Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021

Khái lược về Kinh tế học Di sản (Hà Hữu Nga)

 

Khái lược về Kinh tế học Di sản

Hà Hữu Nga

Di sản có nhiều giá trị, bao gồm các giá trị văn hoá, giáo dục, thẩm mỹ, môi trường, xã hội, biểu tượng, chính trị, lịch sử, và nhiều lĩnh vực khác nữaTrong dài hạn, tất cả các giá trị này có lẽ đều quan trọng hơn giá trị kinh tế. Nhưng như nhà kinh tế vĩ đại người Anh John Maynard Keynes đã từng nói, Về lâu dài, tất cả chúng ta đều đã chết.” (Keynes, John Maynard 1923: 80). Thực tế là những người có khả năng ảnh hưởng đến những gì xảy ra với các di sản như các chủ sở hữu tài sản, các quan chức chính phủ, các chủ ngân hàng, các nhà phát triển, các nhà đầu tư, và những người khác nữa, vẫn luôn xem xét các h quả ngắn hạn và, quan tâm một cách hợp thức đến những phân nhánh kinh tế liên quan. Điều này đúng không chỉ ở các nền kinh tế thị trường đầy đủ như Nhật Bản và Hàn Quốc mà còn ở các nền kinh tế thị trường đang nổi như Ấn Độ và các nền kinh tế cận-thị trường như Trung Quốc và Việt Nam. Vì vậy, khắp nơi ủng hộ bảo tồn di sản nói chung, và một yêu cầu đang trở thành xu hướng là người đứng đầu các thành phố cần phải am hiểu về ngôn ngữ, công cụ, và các phép đo lường của kinh tế học di sản (Rypkema, Donovan 2009).

1. Khái niệm kinh tế học di sản

Kinh tế học di sản nghiên cứu những lợi ích hoặc giá trị mà nó tạo ra và thường được chia thành các giá trị sử dụng và giá trị “không sử dụng. Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp một di sản. Chúng có thể bao gồm: i) lợi ích tài chính; ii) các đặc trưng thẩm mỹ; iii) cải thiện hình ảnh cộng đồng; iv) cơ hội sử dụng địa điểm di sản cho các mục đích sinh sống, thương mại, du lịch, giải trí hoặc các mục đích xã hội. Các giá trị phi sử dụng là những lợi ích vô hình liên quan đến việc bảo tồn di sản. Đó là: i) Giá trị tồn tại: lợi ích liên quan đến tri ​​thức  một địa điểm di sản đã được bảo tồn, ngay cả khi người tiêu dùng không tự mình đến thăm; ii) Giá trị lựa chọn: những lợi ích thu được từ việc có quyền lựa chọn vào thăm một địa điểm di sản; iii) Giá trị thừa kế: giá trị thu được từ việc biết rằng một địa điểm di sản có thể được thừa kế cho các thế hệ tương lai (Pagiola, S. 1996; Bennett, J. 2001)Việc can thiệp của chính phủ vào kinh tế di sản nằm trong bản chất lợi ích tổng thể của cộng đồng. Ví dụ, chất lượng thẩm mỹ của mặt tiền di sản của tòa nhà sẽ có giá trị đối với người qua đường cũng như cho chủ sở hữu tòa nhà. Về mặt kinh tế, những lợi ích này là những ngoại ứng dương, tích cực, hay hàng hoá công. Các ngoại ứng là những hiệu ứng “lan tỏa” từ một giao dịch thị trường ảnh hưởng đến phúc lợi của người khác. Nếu một hiệu ứng lan tỏa mang tính chất lợi ích, chẳng hạn như sự hưởng thụ thẩm mỹ của cộng đồng đối với một tài sản di sản, thì nó được coi là một ngoại ứng dương. Hàng hoá công cộng là những lợi ích của cộng đồng, không thể loại trừ và không mang tính kình địch. Điều này có nghĩa là không ai có thể bị loại trừ khỏi việc tiêu dùng và việc tiêu dùng của người này sẽ không làm giảm đi việc tiêu dùng của người khác. Các giá trị tồn tại, lựa chọn và giá trị thừa kế của di sản mang đặc trưng hàng hóa công cộng. Nan đề được thể hiện bởi hàng hóa có ngoại ứng dương hoặc các đặc trưng hàng hóa công cộng là ở chỗ những người có quyền lợi được hưởng lợi thì lại không phải chi trả. Nói cách khác, các nhà cung cấp không có cách nào để khôi phục toàn bộ chi phí cần thiết để cung cấp sản phẩm tốt ở mức tối ưu về mặt xã hội. Khi chi phí và lợi ích cá nhân không phản ánh được các chi phí và lợi ích xã hội thì sẽ xuất hiện sự thất bại của thị trường. Những hàm ý của điều này có thể là tình trạng cung cấp hàng hóa không đầy đủ. Ví dụ, chủ sở hữu bất động sản có thể phá hủy tòa nhà di sản nếu chi phí liên quan đến thời gian bảo trì vượt quá lợi ích của họ. Tuy nhiên, quyết định này không tính đến những lợi ích xã hội rộng lớn hơn, có được từ việc xây dựng di sản. Trong trường hợp đó, cần phải có sự can thiệp của nhà nước (Mourato, S. & Mazzanti, M. 2002).

Các di sản xây dựng có nguy cơ lớn nhất trong hai trường hợp: 1) khi không có tiền; và 2) khi có rất nhiều tiền. Cả hai tình huống thường kết thúc bằng việc mất nguồn tài nguyên di sản hoặc mất đi các đặc trưng thiết yếu, chất lượng và tính xác thực của các nguồn lực di sản còn lại. Khi không có tiền thì hạng mục ngân sách đầu tiên bị cắt giảm (cho dù tài sản di sản nằm trong tay khu vực công hay tư nhân) là bảo trì (Pereira Roders, A., 2010). Rắc rối với việc duy trì bảo dưỡng là nó làm tăng chi phí phục hồi di sản về phương diện vật chất. Và các khoản chi phí cao này thường đặt các hoạt động phục hồi vào danh mục “không khả thi đối với cả khu vực tư nhân cũng như khu vực công. Những hậu quả trực tiếp nhất của việc thiếu bảo trì là giảm giá thăm nom, th mướn và tăng số lượng chỗ trống (hoặc bị những người không phải trả tiền thuê cư chiếm)Giá thăm nom, th mướn thấp hơn và gia tăng vị trí bỏ trống góp phần làm giảm giá trị tài sản. Khi các giá trị rơi xuống một cấp độ nhất định thì đơn giản là tài sản di sản sẽ bị bỏ rơi. Tài sản bị bỏ rơi đồng nghĩa với việc không có thu nhập thuế cho chính quyền địa phương, không đủ điều kiện cho các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản và có ảnh hưởng xấu đến giá trị của các công trình gần kề. Các tài sản bị bỏ rơi thường làm tăng thêm tính chất phức tạp về quyền và quyền sở hữu tài sảnvà làm giảm đi mối quan tâm của chủ sở hữu tiềm năng khác trong việc quản lý, phục hồi và tái sử dụng di sản. Hơn nữa, các tài sản bị bỏ rơi thường tạo ra các mối đe dọa an toàn công cộng với các tình trạng sụp đổ các công trình kiến trúclũ lụt, cháy, bị cướp bóc, dung chứa tội phạm, và các vấn đề sức khỏe cộng đồng. (Pereira Roders, A. and Van Oers, R., 2012). Vì vậy, phải đối mặt với một vấn đề di sản được xem là một sự phiền toái công mà nếu không có giá trị kinh tế, thì di sản cuối cùng bị phá hủy, thường là do bỏ bê, mất đi tính toàn vẹn của kiến ​​trúc và công trình cho đến khi không gì có thể cứu vãn được. Trong các trường hợp khác, thành phố, cơ quan hoặc chủ sở hữu khác có các tòa kiến trúc đã bị hủy hoại sẽ cắt giảm chi phí lưu giữ, giảm trách nhiệm tiềm tàng và rủi ro cho di sản tăng lên. Trong cả hai trường hợp đó thì thành phố hoặc địa phương sẽ chỉ còn lại những bộ phận công trình di sản rất ít giá trị. Ở các thành phố châu Á khác (cũng như các thành phố trên toàn cầu) vẫn tồn tại tình hình ngược lại. Vì khi có sự gia tăng mức độ thịnh vượng trong nước và / hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài, các thành phố di sản sẽ trở thành khối nam châm thu hút các khoản đầu tư lớn. Thông thường các khoản đầu tư này  từ khu vực tư nhân, cũng như từ các tổ chức khác đang phát triển mạnh như các đại học, và các cơ sở chăm sóc sức khỏe, y tế (Turner, M., Pereira Roders, A. & Patry, M., 2012).

2. Định giá lợi ích

Chỉ có sự thất bại của thị trường mới không thể biện minh cho sự can thiệp của chính phủ. Chi phí can thiệp của chính phủ không được vượt quá các lợi ích xã hội gia tăng mà họ muốn tạo ra. Phân tích chi phí - lợi ích của các lựa chọn chính sách đòi hỏi phải xác định và định lượng các chi phí và lợi ích. Bản chất phi vật thể của nhiều lợi ích liên quan đến di sản hàm nghĩa không thể để thị trường chiếm đoạt các lợi ích đó. Kết quả là chúng không thể được định giá bằng các kỹ thuật định giá thị trường thông thường. Để đáp ứng tình trạng tiến thoái lưỡng nan tương tự trên thị trường hàng hoá môi trường, và hàng hóa di sản, các nhà kinh tế học đã phát triển các kỹ thuật định giá phi thị trường để định lượng những hàng hóa tồn tại bên ngoài thị trường. Các kỹ thuật này nhằm mục đích thể hiện giá trị của hàng hoá phi thị trường theo nguyện vọng sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng (WTP - willingness to pay) để được cung cấp các sản phẩm tốt. Các kỹ thuật định giá phi thị trường có thể được phân loại thành các kỹ thuật sở thích bộc lộ (revealed preference techniques) và các kỹ thuật sở thích tuyên bố (stated preference techniques) (Productivity Commission, 2006).

2.1. Các kỹ thuật sở thích bộc lộ

Lý thuyết sở thích bộc lộ (revealed preference theory) được Paul Samuelson, nhà kinh tế học Mỹ đưa ra vào năm 1938, cho rằng những sở thích (hoặc ưu tiên) của người tiêu dùng có thể được bộc lộ bằng những gì họ mua trong các hoàn cảnh khác nhau, đặc biệt là ở các mức thu nhập và giá cả khác nhau. Lý thuyết này cho rằng nếu một người tiêu dùng mua một gói hàng hoá cụ thể, thì gói đó được gọi là “bộc lộ sở thích”căn cứ vào mức thu nhập và giá cả ổn định, cho bất kỳ gói hàng nào khác mà người tiêu dùng có thể mua được. Bằng cách thay đổi thu nhập hoặc giá cả hoặc cả hai, người quan sát có thể suy ra một mô hình đại diện cho các sở thích của người tiêu dùng (Samuelson, P. 1938). Các kỹ thuật sở thích bộc lộ gợi ý giá trị của một hàng hóa phi thị trường bằng cách kiểm tra hành vi trong quá khứ đối với các hàng hóa thị trường có liên quan. Hai kỹ thuật sở thích bộc lộ phổ biến nhất là định giá hưởng thụ và chi phí đi lại. Định giá hưởng thụ dựa trên ý tưởng cho rằng giá trị của một hàng hóa thị trường tốt sẽ được đóng góp bởi một số thuộc tính có thể bao gồm các hàng hoá phi thị trường. Việc định giá nhà là loại thị trường ủy nhiệm được sử dụng phổ biến nhất cho phương pháp này, thường được sử dụng để tính toán giá trị của hàng hoá môi trường, di sản liên quan chẳng hạn như công viên và các khu dự trữ sinh quyển. Giá nhà cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tài sản di sản lân cận. Một mô hình đơn giản của loại kỹ thuật này có thể được ấn định như sau: Giá = kích cỡ + tuổi + vị trí + các thuộc tính di sảnBằng cách giữ cho các biến số khác không đổi, thì có thể ước tính được sự đóng góp của di sản gần đó đối với giá nhà. Đây là giá ẩn, hoặc đo lường bằng nguyện vọng sẵn sàng chi trả (WTP) cho di sản. Rõ ràng, phương pháp này đòi hỏi các dữ liệu chi tiết về việc định giá nhà và các thuộc tính liên quan của nó và do đó có thể mất nhiều thời gian và chi phí tốn kém. Hơn nữa, nó chỉ giữ lại những giá trị di sản thể hiện trong giá nhà. Phương pháp này loại trừ các giá trị không sử dụng và giá trị thăm quan. Phương pháp tính chi phí đi lại, thường được sử dụng để đánh giá các địa điểm du lịch, xuất phát từ nguyện vọng sẵn sàng chi trả của khách hàng cho chi phí đi lại để thăm quan một địa điểm nhất định. Chi phí đi lại không phải là giá nguyện vọng sẵn sàng chi trả WTP, nhưng lại được kết hợp với dữ liệu về số lượt thăm quan bình quân đầu người để tạo đường cầu cho các chuyến viếng thăm địa điểmđể căn cứ vào đó có thể ước tính thặng dư tiêu dùng, hoặc nguyện vọng sẵn sàng chi trả WTP. Phương pháp này dựa trên giả định rằng địa điểm này đáng để khách đến thăm quan và việc đi lại được thực hiện với mục đích duy nhất là thăm thú nơi đó. Do đó, việc ứng dụng phương pháp này vào các địa điểm di sản chỉ giới hạn ở những địa điểm thường xuyên tiếp đón khách thăm. Tuy nhiên, ngay cả đối với các trường hợp ấythì phương pháp này cũng chỉ thu thập được các giá trị về khách thăm. Mặc dù các kỹ thuật sở thích bộc lộ có lợi ích dựa trên dữ liệu từ các thị trường thực tế, nhưng tính ứng dụng của  đối với di sản lại rất hạn chế (Wong, Stanley 1978; Driml, S. 2002).

2.2. Các kỹ thuật sở thích tuyên bố

Các thí nghiệm sử dụng sự lựa chọn giả thuyết đã được sử dụng trong nửa đầu của thế kỷ XX nhằm nâng cao sự hiểu biết về lý thuyết tiện ích. Tuy nhiên, cho đến đầu những năm 1970phương pháp thay thế để quan sát sở thích người tiêu dùng trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường, cho mục đích thương mại vẫn chưa được phát triển. Ví dụ đầu tiên của các thí nghiệm sử dụng những giả thuyết này đã được Davidson (1973) và Louviere, J., Meyer, R., Stetzer, F., & Beavers, L. (1973) tìm ra. Năm 1978, định nghĩa chính thức về các loại kỹ thuật đánh giá này đã được đề xuấtBất kỳ phương pháp phân tích nào ước tính cấu trúc sở thích của một người tiêu dùng...dựa vào sự đánh giá tổng thể về một tập hợp các lựa chọn thay thế được xác định trước về mức độ của các thuộc tính khác nhau. Từ đầu những năm 1980, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực vận tải đã sử dụng phương pháp này, và ở châu Âu phương pháp này được gọi là các kỹ thuật sở thích tuyên bố” (Green, Paul E and V. Srinivasan 1978)Kỹ thuật này đã trở thành một thuật ngữ phổ biến, chủ yếu là vì sự tương phản rõ ràng mà nó mô tả so với các “kỹ thuật sở thích bộc lộ. Steer & Willumsen (1981) và Sheldon & Steer (1982) đã xuất bản một số ấn phẩm đầu tiên giới thiệu việc sử dụng kỹ thuật này trong ngành giao thông.

Trước năm 1983, điểm nhấn của các kỹ thuật sở thích tuyên bố là các nhiệm vụ đánh giá, trong đó người trả lời được yêu cầu xếp hạng hoặc đánh giá một số thuộc tính hỗn hợp liên quan đến bối cảnh lựa chọn cụ thể. Tuy nhiên, chỉ đến khi tiểu luận của Louviere & Hensher (1983) được công bố thì các kỹ thuật sở thích tuyên bố mới trở nên có tiếng tămBài viết của Louviere và Hensher đã nhấn mạnh việc sử dụng các thực nghiệm sở thích tuyên bố, kết hợp với các thực nghiệm lựa chọn. Dữ liệu được tạo ra từ loại khảo sát này chứng tỏ rất dễ dàng phân tích và cho phép dự đoán được thị phần lớn hơn. Các kỹ thuật sở thích tuyên bố đã được phát triển để đáp ứng với những hạn chế của kỹ thuật sở thích bộc lộ. Các kỹ thuật này giả định hành vi tiêu dùng tương lai đối với bản thân hàng hóa phi thị trường bằng cách khảo sát sở thích của người tiêu dùng. Hai kỹ thuật sở thích tuyên bố phổ biến nhất là định giá ngẫu nhiên và mô hình hóa lựa chọn (Navrud & Ready 2002, tr. 22). Các khảo sát định giá ngẫu nhiên yêu cầu người tiêu dùng tuyên bố nguyện vọng sẵn sàng chi trả (WTP) của họ để cung cấp một loại hàng hóa công cộng. Các kịch bản giả định được xuất trình bao gồm bản mô tả về hàng hoá được cung cấp và phương tiện thanh toán. Việc đánh giá ngẫu nhiên rất linh hoạt đối với loại hàng hoá mà nó có thể được sử dụng để đánh giá, nhưng độ tin cậy lại phụ thuộc vào việc thiết kế khảo sát có cơ sở vững chắc. Trước hết, mặt hàng cần định giá, đối với người tiêu dùng, đòi hỏi phải dễ nhận ra và phải dễ hiểu. Cần phải rõ ràng về việc hàng hóa sẽ được cung cấp như thế nào và ai cung cấp. Thứ hai, khi xác định phương tiện thanh toán, cơ chế loại trừ là rất quan trọng, theo đó mức cung hàng hoá di sản liên quan đến việc thanh toán của cá nhân như thuế hoặc phí vào cửa (Navrud & Ready 2002, tr. 22). Nếu không có liên kết như vậy, thì sẽ không có sự đánh đổi giữa sự thịnh vượng cá nhân và mức độ tiêu thụ hàng hóa có thể được quan sát thấy. Hành vi hiến tặng, chẳng hạn, không bộc lộ những sở thích thực sự khi người tiêu dùng có thể chọn “hưởng thụ miễn phí” các khoản thanh toán của người khác. Thứ ba, cuộc khảo sát phải được xây dựng theo cách giảm thiểu khả năng phản ứng thiên vị. Ví dụ, nếu người trả lời tin rằng họ thực sự sẽ phải thanh toán tiền mua hàng thì họ có thể tuyên bố dưới mức nguyện vọng sẵn sàng chi trả (WTP) của mình. Ngược lại, nếu tin rằng mình sẽ không phải trả tiền, thì họ có thể tuyên bố trên mức nguyện vọng sẵn sàng chi trả (WTP) của mình. Các nghiên cứu mô hình hóa lựa chọn yêu cầu người tiêu dùng lựa chọn giữa các mô tả giả thuyết khác nhau về hàng hoá. Mỗi mô tả hoặc bộ lựa chọn được phân biệt bởi các thuộc tính và cấp độ của nó. Một ví dụ đơn giản về các bộ lựa chọn trong một cuộc khảo sát mô hình lựa chọn có thể như dưới đây:


Lựa chọn A

Lựa chọn B

Số địa điểm được bảo tồn

Cao

Trung bình

Điều kiện bảo tồn các địa điểm 

Trung bình

Cao

Tiền thuế hàng năm

$10

$20

Vì vậy, những người được hỏi phải thực hiện việc đánh đổi giữa các thuộc tính khác nhau - trong trường hợp này là số lượng và chất lượng của các di sản. Bằng cách bao gồm một thuộc tính tiền tệ, cũng có thể suy ra các giá trị. Lựa chọn mô hình hóa cũng phải đối mặt với cùng một kỹ thuật khảo sát khó khăn như định giá ngẫu nhiên và các bộ lựa chọn có thể đặc biệt phức tạp cho người trả lời hiểu được. Tuy nhiên, nó loại bỏ tiềm năng thiên vị vốn có trong việc trực tiếp tạo ra nguyện vọng sẵn sàng chi trả (WTP). Việc sử dụng các kịch bản đa tính năng mang lại dữ liệu phong phú hơn và tiết kiệm chi phí hơn bằng cách cung cấp không chỉ một ước tính giá trị mà còn là một mối quan hệ chức năng giữa các cấp độ thuộc tính. Do đó, mô hình lựa chọn có thể được sử dụng để ước tính các sở thích của người tiêu dùng theo các kịch bản chính sách phức tạp và thực tế hơn. Một cuộc điều tra năm 2005 cho thấy chỉ có 33 nghiên cứu, hầu hết sử dụng định giá ngẫu nhiên (Economics for the Environment Consultancy, 2005). Đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế môi trường thông qua phép thử - sai liên tục trong việc ứng dụng thực tế của các kỹ thuật này. Cần có các nghiên cứu sâu hơn về những cách thức ứng dụng vào bối cảnh di sản.

3. Nhận thức về chi phí

Các phương pháp hiện tại để xác định địa điểm di sản lịch sử cho việc liệt kê theo luật định tập trung vào những lợi ích mà cộng đồng mong muốn. Thông thường, người ta ít xem xét các chi phí được áp đặt đối với chủ sở hữu hoặc cộng đồng nói chung (Productivity Commission (2006). Việc phân tích chi phí lợi ích của các lựa chọn ra quyết định liên quan đến di sản sẽ đòi hỏi không chỉ phép định lượng các lợi ích vô hình, mà còn phải xem xét các chi phí nữa. Chi phí quản lý của chính phủ khá dễ xác định. Các chi phí tuân thủ không rõ ràng, và thường liên quan đến việc sử dụng các công cụ chính sách điều tiết (chẳng hạn như liệt kê theo luật định) và cũng có thể là các khoản chi phí minh bạch hoặc chi phí cơ hội không minh bạch. Các chi phí minh bạch phải tuân thủ bởi danh sách di sản có thể bao gồm yêu cầu thực hiện công việc bảo dưỡng bổ sung với sự trợ giúp của các nhà phục chế và các nhà khảo cổ, cũng như gánh nặng hành chính lớn hơn. Chi phí cơ hội là những cơ hội (thường là những phát triển tiềm năng của di sản) buộc phải bỏ qua để giữ tài sản di sản ở dạng hiện tại của nó. Cộng đồng cũng như các chủ sở hữu tư nhân phải gánh các chi phí này bởi những cơ hội bị bỏ qua có thể có những lợi ích xã hội lớn hơn - ví dụ như, một công trình di sản được chuyển thành một khu thương mại chẳng hạn (Rypkema, D. 2006). Về vấn đề xác định các chi phí, Throsby (1997: 23) ghi nhận rằng rất khó để xác định liệu các khoản chi tiêu riêng có thể được thực hiện bất chấp các yêu cầu pháp lý hay không. Các công trình di sản lâu đời hơn thường đòi hỏi chi phí phải bảo dưỡng cao hơn so với những công trình ít lâu đời hơn, bất kể vị thế di sản của chúng. Khi kiểm tra chi phí cơ hội, Rypkema (2006: 13) lưu ý rằng chỉ vì một chủ sở hữu di sản không thể đạt được “lợi nhuận tối đa trên tài sản của họ, không có nghĩa là họ không thể đạt được khoản “lợi nhuận hợp lý. Do đó, khó khăn là ở chỗ xác định mức chi phí nào có thể thích hợp với một địa điểm di sản nhất định. Cần phải có hiểu biết tốt hơn về chi phí do các công cụ chính sách khác nhau đòi hỏi trước khi có thể phân tích chi phí-lợi ích chính xác.

4. Lồng ghép phân tích chi phí - lợi ích vào việc ra quyết định

Một mục tiêu rõ ràng cho vấn đề kinh tế học di sản là việc chọn lựa kỹ càng các phương pháp được sử dụng để đo lường chi phí và lợi ích của việc bảo tồn di sản. Đặc biệt, chúng có thể được áp dụng như thế nào đối với các kịch bản chính sách cụ thể và cách thức có thể đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau của các cơ quan trung ương. Một cản trở chính đối với việc áp dụng các cách tiếp cận là thiếu các bộ dữ liệu toàn diện và nhất quán về di sản. Trong việc xem xét các phương pháp luận, mục tiêu thứ hai có thể là xác định những dữ liệu nào cần cho việc phân tích chi phí lợi ích của di sản và cách thức thu thập các dữ liệu đó. Mục tiêu cuối cùng là xác định cách phân tích chi phí lợi ích có thể được lồng ghép vào quá trình ra quyết định. Khi nào thì cần phải sử dụng cách tiếp cận định lượng phù hợp và khi nào thì nên kết hợp với các đánh giá định tính? Vì hầu hết các di sản đều nằm trong phạm vi quản lý của các chính quyền địa phương, nên cần phải chú ý đặc biệt đến tính khả thi của việc phân tích chi phí - lợi ích ở cấp địa phương. Các kỹ thuật định giá được thảo luận có thể đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn là thực tế giải trình cho mỗi quyết định. Một giải pháp được xem xét trong lĩnh vực kinh tế môi trường là chuyển giao lợi ích, theo đó các giá trị của một hàng hóa phi thị trường được chuyển giao sang loại hàng hoá khác có cùng các thuộc tính. Các nhà tư vấn kinh tế học môi trường cho rằng phạm vi hạn chế đối với kỹ thuật này trong việc ra quyết định liên quan đến di sản hiện nay là do thiếu các nghiên cứu định giá di sản hiện tồn (Economics for the Environment Consultancy, 2005: 9). Một lần nữa, điều này cho thấy sự cần thiết phải áp dụng thêm các kỹ thuật định giá phi thị trường đối với các di sản.

5. Kết luận

Phân tích kinh tế về di sản cung cấp một số hiểu biết có giá trị về bảo tồn di sản nói chungViệc nhận thức về sự thất bại của thị trường đối với lĩnh vực di sản không chỉ đòi hỏi phải tăng thêm sự can thiệp của chính phủ vào việc bảo tồn di sản, mà còn có thể giúp cho việc can thiệp có thể đạt được các mục tiêu tốt hơnĐòi hỏi tiếp theo đối với kinh tế học di sản là phát triển các công cụ để hiện thực hóa các nhận thức này. Việc tiến hành phân tích chi phí – lợi ích của các lựa chọn chính sách để bảo tồn di sản có thể giúp đảm bảo rằng các di sản đạt được lợi ích ròng bằng cách giải quyết các nguyên nhân cụ thể của sự thất bại thị trường trong lĩnh vực này (Bennett 2000; Mourato & Mazzanti 2002). Điều đó đòi hỏi phải phát triển và áp dụng thêm các kỹ thuật định giá phi thị trường, cũng như thông tin tốt hơn liên quan đến các chi phí di sản, kể cả đối với khu vực tư nhân. Việc đánh giá toàn diện về chi phí và lợi ích của di sản có thể góp phần làm cho hệ thống bảo tồn di sản trở nên hiệu quả hơn.

________________________________________

Nguồn: Hà Hữu Nga (2017). Khái lược về Kinh tế học Di sản, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 354 (10/12/2017), tr.32-37.

Tài liệu tham khảo

Bennett, J. (2001). Natural Heritage Valuation Methods: Applications to Cultural Heritage’ in Heritage Economics: Challenges for Heritage Conservation and Sustainable Development in the 21st Century, Australian Heritage Commission, Australia.

Davidson J.D., (1973). Forecasting traffic on STOL. Operations Research Quarterly 24: 561-9.

Driml, S. (2002). Travel Cost Analysis of Recreation Value in the Wet Tropics World Heritage Area, In Economic Analysis and Policy, 32(2), pp. 11-26.

Economics for the Environment Consultancy (2005). Valuation of the Historic Environment – the scope for using results of valuation studies in the appraisal and assessment of heritage-related projects and programmes, Report to English Heritage, the Heritage Lottery Fund, the Department for Culture, Media and Sport and the Department for Transport, United Kingdom. 
Green, Paul E and V. Srinivasan (1978). Conjoint Analysis in Consumer Research: Issues and OutlookJournal of Consumer Research, 1978, vol. 5, issue 2, pages 103-23. 
Keynes, John Maynard (1923). A
 Tract on Money In Reformation. MacMillan and Co., Limited St Martins’ Street, London 1924, pp.80-82.

Louviere, J., Meyer, R., Stetzer, F., and Beavers, L. (1973). Theory, methodology and findings in mode choice behaviour, Worling Paper No 11, The Institute of Urban and Regional Research, University of Iowa.

Louviere, J. & Hensher, D. (1983). Using discrete choice models with experimental design data to forecast consumer demand for a unique cultural event, Journal of Consumer Research, 10.

Mourato, S. & Mazzanti, M. (2002). Economic Valuation of Cultural Heritage: Evidence and Prospects. In Assessing the Values of Cultural Heritage, The Getty Conservation Institute, Los Angeles.

Navrud, S. & Ready, R. eds., (2002). Valuing Cultural Heritage: Applying Environmental Valuation Techniques to Historic Buildings, Monuments and Artefacts, Edward Elgar, United Kingdom.

Pagiola, S. (1996). Economic Analysis of Investments in Cultural Heritage: Insights from Environmental Economics, World Bank Staff Paper, Washington DC.

Pereira Roders, A (2010). Revealing the level of tension between cultural heritage and development in World Heritage cities – part 1”, Proceedings of the IV International Congress on cultural heritage and development co-operation: Cultural Heritage in the new scenarios of progress. Seville: Fundación de las Tres Culturas, pp. 343-351.

Pereira Roders, A. and Van Oers, R. (2012). Editorial: guidance on heritage impact assessments: learning from its application on World Heritage site management. Journal of Cultural Heritage Management and Sustainable Development, 2(2):1, pp. 104-114.

Productivity Commission (2006). Conservation of Australia’s Historic Heritage Places, Report No. 37, Canberra.

Rypkema, Donovan (2006). Submission to the Draft Report of the Productivity Commission Inquiry into the Conservation of Australia’s Historic Heritage Places, Submission DR233, Canberra.

Rypkema, Donovan (2009). The Economics of Heritage, http://www.unescobkk.org/. 

Samuelson, P. (1938). A Note on the Pure Theory of Consumers' Behaviour. In Economica, 5 (17): 61–71. 
Sheldon, R. and Steer, J.K. (1982). The use of conjoint analysis in transport research. Paper presented to the PTRC Summer Annual Conference, London, September, 1982.

Steer J. K. and L. Willumsen (1981). An Investigation of Passenger Preference Structures. Planning and Transportation Research and Computation Summer Annual Meeting.

Throsby, T. (1997). Seven Questions in the Economics of Cultural Heritage. In Hutter, M. and Rizzo, I. (eds) Economic Perspectives on Cultural Heritage, MacMillan Press, London.

Turner, M., Pereira Roders, A. & Patry, M. (2012). Revealing the level of tension between cultural heritage and development in World Heritage cities – part 2. In Measuring Heritage Conservation Performance, (pp. 124-133). Olinda and Rome: CECI and ICCROM.

Wong, Stanley (1978). The Foundations of Paul Samuelson’s Revealed Preference Theory, Routledge & Kegan.

Nguồn: http://kattigara-echo.blogspot.com/2021/02/khai-luoc-ve-kinh-te-hoc-di-san.html

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

Khảo cổ học là gì và đào tạo khảo cổ học ở Trường đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội

                             KHẢO CỔ HỌC


                                                                                                            GS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung

 

ĐỊNH NGHĨA VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

 

        Khảo cổ học là khoa học về thời kỳ cổ xưa theo nghĩa các nhà khảo cổ học điều tra, tái hiện và diễn giải nguồn gốc, sự phát triển, hành vi và xã hội của con người trong quá khứ dựa trên các dấu tích vật chất và đặc điểm thể lý của con người để lại trong lòng đất, trên mặt đất, và dưới nước.  

         Khảo cổ học có ba mục tiêu chính, đó là xác lập niên đại của hiện vật và di tích khảo cổ, phục dựng lối sống của con người trong quá khứ từ di tích cụ thể đến môi trường sống, và diễn giải xã hội con người trong quá khứ theo các chiều cạnh thời gian, không gian và văn hóa (Hán Văn Khẩn (cb) 2008:54).

          Khảo cổ học đã manh nha từ lâu trong lịch sử thông qua những ham muốn sở hữu những vật kỳ thú và tò mò về quá khứ đến những sưu tập cổ vật. Tuy vậy, những cuộc khai quật khảo cổ học đầu tiên chỉ bắt đầu vào thế kỷ XVIII và đến giữa thế kỷ XIX thì khảo cổ học hiện đại ra đời. Các nhà khảo cổ học lúc đó đã xác định những nguyên lý cơ bản của khai quật khảo cổ học dựa trên các nguyên lý sau:

-       Nguyên lý chồng xếp của sự hình thành tầng đất địa chất: Sự hình thành các lớp trầm tích văn hóa trong quá khứ cũng theo nguyên lý này và như vậy cần tiến hành khai quật theo trật tự hình thành từ trên xuống dưới các tầng đất chứa dấu vết hoạt động của con người để thiết lập quá trình thành tạo tầng văn hóa từ dưới lên trên tức từ sớm đến muộn.

-       Nguyên lý về tính cổ xưa của loài người (phản ứng lại quan điểm của Kinh Thánh về nguồn gốc con người).

-       Nguyên lý dựa quan điểm tiến hóa sinh học: đề cao khả năng thích nghi của con người và tiến hóa văn hóa theo nghĩa phân chia văn hóa thành ba thời đại phát triển từ thấp lên cao: thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng và thời đại đồ sắt

-       Nguyên lý kết hợp tài liệu dân tộc học về lối sống của các cư dân cổ với các phát hiện của các khoa học tự nhiên và sử dụng các kỹ thuật tiên tiến đặc biệt là các phương pháp lý hóa phân tích niên đại tuyệt đối. 

          Từ những năm 1960, nhà khảo cổ học người Mỹ là Lewis Binford (1931-2011) bắt đầu phát triển hướng nghiên cứu mới cho nhân học khảo cổ, được gọi là khảo cổ học mới, và khác biệt so với cách nghiên cứu khảo cổ học truyền thống (khảo cổ học giai đoạn trước đó) ở một số điểm. Thứ nhất, trong khi khảo cổ học truyền thống thiên về giải thích lịch sử thì khảo cổ học mới không chỉ giải thích lịch sử mà còn nghiên cứu quá trình văn hóa và sự thay đổi về kinh tế, xã hội, và tái hiện tổ chức xã hội và hệ tư tưởng. Thứ hai, khi khảo cổ học truyền thống nặng về mô tả và tái hiện ảnh hưởng văn hóa này đối với văn hóa khác, sự kế thừa văn hóa từ sớm đến muộn theo những phương pháp quy nạp và diễn giải lịch sử thì khảo cổ học mới phân tích và lý giải văn hóa như một hệ thống nhỏ trong một hệ thống lớn, và chú ý đến các yếu tố xã hội, tư tưởng, thương mại, nhân khẩu … chứ không chỉ là chỉ phân loại hình học các hiện vật như khảo cổ học truyền thống thường làm. Tuy nhiên, hai trường phái truyền thống và mới trong khảo cổ học ở Mỹ không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau. Bởi lẽ, cả hai trường phái này đều cố gắng sử dụng tri thức khoa học hiện đại và phương pháp luận tiên tiến để xử lý và phân tích dữ liệu nhằm tái hiện quá khứ nhân loại ở mọi chiều kích. Theo cách đó, khảo cổ mang tính liên ngành cao, và là ngành khoa học XHNV ứng dụng nhiều nhất các thành tựu khoa học tự nhiên và kỹ thuật để tạo ra các công trình khảo cổ học có giá trị (Lâm Thị Mỹ Dung 2012: 231-251).

         Tuy nhiên, khảo cổ học ở Liên bang Xô-viết và các quốc gia xã hội chủ nghĩa có một số điểm khác biệt với khảo cổ học ở Mỹ và các quốc gia phương Tây tư bản. Bởi lẽ, trong nền khảo cổ học Xô-viết, quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin với hạt nhân tư tưởng của tiến hóa luận duy vật lịch sử đã chi phối toàn bộ các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy khảo cổ học. Trong lịch sử khảo cổ học Xô-viết, một số nhà khảo cổ học tiêu biểu như V.A.Gorodtsov, Leo Klejn, Nicolai Marr, Sergey A.Semonov… đã có ảnh hưởng lớn đến nền khảo cổ học thế giới.[1] Tất nhiên trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21 này ranh giới giữa KCH phương Tây/Mỹ với KCH XHCN càng ngày bị xóa nhòa và sự ảnh hưởng qua lại ngày càng lớn. Tính chất liên ngành của KCH hiện đại và ứng dụng công nghệ tiên tiến, kỹ thuật không xâm lấn, thuật toán... đã làm cho các trường phái KCH theo hệ thống chính trị hay khu vực địa lý xích lại gần nhau và gặp nhau ở nhiều phương diện. 

        Khảo cổ học thường được phân chia theo các chủ đề nghiên cứu hay theo các tiếp cận lý thuyết. Phân chia theo chủ đề nghiên cứu tạo nên các chuyên ngành như Khảo cổ học môi trường, Khảo cổ học dân tộc học, Khảo cổ học dưới nước, Khảo cổ học nông nghiệp, Khảo cổ học đô thị, Khảo cổ học pháp y, Khảo cổ học di sản, Khảo cổ học cộng đồng ... (Colin Renfrew và Paul Bahn 2016:12) (hình 1). Phân chia theo cách tiếp cận lý thuyết làm hình thành những tên gọi quen thuộc như Khảo cổ học thực dân, Khảo cổ học hậu thực dân, Khảo cổ học Tây Âu, Khảo cổ học Bắc Mỹ, Khảo cổ học Mác-xít,... (Lâm Thị Mỹ Dung 2019: 134-148).

Hình 1. Hình ảnh từ trưng bày Khảo cổ học Cộng đồng di tích Vườn Chuối

        Sự phân chia hay kết hợp các phân ngành khảo cổ học liên tục có những thay đổi hợp thời với những tiến bộ và đánh giá lại trong nghiên cứu khảo cổ học, ví dụ những năm gần đây khi ứng dụng các công nghệ thông tin trong khảo cổ học, đặc biệt là trong bảo vệ, bảo tồn, phục dựng cũng như sử dụng di sản khảo cổ học với các kỹ thuật thực tế ảo 3D, thực tế ảo tăng cường, chụp chuyển động, viễn thám, quét laser, hệ thống thông tin địa lý dựa trên hệ thống định vị toàn cầu (GPS)…đã thúc đẩy sự hình thành của Khảo cổ học điện toán (Computational archaeology) (hình 2) .


            Hình 2. Áp dụng công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR) trong bảo tồn và phục dựng di sản KCH (https://www.arkeotekno.com/pg_305_application-of-augmented-reality-technologies-in-archaeology)

             Khảo cổ học thuộc ngành học nào là câu hỏi luôn khó để trả lời dứt khoát vì còn tùy thuộc vào từng truyền thống quốc gia. Trong truyền thống Nhân học bốn phân ngành ở Bắc Mỹ, Úc và một số quốc gia khác, với tư cách là một phân ngành nghiên cứu con người, khảo cổ học được xếp vào Nhân học có mục tiêu nghiên cứu, diễn giải văn hóa vật thể và phi vật thể của quá khứ bằng những lý luận và phương pháp luận nhân học. Tuy nhiên, ở Liên bang Xô-viết và các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, khảo cổ học được coi là một khoa học nghiên cứu quá khứ, do đó khảo cổ học gắn với khoa học lịch sử và được coi là một trong các chuyên ngành của khoa học lịch sử. Có một quan điểm khác được khẳng định bởi vị giáo sư đầu ngành khảo cổ học Việt Nam thời kỳ hiện đại là Hà Văn Tấn (1937-2019). Ông cho rằng khảo cổ học là khảo cổ học, tức khảo cổ học là chính nó mà không thuộc một khoa học nào khác (Hà Văn Tấn 1996).

            Một số hiểu lầm thường gặp về khoa học khảo cổ. Khảo cổ học không phải là Cổ sinh vật học nghiên cứu những sinh vật đã tuyệt diệt hay những sinh vật từng sống trong thời cổ đại và tiến hóa đến ngày nay như khủng long, voi ma mút… Khảo cổ học không phải là đi đào trộm mộ cổ, các di tích cổ … để tìm kiếm cổ vật với mục đích buôn bán, trao đổi. Khảo cổ học cũng không phải đi kiếm tìm kho báu, càng không hướng tới những thứ siêu linh, giải mã lời nguyền và ma thuật… như nhiều phim ảnh và truyện trinh thám thường mô tả, v.v.

                 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ HỌC

              Quy trình nghiên cứu khảo cổ học thường gồm hai công đoạn chính diễn ra ở ngoài trời và trong phòng. Thứ nhất, những hoạt động ngoài trời gồm điều tra và khai quật. Khai quật khảo cổ học có vai trò trung tâm trong việc thu thập dữ liệu về đời sống của con người ở một thời kỳ cụ thể trong quá khứ và những biến đổi qua thời gian trong sự tương tác trong xã hội con người với nhau và giữa con người với tự nhiên. Để thấy được mối quan hệ theo chiều thời gian (lịch đại), hoạt động khai quật khảo cổ học được tiến hành theo các lớp đào từ trên xuống dưới dựa vào nguyên tắc địa tầng, càng ở dưới sâu thì di tích và di vật càng có tuổi sớm hơn. Ví dụ, tại những hố khai quật địa điểm Hoàng Thành Thăng Long, áp dụng đào theo diễn biến các tầng đất chứa dấu tích của người xưa, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã nhận diện được những giai đoạn hình thành và phát triển từ thời kỳ Đại La đến thời Nguyễn và từ đó liên kết với những sử liệu thành văn để hình dung diện mạo kinh thành Thăng Long qua các triều đại trong lịch sử Việt Nam. Một ví dụ khác là phức hợp di tích Vườn Chuối ở huyện Hoài Đức, Hà Nội, các nhà khảo cổ học đã khai quật và bóc lớp văn hóa theo màu sắc và cấu trúc, từ đó phác họa được quá trình cư dân cổ thời Tiền Đông Sơn và Đông Sơn đã kế thừa và mở rộng không gian sống theo xu thế lấn dần xuống những vùng đất thấp như thế nào.

              Để tìm hiểu những diễn biến đời sống quá khứ theo chiều không gian (đồng đại), các hoạt động khai quật được thực hiện với mục đích nhận diện bối cảnh của di tích và di vật tìm được. Khai quật bóc từng lớp đất giống như lật đọc từng trang sách. Nhưng khác với đọc sách, người ta có thể đọc lại trang vừa đọc, còn khai quật khảo cổ học thì không. Khai quật đến đâu, dấu tích hoạt động của người xưa bị phá đến đấy (Jim Grant, Sam Gorin and Neil Fleming 2008:25). Do vậy, khai quật khảo cổ học phải được tiến hành một cách khoa học, cẩn trọng theo các nguyên tắc chuyên môn chặt chẽ (Hán Văn Khẩn (cb) 2008: 44-51) dưới sự hướng dẫn của các nhà khảo cổ học chuyên nghiệp và được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cấp phép và sự đồng ý của địa phương. Những kết quả khai quật sau quá trình xử lý phải được bàn giao cho các Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch và bảo tàng tỉnh, nơi có di tích phục vụ công tác nghiên cứu và trưng bày và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử... Xu hướng hiện nay là khai quật khảo cổ học bền vững để giữ lại cho thế hệ mai sau và gia tăng ứng dụng kỹ thuật không xâm hại đối với những phức hợp di tích có diện tích rộng thuộc nhiều thời kỳ.          

            Thứ hai là các nghiên cứu trong phòng. Công đoạn này còn được gọi là quy trình hay giai đoạn hậu khai quật. Đây là công đoạn chỉnh lý, phân loại, đánh giá và phân tích dữ liệu khảo cổ học bằng các phương pháp chuyên ngành của khảo cổ học kết hợp với các phương pháp liên ngành và kỹ thuật khác. Như vậy, quá trình tìm tòi hiện vật tại hiện trường và khát vọng khám phá đầy trí tuệ khoa học trong phòng thí nghiệm để phân tích và diễn giải hiện vật gắn kết với nhau, quan trọng như nhau. Một nhà khảo cổ học danh tiếng của Việt Nam là giáo sư Trần Quốc Vượng (1934-2005) đã gói quy trình này vào năm chữ Đ trong tiếng Việt (Đọc – Đi – Đào - Đau đáu - Đầu) để giải quyết những vấn đề bắt đầu bằng năm chữ W và một chữ H trong tiếng Anh (What, When, Who, Where, Why và How?).

            Về mặt phương pháp luận, với đối tượng nghiên cứu là quá khứ của nhân loại, các nhà khảo cổ học thu thập và diễn giải tài liệu khảo cổ học. Kết hợp hai công đoạn ở ngoài hiện trường và trong phòng, thông qua sử dụng nhiều kỹ thuật, máy móc và phần mềm máy tính phù hợp, các nhà khảo cổ học không chỉ thu thập được các dữ liệu vật chất, vật thật như công cụ, dụng cụ, di tích nhà ở, mộ táng, tượng đài, công trình tôn giáo…, mà còn là sử liệu từ nhiều nguồn tài liệu khác và dữ liệu môi trường để tái hiện lại các xã hội hay các hiện tượng trong quá khứ.  Trong thực tế, các kỹ thuật thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu của mỗi loại hình khảo cổ học khá đa dạng, từ những kỹ thuật đơn giản như dùng bay và chổi quét từng hạt bụi ở hố khai quật cho đến các phương tiện hiện đại như bay máy bay trên trời dùng kỹ thuật LIDAR siêu âm mặt đất đánh dấu tàn tích đô thị, đền đài ẩn sâu dưới lòng đất, sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) xác định phạm vi di tích, nhận diện các dấu tích còn lại cũng như mức độ biến đổi bề mặt (hình 3). Các nhà khảo cổ học cũng tỉ mẩn phân loại những mảnh gốm thu được trong khai quật, phân tích chút cặn còn lại trong nồi gốm để biết người xưa ăn gì và chế biến thức ăn thế nào, sử dụng kỹ thuật X quang soi chụp di vật, di thể người, động vật... đến sử dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu…

            Từ cuối thế kỷ XX, với sự ra đời của công nghệ máy tính, công nghệ viễn thám, lưu trữ dữ liệu số, thực tế ảo, mô phỏng máy tính, máy ảnh kỹ thuật số và sử dụng nhiều hơn các ngành khoa học cơ bản bao gồm từ phân tích DNA... đến phân tích đồng vị hóa học của các chất liệu hữu cơ và vô cơ, và những kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, thảm họa môi trường, dịch bệnh... đã giúp các nhà khảo cổ học nhận diện chính xác hơn nguyên nhân của sự hình thành và biến mất của các nền văn hóa khảo cổ, của những đợt di dân và lan truyền văn hóa, ngôn ngữ... (Bellwood Peter 2005). Việc sử dụng các đồng vị phóng xạ khác nhau cho phép các nhà khảo cổ học xác định niên đại của các mẫu vật có nguồn gốc sinh học và địa chất với độ chính xác cao. Tuy nhiên, phương pháp xác định niên đại đồng vị phóng xạ có thể không thích hợp cho những trường hợp từ sau những năm 1940, khi bom hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân và các vụ thử hạt nhân ngoài trời gây ra nhiều thay đổi trong khí quyển, mẫu vật từ bất cứ vật gì chết sau thời điểm đó sẽ khó được xác định niên đại chính xác (Marshall Brain 2020). Có thể nói, các nhà khảo cổ học đã khai thác tối đa những tiến bộ của các khoa học tự nhiên, sinh học, môi trường học… để triển khai nghiên cứu khảo cổ học.

 


Hình 3. Sử dụng drone khảo sát mức độ biến đổi của di tích Thành Dền, Mê Linh, Hà Nội. Ảnh: Lâm Thị Mỹ Dung và cộng sự.

 

KHẢO CỔ HỌC VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG VÀ ĐÀO TẠO

              Ở Việt Nam, khoa học khảo cổ được hình thành từ thời Pháp thuộc với ảnh hưởng mạnh của trường phái khảo cổ học lịch sử - văn hóa vốn bị chi phối mạnh bởi truyền bá luận và tiến hóa luận đơn tuyến. Trong giai đoạn này, một số cơ quan thực hiện nghiên cứu khảo cổ học gồm Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, Bảo tàng Luis Finot ở Hà Nội (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện nay) đã phát hiện một số nền văn hóa khảo cổ ở Việt Nam.

              Từ sau năm 1954, khảo cổ học Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới gắn nhiều với khoa học lịch sử và sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng Mác-Lênin. Những thập niên 1950-1960 là dấu ra đời của các cơ quan nghiên cứu và đào tạo khảo cổ học ở Việt Nam. Về đào tạo, vào năm 1960, tổ bộ môn Khảo cổ học ra đời và đến năm 1967 thì trở thành Bộ môn Khảo cổ học thuộc Khoa lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hiện nay, chương trình đào tạo khảo cổ học được tổ chức và triển khai ở Bộ môn Khảo cổ học thuộc Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và một số trường đại học khác. Ở phương diện cơ quan nghiên cứu, Đội Khảo cổ học của Việt Nam ra đời và triển khai các nghiên cứu khai quật khảo cổ học từ những năm 1950, và đến năm 1968 Viện Khảo cổ học được thành lập.

          Kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học ở các đơn vị nghiên cứu, đào tạo và bảo tàng ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã phát hiện và lý giải nhiều nền văn hóa khảo cổ đáng chú ý của đất nước. Một số ví dụ có thể kể ra là văn hóa Tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun), văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sơn Vi, văn hóa Hòa Bình, v.v. Trong nghiên cứu, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã vận dụng và cập nhật được một số lý thuyết của khảo cổ học mới, và những phương pháp, kỹ thuật tiên tiến, gắn với tăng cường hợp tác quốc tế để từng bước đạt được những kết quả nghiên cứu ngày càng có chất lượng hơn trước (hình 4).

            Khảo cổ học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trong nghiên cứu phục dựng quá khứ của các cộng đồng cư dân đã từng sinh sống trên lãnh thổ đất Việt Nam từ sơ kỳ thời đại đá cũ cho đến thế kỷ XIX phục vụ thiết thực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Kế thừa những kết quả của thời kỳ trước, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã liên tục khảo sát, phát hiện và nghiên cứu các thời kỳ, các văn hóa khảo cổ. Nhiều nền văn hóa khảo cổ Việt Nam đã trở thành những văn hóa tiêu biểu, đại diện cho các thời kỳ khảo cổ học Đông Nam Á, châu Á như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Quỳnh Văn, văn hóa Đa Bút (thời đại Đá mới cách đây từ trên 20.000 năm đến 5.000 năm), văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh (thời đại Sắt sớm cách đây 2.500 năm), văn hóa Óc Eo, văn hóa Champa…(thiên niên kỷ I đầu Công nguyên).


Hình 4. Hợp tác Việt-Úc khai quật Đền Đồi (Quỳnh Lưu, Nghệ An) năm 2018.

Ảnh: Lâm Thị Mỹ Dung.

          Những nghiên cứu khảo cổ học góp phần quan trọng trong tìm hiểu nguồn gốc, niên đại của quá trình lịch sử văn hóa dân tộc, như những dấu tích văn hóa Đông Sơn cho chúng ta những nhận thức khoa học khách quan về nền tảng bản địa của các nhà nước sớm Văn Lang, Âu Lạc bên cạnh những tiếp xúc và giao lưu bằng nhiều hình thức khác nhau với khu vực và thế giới. Quá trình kế thừa và biến đổi văn hóa từ thời Lý – Trần – Lê – Nguyễn được bộc lộ càng ngày càng rõ nét qua khai quật Hoàng Thành Thăng Long... Những nghiên cứu khảo cổ học cung cấp những chứng cứ rõ ràng về sự đóng góp của các cộng đồng cư dân khác nhau trong quá trình hình thành văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng và định vị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh khu vực và quốc tế. Những di tích và di vật của các nền văn hóa Champa và Óc Eo cho thấy sự hiện diện và phát triển của những vương quốc thời Cổ Trung đại trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay và góp phần tạo dựng các giá trị văn hóa giàu có về vật chất, phong phú về tinh thần mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đang cùng nhau kế thừa, bảo vệ và phát huy. Những khám phá và phát hiện khảo cổ học giúp khẳng định chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải trong bối cảnh phức tạp của khu vực và thế giới những năm gần đây. 

          Kết quả nghiên cứu khảo cổ học đóng góp đáng kể trong việc làm hồ sơ đệ trình UNESCO ghi vào danh sách di sản thế giới (như Cố đô Huế, Khu di tích Mỹ Sơn, Đô thị cổ Hội An, Hoàng thành Thăng Long, Thành Nhà Hồ, Khu di tích Tràng An…) và danh sách di sản các cấp ở Việt Nam cũng như công nhận bảo vật quốc gia. Hầu hết các bảo tàng Lịch sử cấp Trung ương và cấp tỉnh đều được xây dựng dựa trên những sưu tập hiện vật khảo cổ học và những thông tin liên quan thu được từ những cuộc khai quật. Thông qua các hoạt động này, những giá trị nhiều mặt bao gồm cả giá trị kinh tế của các di tích và di vật đã được phát huy trong đời sống xã hội một cách hữu hiệu và người dân càng ngày càng biết về nghề khảo cổ và công việc khảo cổ cũng như vai trò của khảo cổ học trong phát triển bền vững của xã hội hiện tại và tương lai. Tri thức khảo cổ học được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa, bảo tồn, bảo tàng, quản lý di sản, công nghiệp sáng tạo, du lịch, truyền thông, tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật, mỹ thuật, v.v.

            Khảo cổ học Việt Nam hiện nay đang nỗ lực không ngừng để khai thác những trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật khai quật và xử lý hậu khai quật tiệm cận với trình độ quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực khảo cổ học có chất lượng, đóng góp nhiều và hiệu quả hơn nữa cho tiến trình phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, và biến đổi khí hậu.

            Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQG Hà Nội luôn được đánh giá là địa chỉ đào tạo và nghiên cứu khảo cổ học uy tín, chất lượng cao. Hầu hết các thế hệ những người làm khảo cổ ở Việt Nam đều xuất phát từ nôi đào tạo này. Hiện nay, việc đào tạo hơn lúc nào hết gắn với nghiên cứu, thực hành thực tế và áp dụng các công nghệ mới, các kỹ thuật tiên tiến và kiến thức liên ngành với phương châm HỌC – HỎI – HÀNH – HIỂU và nguyên tắc “CẦM TAY CHỈ VIỆC” (hình 5,6). Chính vì vậy, các cử nhân ngành Lịch sử, chuyên ngành Khảo cổ học với tri thức liên ngành, nắm vững nhiều kỹ năng nghề như chụp ảnh, vẽ, sử dụng các thiết bị kỹ thuật dò tìm, bay lượn, thành thạo nhiều phần mềm máy tính và đam mê lịch sử văn hóa dân tộc, nhân loại... có khả năng làm việc không chỉ trong khảo cổ học mà còn ở nhiều lĩnh vực rộng hơn, có tính đa ngành và liên ngành như lịch sử, văn hóa, nghệ thuật /mỹ thuật, du lịch, luật,  bảo tồn, bảo tàng, báo chí truyền thông, quản lý văn hóa, quảng cáo...

 

Hình 5. Sinh viên chuyên ban Khảo cổ học thực hành những phương pháp khai quật và xử lý hậu khai quật tại địa điểm khai quật và ở Bảo tàng Nhân học

Hình 6. Tủ sách Nishimura và Bảo tàng Nhân học – Cơ sở thực hành và nghiên cứu của sinh viên KCH và sinh viên các ngành khoa học XHNV.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Colin Renfrew và Paul Bahn (2016), Archaeology: Theories, Methods and Practice, in lần thứ 7, Nxb Thames & Hudson, London.

David Clarke (1973), Archaeology: The Loss of Innocence, Antiquity, 1973 (47)

Hà Văn Tấn (1996), Khảo cổ học lý thuyết – Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành khảo cổ học. Viện Khảo cổ học Hà Nội

Hán Văn Khẩn (cb) (2008), Cơ sở Khảo cổ học, Nxb ĐHQG Hà Nội

Lâm Thị Mỹ Dung (2012), Liên ngành trong nghiên cứu khảo cổ học: Từ lý thuyết đến ứng dụng”, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá”, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 231-251.

Lâm Thị Mỹ Dung (2019), Trường phái Xô-viết trong Khảo cổ học Việt Nam, in trong Nguyễn Văn Sửu (cb), Ảnh hưởng của Trường phái Xô-viết trong Nhân học Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr.134-148

Marshall Brain, How Carbon-14 Dating Works, https://science.howstuffworks.com/environmental/earth/geology/carbon-14.htm#pt0, truy cập ngày 1.8.2020

Donn Bayard (1992), Model, scenarios, variables and supposition; approaches to the rise of social complexity in Mainland Southeast Asia, 700 BC-AD 500, in trong Ian Glover, Pornchai Suchita, John Villiers (cb), Early Metallurgy, Trade and Urban Centres in Thailand and Southeast Asia 13 Archaeological Essays, Whitle Lotus, Bangkok

Bellwood Peter (2005), FIRST FARMERS – the Origins of Agricultural Societies. Blackwell Publishing Ltd.

Jim Grant, Sam Gorin và Neil Fleming (2008) The Archaeology Coursebook An introduction to themes, sites, methods and skills, in lần thứ ba, Routledge.

 

VỀ TÁC GIẢ

Lâm Thị Mỹ Dung. Tiến sĩ Khảo cổ học (Đại học Tổng hợp Kliment Okhridski, Sofia, Bulgaria, 1987), Giáo sư, giảng viên cao cấp, Trưởng Bộ môn Khảo cổ học, Giám đốc Bảo tàng Nhân học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Các hướng nghiên cứu chính: Thời đại Kim khí Việt Nam, Khảo cổ học Đông Nam Á thời Tiền và Sơ sử, Khảo cổ học Champa, Lý thuyết và Phương pháp Khảo cổ học, Khảo cổ học Cộng đồng, Di sản học, Lý thuyết và Phương pháp Văn hóa học.

 

 



[1]Lâm Thị Mỹ Dung 2019, Trường phái Xô-viết trong Khảo cổ học Việt Nam, in trong Nguyễn Văn Sửu (cb), Ảnh hưởng của Trường phái Xô-viết trong Nhân học Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr.134-148