tamil của Wheatley, ngay cả khi các vấn đề khác trong lập luận của ông liên quan đến các luận thuyết Śivaitic, có thể có một số công lao nào đó.       
Hơn nữa, Wheatley còn công nhận rằng ngọn núi thiêng của ông cũng chỉ có thể ăn khớp với địa lý Angkor Borei và Phnom Da là khu vực địa lý của Ba Phnom. [122] Độ cao tối thiểu của ngọn đồi gần Angkor Borei là không tương hợp. Như Wheatley đã nhận xét một cách thích đáng khi cho rằng Ba Phnom là kinh đô của Phù Nam, ở vùng hạ lưu sông Mê Kông thì bất cứ ngọn đồi nào cũng được gọi là “núi”. Cần lưu ý rằng trên bản đồ tự nhiên của Cambodia của Boisselier 1966, thì cả ngọn đồi ở Angkor Borei và ngọn đồi ở Ba Phnom là quá thấp không cần đánh dấu, và hình dạng của nó là đất bằng.    
Rốt cuộc thì Coedès tin rằng ông đã thành công trong việc phát hiện ra những tương đồng giữa chữ Khmer và chữ Phạn của cái tên Đặc Mục, và vì vậy mà đã giải quyết được vấn đề về kinh đô Phù Nam. Các sử liệu Trung Quốc không đưa ra được một cái tên cho kinh đô Phù Nam cho đến tận lúc kết thúc, khi họ nói nó được gọi là T'e-mu/T'ö-mou/*d'ǝk-miuk, [特牧城* T’e-mu Đặc Mục thành], nhưng khoảng cách tính từ biển theo sử liệu Trung Quốc là 500 lí, nếu hiểu theo nghĩa đen là 200 km, lại không hề ăn khớp với cả Angkor Borei lẫn Ba Phnom. [123] Coedès kết luận rằng người Trung Quốc đã phiên âm một từ Khmer dmāk hoặc dalmak/dalmāk thực ra có nghĩa là “thợ săn”, tương đương với từ Khmer hiện đại /tromeak/ 'mahout', có lẽ là từ Khmer được dịch từ vyādha trong cái tên chữ Phạn vyādhapura mà Coedès tin là kinh đô của Phù Nam và nằm ở Ba Phnom. Cái tên vyādhapura được phát hiện vài lần trong các bi ký thuộc giai đoạn Angkor là tên của một trong ba vương quốc cổ mà các vua Angkor đầu tiên khẳng định là hậu duệ, và được Coedès cho là có nghĩa Phù Nam. Có thể có ích khi tóm tắt lập luận của Coedès trong đó tối thiểu có ba điểm yếu. [124]
    
Trước hết, nếu các từ Khmer dmāk hoặc dalmak/dalmāk thực sự có nghĩa là “thợ săn”, thì nghĩa của nó là “người bắt sống thú bằng dây thòng lọng” hoặc “người bắt sống thú bằng bẫy”, chẳng hạn như voi, trong khi tiếng Phạn vyādha có nghĩa là đâm bằng một vật sắc. Thứ hai, cho đến cuối thế kỷ IX, không có bằng chứng cho các từ dalmak/dalmāk và trong bi ký thế kỷ XI (K.158) mà Coedès khẳng định, lại không hề có dấu hiệu nào về nghề đi săn chuyên đến mức có tên gọi riêng; và thứ ba, nơi mà dalmak xuất hiện nhiều lần, trong các bi ký đã bị bỏ quên lâu ngày của Roluos, bao gồm các nhóm người lớn, đàn ông, phụ nữ và trẻ em, và điều đó cũng không thể xác định được các chức năng của họ. Tối thiểu là không hề có bất cứ mối liên hệ rõ ràng nào với việc săn voi. [125]     
Ngữ âm cổ của từ *d'ǝk-miuk, mà người Trung Quốc cho là tên gọi của kinh đô Phù Nam cho thấy rằng âm tiết thứ nhất là từ Mon-Khmer để gọi “nước” /dik, dek, dak/ (Mod. Khmer /tǝk/), một từ thường thấy trong các tên địa danh Cambodia. Tuy nhiên khó mà đưa ra được một cách giải thích thuyết phục về từ *miuk bằng một cái tên gắn liền với “nước”, và việc suy diễn thêm về từ *d'ǝk-miuk có nghĩa gì thì hãy còn hấp tấp [126].     
Còn về Vyādhapura thì mặc dù có các bi ký thế kỷ X, dường như gắn kết nó với cả Angkor Borei và Ba Phnom, thì cái tên đó chỉ được phát hiện một lần trong bi ký tiền Angkor, K.109 được định niên đại là năm 655, nằm gần Banteay Prei Nokor ở huyện Thbaung Khmum, tỉnh Kompong Cham, về phía đông của cả Ba Phnom hoặc Angkor Borei. Trong các nghiên cứu trước đây, tôi đã cho rằng tầm quan trọng của Vyādhapura trong các bi ký Angkor là vì nó chính là quê hương của Jayavarman II, và nó không có mối quan hệ gì với các di chỉ tiền Angkor Ba Phnom, Angkor Borei, hoặc Funan. Việc sử dụng Vyādhapura gợi ý rằng sau này nó đã trở thành một tỉnh rộng lớn bao gồm cả Angkor Borei và Ba Phnom, có lẽ cũng như địa phương gốc của nó. [127]  
Đối với các sử gia, lựa chọn cuối cùng giữa Ba Phnom và Angkor Borei, hoặc có lẽ rốt cục lại, một vị trí nào đó khác sẽ phải dựa vào khảo cổ học, và hiện nay các di tích ở Angkor Borei được coi là vị trí ưu tiên. Tuy nhiên có lẽ chúng ta không bao giờ có thể khẳng định được cái tên cổ của di chỉ đó cũng như cái tên *d'ǝk-miuk trong tiếng Hán có nghĩa gì. Hoàn toàn có thể là trong sự tồn tại như người Trung Quốc đã biết thì trung tâm quyền lực của Phù Nam đã thay đổi, thậm chí nhiều hơn một lần, như đã được giả thuyết cho vùng biển Đông Nam Á khác, đã được biết rõ là [श्रीविजय*] Srïvijaya, và giờ đây nói chung đã được các chuyên gia chấp nhận. [128]
Khi Pelliot thảo luận về vị trí kinh đô ông ước lượng nó cách cửa sông Mê Kông khoảng 500 dặm hoặc 200km và phát hiện ra đó là vùng giữa Châu Đốc và Phnom Penh, có nghĩa là xấp xỉ tại Angkor Borei, cũng tương tự bằng đến Ba Phnom. [129] Tuy niên Pelliot đã viết trước khi các di tích Oc Eo và các con kênh chạy từ đó đến Angkor Borei được phát hiện, và ông cho rằng chỉ có các tuyến đường thủy mới thông tới sông Mê Kông hoặc sông Bassac. Chỉ có cách đó thì khoảng cách giữa cửa sông và Angkor Borei theo đường thủy quanh co mới có thể được xác định là khoảng 200 km. Cho dù như vậy thì khoảng cách đó cũng quá lớn, và Pelliot đã tỏ rõ sự lúng túng trong khi ám chỉ đến “một vùng” “giữa Châu Đốc và Phnom Penh”. Nếu, như ngày nay có vẻ thích hợp hơn, một tuyến kênh từ vùng ven biển gần Oc Eo được giả định thì khoảng cách 200 km vượt xa Angkor Borei, vốn chỉ cách biển 90 km, và chúng ta cũng phải giả định rằng cách ước lượng của người Trung Quốc là nhầm lẫn, hoặc họ đã quy chiếu vào một vị trí nào đó hoàn toàn khác. Theo đường thẳng 200 km từ Oc Eo có lẽ gần đến Kongpong Cham. [130]   
____________________________________
Còn nữa...
Nguồn: Funan Reviewed: Deconstructing the Ancients. In: Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient. Tome 90-91, 2003. pp. 101-143.
* Ghi chú của người dịch: Các từ có đánh dấu sao [*] là do tôi, Hà Hữu Nga, trộm tìm, dịch sang tiếng Phạn, tiếng Hán và tiếng Việt để tiện cho bản thân trong việc nghiên cứu, so sánh và xác định nghĩa của từ mà thôi.
Ghi chú
108. Pelliot 1903, p. 279, có dẫn Aymonier 1903, tr. 109. Còn Porée-Maspero [1962, tr. 171] cũng nghi ngờ cái tên Phù Nam không phải là “núi”, mà vì một lý do chưa đầy đủ, bà cho rằng đó là “một cái tên dường như đáng sửng sốt đối với vương quốc của người Naga”, cùng với lý thuyết của bà, đặc biệt biện hộ cho việc không có gì trong các sử liệu Trung Quốc viết về Phù Nam hoặc trong các bi ký chứng minh cho cách gọi Phù Nam là một “vương quốc Naga”.
109. Coedès 1928.
110. Coedès 1928, p. 127.
111 . Về vị thế của loñ vẫn cần phải có thêm nhiều công trình nghiên cứu về các bi ký giai đoạn tiền Angkor, xem Vickery 1998, pp. 145, 402, 404, 406.
112. Coedès 1951a, pp. 54-64, quotations from p. 64.
113. Coedès 1954, pp. 261, 267; Coedès 1951a, p. 61.
114. Coedès 1928, p. 128. Bi ký này sau đó đã được Coedès công bố là K. 61, "Stèle de Prāh Vihār Kuk" (Coedès 1964b, pp. 20-22), trong đó rất đáng chú ý là ông đã không nói gì về ý nghĩa của nó đối với việc định vị thủ đô Phù Nam, và dịch adrivyādhapuresa as “Seigneur de Vyādhapura”. Có lẽ vào năm 1964 Coedès đã thay đổi quan điểm của ông về vai trò của Vyādhapura, nhưng lại không muốn thay đổi cuộc thảo luận về Phù Nam trong các ngữ cảnh khác.    
115. Một số người đọc có thể vẫn bối rối vì công trình của Coedès 1952, tr. 16, đã cho rằng bi ký K. 441 là ở Sambor Prei Kuk, trong đó ông viết rằng cái tên Giriça thời Phù Nam đã đực sử dụng để gọi Ba Phnom, gần kinh đô Vyādhapura. Tất nhiên không hề các các nguồn tư liệu đương thời Phù Nam cho cái tên gọi ngọn núi này, và điều này phải được coi là một nhầm lẫn của Coedès.   
116. Tấm bi ký K. 105. Xem Coedès 1954, tr. 183-186, trong đó, tr. 183, chú thích 4, khi cho là thuộc đoạn trích ở đây, Coedès đã điệu đà nhận xét “Và không phải lãnh thổ của Vraḥ Vnaṃ = Bà Phnom, như Aymonier đã tin tưởng", và như bản thân Coedès đã tin vào công trình Études cambodgiennes 21 (Coedès 1928) của chính ông. Trong thực tế, trong tiếng Khmer Cổ, mặc dù vnaṃ là “núi”, vraḥ vnaṃ =  “vnaṃ thiêng” luôn là việc xây dựng một ngôi đền. Để biết các ví dụ khác về bi ký Cambodia của Coedès, xem К. 263/A.D. 984; К. 344/A.D. 985; К. 33/A.D. 1017.   
117. Mauger 1935, tr. 491, dẫn Coedès 1928. Cho dù kỳ cục hơn, mặc dù không phù hợp với cuộc thảo luận hiện nay, nhưng Mauger lại bị quá mê mẩn bởi ý tưởng về các quốc gia hoàn toàn riêng biệt Phù Nam và Chân Lạp, mà ông tin Asram Moha Rosei, được ông định niên đại đầu thế kỷ VI, nhưng ông nghĩ phải là một công trình xây dựng của Chân Lạp, phải là công trình đầu tiên được xây dựng giữa Kompong Cham và Kratie, nơi đã tìm thấy đá basalt được sử dụng để xây dựng, sau đó đã được tháo dỡ và xây lại gần Angkor Borei sau khi Chân Lạp đã chinh phục được Phù Nam.  
118. Mauger 1936, p. 93.
119. Coedès 1943-46, pp. 1-8.
120. Jacques 1986b, p. 14; Vickery 1998, pp. 352-353.
121. Wheatley 1974, pp. 97-108 and Wheatley 1983, p. 124.
122. Wheatley 1974, p. 108.
123. Pelliot 1903, p. 273, citing the New Tang History (A.D. 619-906), composed in the 11th century.
124. Coedès 1942, p. 110, n. 5.
125. Vickery 1998, "Appendix", dalmak/dalmāk; Vickery 1999a, trong đó, tr. 74, tôi đã bỏ mất hai ghi chép về dalmak K. 256/A.D. 979, và K. 158/A.D. 1003. Hệt như một gợi ý đầy khám phá, nhưng lại là một gợi ý mà tôi không ủng hộ, vì vậy có lẽ chúng ta tư biện rằng dalmak là một nhóm nghề nghiệp cha truyền con nối chuyên về voi. Điều đó giải thích cho việc có cả phụ nữ và trẻ em trong nhóm này, và giải thích cho việc xuất hiện của dalmak trong các tình huống không liên quan gì đến nghề voi.     
126. See the comment on Hoshino's treatment of this in the Appendix below.
127. Vickery 1998, pp. 395-398; Vickery 2001.

128. Xem Vickery 1998, các tr. 28-29, 36-37, 395-398. Cả Palembang và Jambi đều là kinh đô trong những giai đoạn khác nhau của Srïvijaya. Xem Manguin 1993, tr. 30-31, dẫn Wolters 1966, 1967. Về khảo cổ học Angkor Borei, xem Dowling 1999; Stark 1998; Stark et al. 1999; Sanderson et al. 2003.
129. Pelliot 1903, tr. 290. Khoảng cách 500 lý từ biển vào được ghi trong Lương sử (502-556), biên soạn vào thế kỷ VII (Pelliot, ibid., pp. 262-263).
130. Coedès 1964a, tr. 75, thậm chí còn thiếu nghiêm nhặt khi nói rằng “cách biển” 200 km “là khoảng cách tương đối tách Ba Phnom khỏi di chỉ Oc Eo”; nhưng theo đường thẳng thì chỉ có 120 km, và đi theo hệ thống kênh cũng không xa hơn nhiều, và sau đó cắt qua các con sông Bassac và Mê Kông.

Tài liệu dẫn
Anderson, John 1981, English Intercourse with Siam in the Seventeenth Century, Bangkok, Chalemmit Bookshop.
Aymonier, Etienne 1903, Le Fou-nan, Journal Asiatique 10/1 (janv.-fév. 1903), pp. 109-150.
Bellwood, Peter 1992, Southeast Asia Before History, The Cambridge History of Southeast Asia, vol. I, pp. 55-136.
Bergaigne, Abel 1882, Les inscriptions sanscrites du Cambodge, Journal Asiatique, pp. 1-56.
Blust, Robert 1992, The Austronesian Settlement of Mainland Southeast Asia, in Papers from the Second Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, edited by Karen L. Adams and Thomas John Hudak, pp. 25-83. Arizona State University, Program for Southeast Asian Studies, Tempe, Arizona, 1994.
Brown, Robert L. 1996, The Dvaravati Wheels of the Law and the Indianization of South East Asia, Leiden, Brill.
Boisselier, Jean 1963, La statuaire du Champa, Paris, École française d'Extrême-Orient.
Boisselier, Jean  1965, Nouvelles données sur l'histoire ancienne de la Thaïlande, Conférence, Alliance française/Centre culturel [Bangkok]. Seven pages, no pagination, introduction by Marie-Jean Vinciguerra, Attaché culturel.
Boisselier, Jean 1966, Le Cambodge, 1. 1, in Asie du Sud-Est, première partie, Manuel d'Archéologie d'Extrême-Orient, Paris, Éditions A. et J. Picard et Cie.
Charnvit Kasetsiri 1976, The Rise of Ayudhya, Kuala Lumpur, Oxford University Press.
Coedès, George 1928 E.C. 21, La tradition généalogique des premiers rois d'Angkor d'après les inscriptions de Yaçovarman et de Râjendravarman, BEFEO 28, pp. 124-40.
Coedès, George 1931 E.C. 25, Deux inscriptions sanskrites du Fou-Nan, BEFEO 3 1 , pp. 1 - 1 2.
Coedès, George 1938, Le fondateur de la royauté angkorienne et les récentes découvertes archéologiques au Phnom Kulên, Cahiers de l'École française d'Extrême-Orient 14, pp. 40-48; republished in George Coedès, Articles sur le pays khmer, Tome II, pp. 277-284.
Coedès, George 1942, Inscriptions du Cambodge, Vol. 2, Hanoi, EFEO.
Coedès, George 1943-46, Quelques précisions sur la fin du Fou-nan, BEFEO 43, pp. 1-8.
Coedès, George 1948, Les États hindouisés d'Indochine et d'Indonésie, Paris, Ed. de Boccard.
Coedès, George 1951a, Inscriptions du Cambodge, Vol. 3, Paris, E. de Boccard.
Coedès, George 1951b, Les règles de la succession royale dans l'ancien Cambodge, Bulletin de la Société des Études Indochinoises, nouvelle série no. 26 (2), pp.l 17- 130.
Coedès, George 1952, Inscriptions du Cambodge, Vol. 4, Paris, E. de Boccard.
Coedès, George 1954, Inscriptions du Cambodge, Vol. 6., Paris, École française d'Extrême-Orient.
Coedès, George 1962, Les peuples de la Péninsule indochinoise, Paris, Dunod.
Coedès, George  1964a, Les États hindouisés d'Indochine et d'Indonésie, Paris, Ed. de Boccard.
Coedès, George 1964b, Inscriptions du Cambodge, Vol. 7, Paris, École française d'Extrême-Orient.
Coedès, George 1966, Liste générale des inscriptions du Cambodge, In Inscriptions du Cambodge, Vol. 8, pp. 76-225.
Coedès, George 1968, The Indianized States of Southeast Asia, Edited by Walter F. Vella, Translated by Susan Brown Cowing, Honolulu, University of Hawaii Press.
Dowling, Nancy H. 1999, A New Date for the Phnom Da Images and Its Implications for Early Cambodia, Asian Perspectives, Volume 38, Number 1, pp. 51-61.
Dupont, Pierre 1941, Variétés archéologiques, BEFEO 41, pp. 233-254.
Dupont, Pierre 1943-46, La dislocation de Tchen-la et la formation du Cambodge angkorien, BEFEO 43, pp. 17-55.
Dupont, Pierre 1949, Tchen-La et Panduranga", Bulletin de la Société des Études Indochinoises 24/1, pp. 9-25.
Dupont, Pierre 1952-54, Les débuts de la royauté angkorienne, BEFEO 46, pp. 1 19-76.
Ferlus, Michel 1977, Étude d'une strate de changements phonétiques dans l'ancien Cambodge, Mon-Khmer Studies 6, pp. 59-67.
Filliozat, Jean 1969, L'inscription dite de Võ-cạnh, BEFEO 55, pp. 107-1 16.
Finot, Louis 1904, Les inscriptions de Mi-son, BEFEO 4, pp. 897-977.
Finot, Louis 1911, Sur quelques traditions indochinoises, In Mélanges d'indianisme offerts par ses élèves à M. Sylvain Levi, Paris, Ernest Leroux, pp. 193-212.
Finot, Louis 1927, Séance du 14 janvier, Journal Asiatique 210 (janv.-mars), p. 186.
Friedman, Jonathan 1987, Review Essay on Islands of History by Marshall Sahlins, in History and Theory, Vol. 13, pp. 72-99.
Groslier, Bernard Philippe 1985-86, For a geographic history of Cambodia, Seksa Khmer 8-9, pp. 3 1 -76.
Hall, D. G. E. 1955, A History of South-East Asia, New York, St. Martin's Press, [reed. 1981].
Hall, Kenneth R. 1985, Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, Honolulu, University of Hawaii Press.
Higham, Charles and Rachanie Thosarat 1998, Prehistoric Thailand: From Early Settlement to Sukhothai, Bangkok, River Books.
Hoshino, Tatsuo 1986, Pour une histoire médiévale du moyen Mékong, Bangkok, Editions Duang Kamol.
Hoshino, Tatsuo 1991, Wen Dan and its Neighbours: The Central Mekong Valley in the Seventh and Eighth Centuries, typescript, n.p.
Hoshino, Tatsuo 1993, Puram; earliest Chinese sources on Sri Thep and Lopburi, Paper presented to the Symposium sur les sources de l'histoire du pays khmer, Paris.
Hoshino, Tatsuo 1995, Reappraisal of the Chinese texts on Shi li Fo Shi: Dvaravati and Sri Buddha Sei (?), In Southeast Asian Studies, Tokyo University of Foreign Studies.
Hoshino, Tatsuo  1996a, The Kingdom of Red Earth (Chitu Guo) in Cambodia and Vietnam from the sixth to the eighth centuries, Paper presented to the 14th I.A.H.A. conference, Bangkok, May 1996.
Hoshino, Tatsuo 1996b, Chang Zhou (Elephant/Master Province) and Sakolnakhon site in Northeast Thailand, Paper presented to the 6th International conference on Thai Studies, Chiang Mai, October 1996.
Jacques, Claude 1972, La carrière de Jayavarman II, BEFEO 59, pp. 205-20.
Jacques, Claude 1979, Funan, Zhenla. The Reality Concealed by These Chinese Views of Indochina, In Early South East Asia. Essays in Archaeology, History and Historical Geography, Ed. By R. B. Smith and W. Watson, New York/Kuala Lumpur, Oxford University Press, pp. 371-389.
Jacques, Claude  1986a, Le pays khmer avant Angkor, Journal des Savants, janv.-fév., pp. 59-95.
Jacques, Claude  1986b, Cours Année 1985-1986, Paris, École pratique des hautes études, IVe section, typescript.
Jacques, Claude 1987, L'Empire angkorien: mythe ou réalité, typescript, Conférence à Tokyo, 25 June 1987.
Jacques, Claude 1995a, Funan, Zhenla, Srîvijaya, In Les apports de l'archéologie à la connaissance des anciens États en Thaïlande, 3e Symposium franco-thaï, 11-13 décembre 1995, Bangkok, Silpakon University, pp. 14-23.
Jacques, Claude, éd. 1995b, Études épigraphiques sur le pays cham, [Reprint], Paris, École française d'Extrême-Orient (Réimpressions 7).
Karlgren, Bernhard 1923, Analytical Dictionary of Chinese and Sino-Japanese, Dover/New York, [Reprint, 1 974].
Karlgren, Bernhard 1957, Grammata Serica Recensa, Museum of Far Eastern Antiquities Bulletin 29, Stockholm.
Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải 1995, Văn hóa Óc Eo, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Loofs, H. H. E.  1979, Problems of Continuity the pre-Buddhist and Buddhist Periods in Central Thailand, with Special Reference to U-Thong, in R. B. Smith and W. Watson, eds, Early South East Asia: Essays in Archaeology, History, and Historical Geography, New York, Oxford University Press.
Mabbet, Ian and David Chandler 1995, The Khmers, Oxford (UK) / Cambridge (US A),Blackwell. Manguin, Pierre- Yves.
Mabbet, Ian and David Chandler 1980, The Southeast Asian Ship: An Historical Approach, Journal of Southeast Asian Studies 11/2, pp. 266-276.
Mabbet, Ian and David Chandler 1985, Sewn-Plank Craft of South-East Asia, a Preliminary Survey, in Sewn Plank Boats, Archaeological and Ethnographic papers based on those presesented to a conference at Greenwich in November 1984, ed. by Sean McGrail and Eric Kentley, Greenwich, National Maritime Museum (Archaeological Series No. 10, BAR International Series 276).
Mabbet, Ian and David Chandler 1991, The Merchant and the King: Political Myths of Southeast Asian Coastal Polities, Indonesia 52, pp. 41-54.
Mabbet, Ian and David Chandler 1993, Palembang and Sriwijaya: An Early Malay Harbour-City Rediscovered, Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society 66/1, pp. 23-46.
Mabbet, Ian and David Chandler 1996, Southeast Asian Shipping in the Indian Ocean During the First Millenium A.D.", in H. P. Ray & J.-F. Salles (eds.), Tradition and Archaeology. Early Maritime Contacts in the Indian Ocean, Lyon/New Delhi, Manohar (Maison de l'Orient méditerranéen/NISTADS),pp. 181-198.
Mabbet, Ian and David Chandler 1999, Srivijaya dans l'oeuvre de George Coedès, in Colloque George Coedès aujourd'hui, Bangkok, Centre d'Anthropologie Sirindhorn, 9-10 September.
Mabbet, Ian and David Chandler 2002, From Funan to Srivijaya: Cultural Continuities and Discontinuities in the Early Historical Maritime States of Southeast Asia", in 25 Tahun Kerjasama Pusat Penelitian Artkeologi dan École française d'Extrême-Orient, Makalah Seminar Dimensi Budaya dalam Membangun Persatuan Bangsa-Bangsa di Asia Tenggara, Palembang, 16-18 July 2001, Jakarta, 2002, pp. 59-82.
Maspero, Georges 1928, Le royaume de Champa, Paris/Bruxelles, Éditions G. Van Oest, [reprint. EFEO, 1988].
Mauger, Henri 1935, Angkor Borei, BEFEO 35, p. 491.
Mauger, Henri 1936, Asram Maha Rosei, BEFEO 36, pp. 65-95.
Maurel, Frédéric 1998, The work of George Coedès: views of a young man, Journal of the Siam Society 86/1-2, pp. 235-238.
Népote, Jacques 1999, Mythes de fondation et fonctionnement de l'ordre social dans la basse vallée du Mékong accompagnés de considérations sur l'indianisation, Péninsule 38(1), pp. 33-64.
Paris, Pierre 1952-54, Quelques dates pour une histoire de la jonque chinoise, BEFEO 46, pp. 267-278.
Pelliot, Paul 1903, Le Fou-Nan, BEFEO 3, pp. 248-303.
Pelliot, Paul 1904, Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du vine siècle, BEFEO 4, pp. 13 1-385.
Pelliot, Paul 1925, Quelques textes chinois concernant l'Indochine Hindouisée, EFEO Études Asiatiques II, pp. 243-263.
Porée-Maspero, Éveline 1950, Nouvelle étude sur la Nâgï Somâ, Journal Asiatique, pp. 237-267.
Porée-Maspero, Éveline 1962-69, Étude sur les rites agraires des Cambodgiens, 3 Vol., Paris/La Haye, Mouton & Co. Pou, Saveros
Porée-Maspero, Éveline 2001, Nouvelles inscriptions du Cambodge, vol. II & III, Paris, EFEO.
Reid, Anthony 1993, Southeast Asia in the Age of Commerce 1450-1680, Vol. 2, Chiang Mai, Silkworm Books.
Reynolds, Craig J. 1995, A New Look at Old Southeast Asia, Journal of Asian Studies 54/2, pp. 419-446.
Sanderson, D. С W., et. al. 2003, Luminescence dating of anthropogenically reset canal sediments from Angkor Borei, Mekong Delta, Cambodia, Quaternary Science Reviews 22, pp. 1111-1121.
Shorto, H. L. 1963, The 32 myos in the medieval Mon kingdom, Bulletin of the School of Oriental and African Studies 26/3 (London), pp. 572-591.
Stargardt, Janice 1986, Hydraulic Works and South East Asian Polities, In Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, ed. by David G. Marr and A. C. Milner, Canberra, Australian National University/ Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, pp. 23-48.
Stark, Miriam T. 1998, The Transition to History in the Mekong Delta: A view from Cambodia, International Journal of Historic Archaeology 2/3, pp. 175-204.
Stark, Miriam T., et. al. 1999, Results of the 1995-1996 Archaeological Field Investigations at Angkor Borei, Cambodia", Asian Perspectives 38/1, pp. 7-36.
Stein, R. A. 1947, Le Lin-Yi, sa localisation, sa contribution à la formation du Champa, et ses liens avec la Chine, Han-Hiue Bulletin du Centre d'études sinologiques de Pékin 2, pp. 1-335.
Stuart-Fox, Martin 1998, The Lao Kingdom of Lan Xâng: Rise and Decline, Bangkok, White Lotus Press.
Syafei, Soewadji 1977, The Relation Between Cambodia and Indonesia in the 8th to 9th Century" [sic], Majalah Arkeologi, Indonesia, pp. 14-18.
Thurgood, Graham 1999, From Ancient Cham to Modern Dialects, Two Thousand Years of Language Contact and Change, Honolulu, University of Hawaii.
Vickery, Michael 1972, The 'Kalpana' documents in a review of three collections of Thai historical documents, Journal of the Siam Society 60/1, pp. 397-410.
Vickery, Michael 1977, Cambodia after Angkor, the Chronicular Evidence for the Fourteenth to Sixteenth Centuries, Ph.D. Yale University, dec. 1977 [Ann Arbor: University of Michigan, University Microfilms].
Vickery, Michael 1979, A New Tâmnàn About Ayudhya, Journal of the Siam Society 67/2, pp. 1 23- 1 86.
Vickery, Michael 1986, Some Remarks on Early State Formation in Cambodia, In Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, ed. by David G. Marr and A. C. Milner, Canberra/Singapore, Australian National University (Research School of Pacific Studies) / Institute of Southeast Asian Studies, pp. 95-115.
Vickery, Michael 1987, Review of K. R. Hall, Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, in Journal of Asian Studies 1987, pp. 21 1-213.
Vickery, Michael 1994, Where and What was Chenla?, In Recherches nouvelles sur le Cambodge, dir. By F. Bizot, Paris, EFEO (Études thématiques I), pp. 197-212.
Vickery, Michael 1998, Society, Economies, and Politics in Pre-Angkor Cambodia: the 7th-8th Centuries, Tokyo, The Centre for East Asian Cultural Studies for Unesco/The Toyo Bunko.
Vickery, Michael 1999a, The Khmer Inscriptions of Roluos (Preah Ko and Lolei): Documents from a Transitional Period in Cambodian History, Seksa Khmer n. s. 1 (jr- 1999), pp. 47-93.
Vickery, Michael 1999b, Coedès' Histories of Cambodia, in Colloque George Coedès aujourd'hui, Bangkok, CEDREFT, 9-10 September 1999.
Vickery, Michael 2001, Resolving the Chronology and History of 9th-Century Cambodia", SiksucakrZ (Newsletter of the Center for Khmer Studies, CKS, Siemreap, July 2001), pp. 17-23.
Wang Gungwu 1958, The Nanhai Trade, Journal of the Malaysian Branch Royal Asiatic Society 3 1/2, pp. 1-135.
Wheatley, Paul 1961, The Golden Khersonese, Kuala Lumpur, University of Malaya Press.
Wheatley, Paul  1974,  The Mount of the Immortals: A note on Tamil cultural influence in fifth-century Indochina, Oriens Extremis, Vol. 21, part 1, pp. 97-108.
Wheatley, Paul 1983, Nagara and Commandery: Origins of the Southeast Asian Urban Traditions, University of Chicago (Research Paper Nos. 207-208, Department of Geography).
Wheatley, Paul 1966, A Note on the Capital of Srivijaya During the Eleventh Century, In Ba Shin, J. Boisselier & A. B. Griswold, eds., Essays Offered to G. H. Luce, Ascona, Artibus Asiae (Supplementum 23), I, pp. 225-239.
Wheatley, Paul 1967, Early Indonesian Commerce, Ithaca, Cornell University Press.
Wolters, O. W. 1966, A Note on the Capital of Srivijaya During the Eleventh Century, In Ba Shin, J. Boisselier & A. B. Griswold, eds., Essays Offered to G. H. Luce, Ascona, Artibus Asiae (Supplementum 23), I, pp. 225-239.
Wolters, O. W. 1967, Early Indonesian Commerce, Ithaca, Cornell University Press.
Wright, Michael 1999, The Nation, section Cl "Focus", "The Quest for Bronze", Bangkok, 28 June.
Nguồn: http://kattigara-echo.blogspot.com/2013/01/phu-nam-nhin-lai-giai-co-tac-gia-vi.html