Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

TẾT ÔNG TÁO - TRUYỀN THUYẾT VÀ NGHI LỄ

TRUYỀN THUYẾT VỀ TÁO QUÂN


Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.

Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.

Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc:

- Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
-Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần
- Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt. Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba. Và nhân dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm "lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo lên chầu Trời"... Đây rất có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác. Ví như ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là "Táo thần", "Táo vương", "ông Táo") đã được coi là một trong bảy vị thần đất được toàn dân cúng lễ. Nhưng nguồn gốc của Táo quân thì không nhất quán. Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp. Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa. Còn sách Tây Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi...
 
Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu); sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp. Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo; đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp "ăn" để bay và chở vua lên trời - khác với Táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời).

Tại sao ông Táo lại cưỡi cá chép về trời mà không phải các con vật khác?

Phong tục của người Việt, ngày 23 tháng chạp, nhà nào cũng tiễn ông Táo lên chầu trời. Trên bàn thờ có ba chiếc mũ mới bằng giấy: một màu vàng ở giữa, hai màu đen ở hai bên - tức hai ông, một bà - không có cỗ mặn, chỉ cúng hương hoa, sau có 3 con cá chép đang bơi trong chậu thau. 3 con cá chép có ý nghĩa làm "ngựa" để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông...

Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.

Ngày 23 Tết, các bà nội trợ của mỗi gia đình đã xách túi ra chợ chuẩn bị cho mâm cỗ cúng Táo quân. Một thứ không thể thiếu trong buổi đi chợ sáng nay là cá chép.


Cá Chép Vàng hay còn gọi là (Cá Chép Tiên) là một loài động vật sống ở trên Thiên Đình, hồi trước sống trên trời, do phạm phải lỗi, nên bị Thượng Đế đày xuống trần gian để Tu Hành để chuộc lại tội lỗi của mình gây ra. Sau khi Tu Hành có chính quả, thì cá Chép sẽ hóa thân thành rồng và bay lên Trời. Còn Ông Táo là do Thượng Đế phái xuống trần tục để theo dõi loài người, xem ai là người Thiện, người Ác.

Sau đó Ông Táo bay về Thiên Đình để tâu lên Thượng Đế những việc ở dưới trần gian Nhưng mà muốn bay lên Trời , thì Ông Táo phải nhờ đến cá Chép mới lên được.


Làm lễ cúng ông Công ông Táo tùy nếp từng nhà nhưng mâm cúng thường bao gồm:

- "Phục trang" của ông Công ông Táo.

- Ba con cá chép vàng (loại nhỏ để cúng), nhớ để vào cái bình cao cao kẻo cá nhảy ra ngoài. Tuy nhiên có nhà không cần cá sống vì đã có cá chép giấy thường bán kèm trong túi "phục trang". Nhà nào gần ao hồ, sông suối thì nên mua cá sống, cúng xong thì đem thả (nếu nhà có trẻ con, cho các cháu đi thả cá và giảng giải cho các cháu biết phong tục thì rất hay). Thả cá xong, xin nhớ đừng vứt túi ni-lông xuống sông hồ kẻo coi như là không những không được phúc phóng sinh mà còn bị vướng vào nghiệp sát sinh.

- Thịt lợn luộc: 1 miếng, thịt vai gáy. Nên đi chợ sớm mua thì được thịt tươi ngon


- Một món canh: canh măng với xương.

- Một món xào có rau.

- Một đĩa muối.

- Hoa quả vàng mã.

*Lập riêng bàn thờ cúng tiễn Táo Quân ở khu vực nhà bếp.

VĂN KHẤN LỄ ÔNG TÁO CHẦU TRỜI


Nam mô A Di Đà Phật!
Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân !
Tín chủ con là:.............
Ngụ tại:.......................


Nhằm ngày 23 tháng Chạp , tín chủ chúng con thành tâm , sửa biện hương hoa phẩm vật , xiêm hài áo mũ , nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén Tâm Hương dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời :

Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám.



Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái.


Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.



Nguyễn Xuân Diện sưu tầm.


Ghi chú:

Thưa chưa vị,


1. Nếu chư vị vẫn muốn đặt bàn thờ Ông Táo ở khu vực bàn thờ gia tiên thì cũng được, nhưng phải làm thành một mâm riêng, phân biệt mâm cúng gia tiên.


2. Sau ngày 23 tháng Chạp, thì các gia đình có thể tiến hành dọn bàn thờ (quét, đánh bóng các đồ thờ bằng đồng, lau rửa bát hương...), tỉa chân hương, hoặc thậm chí bỏ hết chân hương cũ. Nếu thay bát hương hoặc bàn thờ, xin đem đốt hoặc thả xuống sông lớn.


3. Ngày tiễn ông Táo, nhà nhà đều cúng bái, đốt hương, hóa mã...vậy xin bà con hết sức cảnh giác để tránh hỏa hoạn cho nhà mình và nhà hàng xóm. Vàng hương khi đốt xong, cần gom lại cho sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh cho môi trường.


4. Nếu nhà có trẻ con, nên giảng giải cho các cháu bé hiểu biết về phong tục cúng ông Táo.


Tốt hơn ta nên bỏ tục hóa vàng, mã và quan trọng nhất hãy sống tử tế không chỉ trong năm tới mà trong cả cuộc đời!

Gốm Việt VS Gốm Tàu

Mình có thú vui đi ngắm đồ gốm bán vỉa hè dịp tết. Mấy năm nay dọc các đường gần nhà mình như Láng, Hoàng Quốc Việt cứ từ ngoài 20 tháng chạp là hàng gốm Việt từ nhiều nơi đổ về bầy la liệt trên vỉa hè.
Tất nhên, xem gốm cách tốt nhất là tới những nơi sản xuất, nhưng dự định nhiều lần mà chả mấy khi đi được và có đi đôi khi lại loanh quanh ra bờ ra bụi để xem có phế phẩm hay hay nào thợ gốm vứt đi không (mấy năm trước dẫn sinh viên đi thực tế Bát Tràng mình tăm được mấy đồ men hỏng méo mó trông lạ nên hay tưởng bở về phế phẩm). Vì vụ phế phẩm này mẹ đã nhận xét: "Sao chỉ thích những thứ hỏng méo thế hả con"! Hic, tròn trịa, nghiêm ngắn trông cứ vô hồn thế nào ấy, vậy nên!
Chỉ hơi buồn là gốm Bát Tràng, Hương Canh, Phù Lãng hiện đại hay gốm à la những thương hiệu này hồn vía, cá tính 10 phần đã mất 9. Gốm bày bán chợ tết quanh đi quẩn lại cũng chỉ vài chủng loại.
Đồ đất nung đỏ cứng và đồ sành bên cạnh số ít chum vại để mộc còn hơi hướng đồng quê thì đa phần được đắp, vá đủ loại hình thù quái dị, nhìn chúng lại nhớ áo dài thổ cẩm "Đông Tây Y Tử vi, Thầy cúng kết hợp" của NTK nổi đình đám một thời Minh Hạnh (cũng là người có "sáng kiến" đưa nguyên cả mặt trống đồng Đông Sơn lên tạp dề của tiếp viên hàng không Việt Nam). 
Đồ sứ mấy năm nay được sơn phết những gam màu mạnh đến nóng cả người. Cả một đoàn quân bình lọ rực màu đỏ, vàng với các chủng loại từ uốn éo, vẹo vọ đến loe tứ bề...  Năm nay có thêm một loại hình bình cổ vươn, trông rất giống tay của NSƯT Lê Vi trong điệu múa "Chim công".
Tuy nhiên, trong đoàn quân đẹp đều  tăm tắp ấy, đôi khi cũng có vài bình lọ lạc kiểu. Đi lang thang mà tia được những em gốm này thì sướng vô cùng. 
Gốm Việt đẹp thế mà sao ở Hà Nội nhan nhản những chợ gốm Giang Tây?

Chợ gốm xưa (ảnh lấy từ Internet)

Chợ gốm nay (ảnh lấy từ Internet)

 Mỗi em mỗi vẻ

Và gốm yêu của mình

 Lọ này mua từ năm 2008
Đôi này vừa tăm hôm nay

Lọ này mua dịp tết năm ngoái

Thích nhất là những chấm hoa trên bình

Mua bình này chỉ vì những hoa văn mắt lồng
Nhìn lọ này nhớ lời Thầy dạy về mối quan hệ giữa hình dáng đồ gốm với gu về vẻ đẹp của đàn bà
Yêu mỗi cái cổ

Đồ gốm Giang Tây (Tàu) nhan nhản khắp nơi, xanh đỏ tím vàng.  



Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Bước chân năm tháng đi về

Một trong những con đường lâu đời nhất Hà Nội nhưng lại mới chỉ có tên chính thức ba mươi năm nay là đường Nguyễn Trãi. Con đường này mới chỉ được đặt tên từ năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 500 năm ngày sinh của vị danh nhân thế giới. Thời Pháp thì Hà Nội đã có phố Nguyễn Trãi là con phố nhỏ bên cạnh chợ Hàng Da, từ tháng 6.1964, được đổi tên là phố Nguyễn Văn Tố. Vậy là Nguyễn Trãi cũng được đặt tên cho con đường như hiện có khá muộn mằn. Con đường này dài khoảng 4km từ Ngã Tư Sở đến Hà Đông nằm trên trục đường Quốc lộ 6 đi tỉnh Hà Tây cũ, lên Thủy điện Hòa Bình và còn lên Tây Bắc nữa, từng là con đường rộng nhất Hà Nội, đi qua khu công nghiệp cũng lớn nhất Hà Nội thời xưa, chạy qua năm bảy trường đại học.

Còn đâu nữa biểu tượng của nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa. Mỗi lần đi qua đây để đến Trường mình lại nhớ câu chuyện Bác Hồ dạy về viết chữ Việt phải có dấu. Nay nhà máy đã bị phá tan để xây công trình biểu tượng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa!

Có thể nói đường Nguyễn Trãi là đường của đủ mọi loại người, từ những anh thợ máy cơ khí Công cụ số 1, chị thợ giày Thượng Đình cho đến sinh viên Kiến trúc, Tổng hợp, từ dân khu làng xóm Nhân Mục đến cán bộ ở nhà tập thể Thanh Xuân, từ người đi xe hơi, xe đạp đến xe bus, xe điện… Bộ mặt của con đường lúc nào cũng nhôm nhoam, cũng bụi mù tăm tít. Con đường ấy như trong bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai của Trần Văn Thủy, được liên tưởng với thân phận những dân đen con đỏ mà Nguyễn Trãi vẫn nhắc đến trong văn chương của mình. Đấy là con đường mưu sinh, của anh xe thồ, chị nhà quê chạy chợ từ những huyện phên giậu xưa của Hà Nội thuộc vùng Hà Đông trù phú. Vào những thế kỷ trước, đây là con đường lai kinh ứng thí của bao sĩ tử trấn Sơn Nam, từng được kể tới trong Thượng kinh ký sự của Lãn Ông Lê Hữu Trác. Khi ấy, Lãn Ông đi đến Thịnh Liệt rồi vòng lên làng Nhân Mục, theo cầu Triều Khúc qua đường Nguyễn Trãi ngày nay để lên Kẻ Chợ.

Dãy nhà tập thể với tầng 1 thành khu quán xá gần Trường Tổng hợp cũ nay là Đại học KHTN và ĐH KHXHNV. Mất mát lớn nhất khi lập Đại học Quốc gia chính là mất thương hiệu Đại học Tổng hợp Hà Nội!

Đường Nguyễn Trãi chạy theo hướng hơi chếch Tây Nam – Đông Bắc, nối nội thành với phía Tây, có cái tiện là phân làn xe thô sơ tách hẳn ra ở hai bên bằng hàng cây xà cừ phía Bắc và dải phân cách phía Nam. Có lẽ đường Nguyễn Trãi khi được cải tạo vào thời Thủy điện Hòa Bình là công trình chi phối nguồn lực xã hội miền Bắc đã là đường đầu tiên ở Hà Nội phân làn rõ rệt thế. Gọi là tiện bởi vì người đi xe đạp ở con đường này xem ra vẫn là đông nhất ở Hà Nội bây giờ, dù càng ngày lượng xe máy càng áp đảo. Làn xe thô sơ phía Bắc trước đây vốn là đường tàu điện đã bị gỡ đi gần 20 năm nay. Nhưng phân làn vậy, chứ sểnh ra tí là người ta rẽ luôn ra đường ngoài, vừa láng hơn, ít ổ gà hơn, mà lại đỡ ấm ách cảnh phân biệt đối xử!

Có cái tiện thì cũng có cái dở. Các nhà quy hoạch mãi đến gần đây mới làm thêm được đường Láng-Hòa Lạc song song với đường Nguyễn Trãi, nhưng vì cách nhau đến gần hai cây số nên vẫn không giảm được mấy tính chất độc đạo của đường này. Thêm nữa là tất cả các công trình, cơ quan cho đến mấy khu tập thể lớn đều bám theo mặt đường chứ không phát triển chiều sâu và mật độ đường nhánh cũng thưa. Vì thế đến giờ để từ Hà Nội vào Hà Đông cũng vẫn phải đi theo lộ trình của nhiều thế kỷ trước.

Mặc dù nói là con đường cổ, nhưng cũng khó nhìn thấy di tích hay dấu vết cổ nào hai bên đường. Lý do dễ hiểu là làng xóm xưa kia thường nằm ở cách xa đường, được bao bọc bởi những lũy tre dày và một cánh đồng rộng. Những ngôi đình làng hay chùa chiền nằm ở trong làng, vì thế sau thời kỳ đô thị hóa, những làng xóm này nằm khuất sau những dãy phố bê tông san sát nên không thấy cái mái chùa nào hiện ra mặt đường. Đây cũng là đất đồng bằng nên không có một điểm cao nào vượt lên, cũng không có sông ngòi nào cắt ngang qua đường. Ở hai đầu mút con đường là hai con sông nổi tiếng: sông Tô Lịch và sông Nhuệ. Một thời chúng là hai con sông huyết mạch chia nước sông Hồng, nhưng giờ gần như là sông chết.

Những con đường cửa ngõ thường là nơi tập kết xe khách, những người nhỡ độ đường và giang hồ tứ xứ. Những chỗ giáp ranh vốn dễ cho đám người ăn gió nằm sương ẩn hiện. Ngày xưa khi phường cô đầu Khâm Thiên quá tải, người ta đẻ thêm xóm nữa ở Thái Hà Ấp, rồi lan ra tới Ngã Tư Sở và Cầu Mới, là khu đầu đường Nguyễn Trãi ngày nay. Những cái “nhà trò” này có giống như một loại karaoke đèn mờ hay không thì không biết, nhưng những cô gái đợi khách dọc đường đoạn này cứ như ma, sau các gốc cây xà cừ trước đường vào ký túc xá Mễ Trì của ĐH Quốc gia, và nổi tiếng nhất là đường bê tông Thanh Xuân.

Bùng binh lớn nhất Việt Nam - Đặc sản của đường Nguyễn Trãi. Lúc cao điểm hay không cao điểm, đây luôn luôn là nơi người và xe tranh nhau từng mm đường và chả biết đi thế nào cho đúng luật!

Tôi có một đứa cháu họ xa, nhà ở Hà Đông, nói như ngôn ngữ viết tường trình là do hoàn cảnh xô đẩy, đã kiếm sống bằng cái nghề ấy ở đường bê tông Thanh Xuân một dạo. Rồi nó bị bắt vì tội lừa một vị khách, và bị đăng lên báo Công An. Đại để là họ hàng cũng chẳng sốc gì lắm, ở một vùng quê giáp ranh đã quen với khối sự nhôm nhoam và lộn xộn của đô thị hóa. Rồi cũng nhẹ nhàng như chuyện nó đi đứng đường, nó lấy chính cái anh công an làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội và ma túy đã làm việc với nó. Cứ như phim Mỹ vậy. Anh này quê ở một tỉnh miền núi Tây Bắc, đã có một đời vợ, con thì đã lớn. Cô dâu thì có nhan sắc lại trẻ trung, chú rể hơn bố vợ hai tuổi, kể cũng hơi ngại ngần cho bà con khi phải xưng hô, nhưng thử hỏi có kết cục nào ngọt hơn thế! Nó mang tiền về nhà, đi xe Vespa GTX hồng ánh nhũ ngay từ hồi xe ấy hãy còn đắt đầu bảng, rồi xây nhà cho bố, lần nào về cũng có đồng quà tấm bánh cho ông bà. Con đường tình ta đi cũng có hậu ra phết đấy chứ!

Đường bê tông này nay đã được mở rộng rồi đặt tên là Khuất Duy Tiến, nằm trên trục vành đai 3, cắt ngang đường Nguyễn Trãi bằng một ngã tư mênh mông, nên đất ẩn náu của các cô cũng không còn. Đứa cháu tôi giờ có muốn quay lại nghề cũ cũng hơi khó! Con đường Nguyễn Trãi là nơi có bến xe Sơn La, nơi các chuyến xe từ miền ngược đổ khách xuống đây, từ những vùng nóng về ma túy, nơi các anh chị đao búa móc nối trước khi triển khai kế hoạch làm ăn mới. Nhưng cũng oái oăm, xen kẽ với những thứ nhem nhuốc ấy là những trường đại học lớn của Việt Nam, những khu ký túc xá đông đặc, những dãy phố sinh viên chen chúc các quán cà phê rẻ tiền và hiệu cầm đồ. Con đường Nguyễn Trãi cùng những phố Lương Thế Vinh, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… chưa bao giờ có vẻ thơ mộng để làm nên cho những mối tình sinh viên. Lúc nào cũng chỉ thấy những dãy quán nước tạm bợ, những cậu cử tương lai ngồi vêu mặt bùng tiết. Cái con đường và khung cảnh đã tạo nên phong cách sinh viên rất đặc trưng như thế.

Các khu tập thể ở khu Thanh Xuân Bắc và Nam một thời cũng là những mô hình thí điểm áp dụng công nghệ xây dựng mới, bê tông tấm lớn và có chức năng dịch vụ tổng hợp nội bộ. Dọc đường này là những trụ sở các cơ quan ngành xây dựng, rồi trường Đại học Kiến trúc trứ danh như là điểm kết thúc cho con đường Nguyễn Trãi ở địa chỉ cũng rất mơ hồ: Km9. Đến đây phải giải thích cho rõ: Ngày xưa quốc lộ 6 kể từ chỗ bắt đầu là Giám (tức vườn hoa Giám ở cạnh Văn Miếu) đến cửa bưu điện Hà Đông là 11 cây số, mà con đường Nguyễn Trãi chiếm đoạn cuối. Do đó các cơ quan trên đường này đều lấy mốc là Km8, Km9… Đi qua trường Kiến trúc là sang đất tỉnh khác, tức tỉnh Hà Sơn Bình hay Hà Tây ngày trước.

Trường Kiến trúc ban đầu là một công trình liên hợp những dãy nhà ba tầng kiểu hành lang bên song song với nhau. Sau này vào năm 1994, người ta cải tạo lại thành khép kín và có một mặt tiền khá hoành tráng với ngôn ngữ kiến trúc biểu hiện, có mái dốc dán ngói và phù điêu chạy trước mặt tiền. Để chuyển tiếp với con đường Nguyễn Trãi trước mặt, kiến trúc sư đã thiết kế một cổng giả, lấy lại hình ảnh cổng làng Bắc Bộ với vài cây cau, tiểu cảnh đá và mặt nước. Nhưng không biết thực hư thế nào, khi hai vị hiệu trưởng đều qua đời khi đương nhiệm, đến vị thứ ba thì lâm bệnh nặng, mới có người nói, cái cổng đó đón con đường Ao Sen đâm thẳng trước mặt dẫn vào sảnh, mà phòng hiệu trưởng lại ở ngay sảnh vào. Như thế là phong thủy không tốt, ban giám hiệu liệu mà sửa đi. Rồi như bây giờ ai cũng có thể thấy, cổng mới của trường ở cách đó hơn trăm mét. Và tất nhiên, cái cổng giả kia đã bị phá đi. Vị hiệu trưởng tất nhiên là còn sống (có thế mới thành chuyện). Hàng rào đã được xây để bịt lại và cây xanh đã mọc kín như hiện nay. Ai qua đường Nguyễn Trãi ngày nay, sẽ không còn thấy dấu vết gì về một cổng trường cũ, chỉ còn những kiến trúc sư tương lai đứng ngồi đợi xe bus…

Nguyễn Trương Quý


Mượn bài này vì đây cũng là con đường mấy chục năm nay vòng xe của mình cứ lăn bánh hoài hoài.  Ảnh bổ sung vào bài viết lấy từ Internet và lời chú ảnh là của mình


Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Vĩnh biệt GS.VS. Đào Thế Tuấn

Vĩnh biệt GS-VS, anh hùng nông học Đào Thế Tuấn
Tác giả: Vũ Trọng Bình

(VEF) - 11h 30 ngày 19 tháng một năm 2011, Giáo sư - Viện sĩ (GS-VS) Đào Thế Tuấn, nhà nghiên cứu đầu ngành về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã ra đi. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của ông đã trở thành sách giáo khoa, cẩm nang của giới khoa học nông nghiệp nước nhà.

GS-VS Đào Thế Tuấn sinh ngày 4/7/1931 tại TP. Huế, nguyên quán ở Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Ông là con trai cả của cụ Đào Duy Anh, một trong số ít nhân vật Việt Nam được ghi tên vào bộ từ điển Larousse với tư cách là một nhà bách khoa toàn thư của thời hiện đại.

GS-VS là một trong 50 cán bộ đầu tiên được cử đi đào tạo về nông nghiệp và đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại Liên xô cũ.

Với hàng trăm công trình nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp, nông thôn, GS-VS Đào Thế Tuấn đã có nhữn đóng góp vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.

Ông rất thành công với nghiên cứu về sinh thái nông nghiệp, sinh lí cây lúa, và là người có công trong việc chuyển đổi mùa vụ sản xuất nông nghiệp những năm 70 và 80 của thế kỉ XX. Năm 1983, ông đã đưa Bộ môn Hệ thống nông nghiệp vào Việt Nam, hình thành một lĩnh vực nghiên cứu mới trong phát triển nông nghiệp bền vững, bao gồm hệ sinh thái và hệ thống kinh tế - xã hội ở các vùng khác nhau.

GS-VS Đào Thế Tuấn luôn luôn tâm huyết, cống hết hết mình vì nền nông nghiệp và sự nghiệp phát triển nông thôn VN (ảnh TT&VH)

Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, GS-VS Đào Thế Tuấn đã có nhiều công trình nghiên cứu về chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, phát triển nông thôn.

Năm 2006, khi đã nghỉ hưu, GS-VS vẫn miệt mài cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững; xây dựng các mô hình để mô phỏng sự phát triển, đặt cơ sở cho việc phát triển phương pháp nghiên cứu mới và tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường để giúp nông dân giải quyết khó khăn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế hộ. Ông có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết vào đề án Tam nông do Bộ NN&PTNT triển khai.

Trong cuộc đời mình, GS-VS Đào Thế Tuấn đã gửi đi đào tạo nước ngoài được một đội ngũ đông đảo các cán bộ nghiên cứu đầu ngành về hệ thống nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam. Nhiểu cán bộ đang giữ các trọng trách lãnh đạo các Viện nghiên cứu đầu ngành ở nước ta.

Với những nỗ lực và đóng góp không mệt mỏi, GS-VS Đào Thế Tuấn đã được nhận Huân chương Công trạng nông nghiệp và Huân chương cành cọ Hàn lâm của Pháp (1991). Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô (1985). Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển (2003).

Tháng 9/2000, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Tháng 7/2009, ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vì đã có những cống hiến trong nông nghiệp.

Cuộc đời nghiên cứu khoa học của Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn, là một tấm gương mẫu mực của một nhà khoa học chân chính, say mê nghiên cứu đến hơi thở cuối cùng.

Tang lễ GS-VS Đào thế Tuấn sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tôn Hà Nội. Lễ viếng bắt đầu từ 11h30 đến 13h30 ngày 22/1/2011. Lễ truy điệu vào hồi 13h30 cùng ngày tại Nhà hóa thân hoàn vũ Văn Điển.



GS.VS. Đào Thế Tuấn còn là một trong rất ít nhà nông học quan tâm nghiên cứu lịch sử cây lúa nước. Nhớ những ngày nắng đổ lửa tháng 5 năm 2010 ông vẫn tới công trường khai quật Thành Dền của chúng tôi để mục sở thị những dấu tích liên quan đến lúa nước thời Tiền Đông Sơn. Những nghiên cứu của ông về lúa tìm thấy trong các địa điểm khảo cổ học Xóm Trại, Đồng Đậu... đã thực sự giúp ích rất nhiều cho các nhà khảo cổ Việt Nam và quốc tế và những nghiên cứu của ông hợp tác với GS. Trần Quốc Vượng, GS. Hà Văn Tấn... đã thúc đẩy sự hợp tác liên ngành giữa khảo cổ học với nhiều ngành khoa học khác.
Những cây đại thụ của nền khoa học nước nhà cứ lần lượt về cõi vĩnh hằng để lại những khoảng trống không thể lấp đầy.


GS.VS. Đào Thế Tuấn thăm đại bản doanh của đoàn khai quật Thành Dền 5.2010

GS.VS. Đào Thế Tuấn tại buổi tọa đàm bàn tròn về lúa khảo cổ Thành Dền ở Viện Di truyền






























Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

Đèn lồng đỏ treo cao

Bữa nọ đi Đông Triều thấy phố xá rực màu đỏ của băng rôn, biểu ngữ chào mừng Đại hội Đảng CSVN lần thứ XI. Màu đỏ giờ là màu ưa chuộng nhất của ta, đi đâu cũng thấy, cũng gặp.

Màu đỏ là biểu trưng của vô số thứ trong văn hóa Việt Nam cổ truyền và hiện đại. Có những biểu trưng thực sự mang tính dân tộc hay cách mạng. Nhưng cũng có những biểu trưng mà theo mình không thể để chúng tràn lan một cách có ý thức và vô thức trong văn hóa Việt Nam hôm nay.

Ý mình là về những chiếc đèn lồng màu đỏ của Tàu đang ngập tràn nhiều nơi

Treo đèn lồng màu đỏ là phong tục của người Tàu trong dịp năm mới

Việt Nam dù có những nét văn hóa tương đồng với văn hóa Trung Quốc thì cũng chưa bao giờ là Trung Quốc. Tết cổ truyền Việt Nam có những biểu trưng màu, hoa, ẩm thực... riêng và độc đáo, sao không phát huy mà cứ nhắm mắt mua đủ thứ hàng thứ cấp của Tàu đem về trưng la liệt.

Cái này phải gọi là "giúp Tây triệt Ta" đây.

Hàng Việt theo cách này đã, đang và sẽ bị hàng Tàu đè cho tan nát.

Và vấn đề không chỉ là hàng hóa!

Các nhà quản lý văn hóá cấp TW và Địa phương đi đâu hết rồi.


Chùm ảnh chụp đèn đỏ treo trên phố xá và nhà hàng ở Đông Triều 





Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Chuyện Chủ nhật 7 - Tiếc thương người thầy tuyệt vời

TT - Không phải chính khách cũng không phải người nổi tiếng, nhưng đám tang thầy Phạm Phú Quý, hiệu trưởng Trường tiểu học Cách Mạng Tháng Tám (Q.Tân Bình, TP.HCM), đã gây xôn xao cả đoạn đường dài.


Rất đông giáo viên, cán bộ ngành giáo dục, học sinh và cả phụ huynh đến đưa tiễn người thầy “Hiền lắm, tốt lắm. Tất cả những gì tốt đẹp nhất thầy đều dành cho học sinh” (câu nói mà chúng tôi nghe được nhiều nhất từ những người dự đám tang).



“Buổi trưa 13-1, khi nhà trường thông báo thầy mất và gõ ba hồi trống tưởng nhớ, cả trường từ giáo viên đến học sinh, phụ huynh đều khóc. Ai ngờ người tốt như thầy lại mất sớm thế. Thầy mới 49 tuổi thôi mà. Cách đây mấy hôm thầy vẫn còn xoa đầu con trai tôi và nói: ốm quá, phải ăn nhiều vô” - bà Lệ Hằng, phụ huynh lớp 2/4, nghẹn ngào.


“Bữa đó thằng cu Nguyên nhà tôi khóc, lau nước mắt hết cả bịch khăn giấy. Rồi cứ nhất định đòi đưa tiễn thầy xuống tận Củ Chi” - bà Hằng kể thêm.


14g30 ngày 15-1, khi chiếc xe tang từ từ đỗ trước cổng Trường Cách Mạng Tháng Tám, hơn 300 phụ huynh, học sinh nhào ra đường, vỡ òa.


“Bây giờ nhiều trường rất ngại nhận học sinh ở các mái ấm, chứ thầy Quý thì nhận hết. Gia đình thầy phải đi ở nhà thuê nhưng thầy vẫn thường bỏ tiền túi mua sách vở tặng học sinh nghèo. Có bữa thầy phải ăn mì gói nhưng năm nào cũng dạy kèm môn toán cho học sinh lớp 5 trước khi kiểm tra học kỳ 2. Thầy dạy mà không lấy tiền của học sinh. Hội cha mẹ học sinh gửi thù lao thầy cũng không nhận. Sau giờ làm việc, thầy phải dạy thêm môn toán cho học sinh THCS đến 23g để có thêm tiền giúp đỡ gia đình” - ông Lê Hùng, trưởng ban đại diện cha mẹ học sinh Trường Cách Mạng Tháng Tám, kể.


“Thầy khó khăn thế mà khi biết một giáo viên bị mất xe thầy đã gửi ít tiền giúp đỡ. Thầy ơi, thầy tốt thế sao thầy lại ra đi...” - một giáo viên Trường Cách Mạng Tháng Tám nói trong tiếng nấc, cô xúc động đến mức không nói được tên mình...


Trước giờ động quan, mọi người đặc biệt chú ý đến một cậu bé người nước ngoài tên John, đi cùng bố mẹ đến thắp nhang cho thầy, nhưng thắp nhang xong cậu cứ nấn ná ở lại, không chịu bước ra ngoài. Được mẹ cho phép, cậu chạy đến ôm lấy quan tài thầy giáo.


Chị Princess Kennedy, mẹ bé John, vừa kể vừa ứa nước mắt: “Mình là người Mỹ gốc Việt, sau nhiều năm sống ở Mỹ, đến khi về Việt Nam thì John đã đến tuổi vào lớp 1. Muốn con mình phải được học tiếng mẹ đẻ nhưng gõ cửa trường công lập nào cũng từ chối với lý do John không biết tiếng Việt. Đến khi gặp thầy Quý, thầy bảo: “Không có vấn đề gì. Con nít phải được đến trường, bất kể quốc tịch nào”.


Anh Edward, chồng tôi, kể những lúc anh đến trường vào giờ ra chơi cũng thấy thầy nói chuyện hoặc chơi đùa rất thân thiện với học sinh. Từ bữa thầy mất, John rất buồn, cứ nhắc mãi mong muốn của mình “con muốn thầy sống lại để mỗi ngày đến trường được thầy ôm hôn”.


Chồng tôi bảo chưa bao giờ anh thấy một người thầy tuyệt vời như vậy, cứ sáng sáng đứng ngoài cổng trường đón và xoa đầu từng học sinh, giờ ra về thì đứng dưới cầu thang nhắc nhở các em không chạy kẻo bị ngã. Có bữa thầy còn đích thân cùng với thầy phụ trách Đội làm lá chắn cho học sinh qua đường an toàn”.


Thầy Phạm Phú Quý sinh ngày 30-10-1962, là hiệu trưởng Trường tiểu học Cách Mạng Tháng Tám (P.12, Q.Tân Bình, TP.HCM). Thầy bị bệnh từ ngày 7-1, vì lo công việc cuối học kỳ 1 nên vẫn cố gắng đến trường.

Đến ngày 11-1 bệnh trở nặng, lúc 22g30 gia đình đưa thầy vào Bệnh viện Phú Thọ. Sáng 12-1 thầy được chuyển viện sang Bệnh viện Bệnh nhiệt đới. Do bệnh diễn biến quá nặng nên dù được tập thể y bác sĩ Bệnh viện Bệnh nhiệt đới hết sức cứu chữa nhưng thầy đã từ trần vào ngày 13-1.

Thầy Quý là một trong mười hiệu trưởng tiêu biểu của TP.HCM năm học 2009-2010 do Sở GD-ĐT TP bình chọn.

HOÀNG HƯƠNG
http://tuoitre.vn/Giao-duc/420726/Tiec-thuong-nguoi-thay-tuyet-voi.html

Một tấm gương sáng, một người thầy vĩ đại.
Xin nghiêng mình vĩnh biệt người thầy giáo - người đồng nghiệp đáng kính.

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

Reading the Past (Đọc quá khứ) Ian Hodder (Phần 7)

Current Approaches to Interpretation in Archaeology.
Second Edition. Cambridge University Press 1991.
Prof. Ian Hodder

Bản dịch của TS. Hà Hữu Nga (Hà Nội năm 2005) (số trang đánh trong bài dịch đồng thời cũng là số trang của bản gốc)

Khảo cổ học và Lịch sử

(Tr. 80) Chương này sẽ tập trung vào vấn đề KCH nên tái dựng lại mối gắn bó truyền thống với lịch sử (Deetz 1988; Young 1988). Nhưng không may là thuật ngữ “lịch sử” lại mang những ý nghĩa rất khác nhau đối với những con người khác nhau. Nhưng trước hết cần phải xác định những gì mà ý tôi muốn nói và muốn nói bằng thuật ngữ đó trong cuốn sách này. Tôi không có ý định lý giải sự thay đổi bằng việc qui chiếu vào những sự kiện về trước; nếu chỉ là việc mô tả một loạt sự kiện để hướng câu chuyện tới một điểm thời gian nào đó thì chỉ là một trò nhại lại phương pháp lịch sử mà thôi. Ý tôi cũng không phải là giai đoạn n thì phụ thuộc vào giai đoạn n-1. Có nhiều loại KCH bao hàm cả những chiều kích như vậy. Vì vậy nhiều lý thuyết tiến hoá xã hội hy vọng vào một sự phụ thuộc nào đó trong các chuyển đổi giữa các nhóm, các bộ lạc, các vùng hoặc các nhà nước, hoặc vào việc phát triển (Woodburn 1980). Khi sử dụng các lý lẽ Darwinian ấy, thì việc chọn lọc một hình thức xã hội phải được giới hạn bởi sự tồn tại của “vốn-gene”. Trong lý thuyết các hệ thống thì “quĩ đạo” của một hệ thống phụ thuộc vào những điều kiện có trước và vào các trạng thái của hệ thống. Mỗi quĩ đạo có thể là duy nhất về phương diện lịch sử và riêng biệt về nội dung, nhưng lại có thể áp dụng các qui luật vận hành hệ thống phổ quát. Đối với chủ nghĩa Marxism việc giải quyết mâu thuẫn và xung đột đã xuất hiện trong hệ thống có trước, như là một bộ phận của quá trình biện chứng của lịch sử.

Lịch sử trong toàn bộ các công trình ấy, đều có một phương đặc thù luận, nhưng nó cũng tham gia vào việc lý giải sự vận động từ thời đoạn n-1 đến n dựa trên một tập hợp các qui luật phổ quát. Vậy là sử gia chỉ còn biết đứng ngoài cuộc các sự kiện, như một nhà khoa học tự nhiên ghi chép các dữ liệu thực nghiệm vậy. Nhưng lịch sử lại can dự vào việc trở thành trong cuộc của các sự kiện, trong những ý định và khái niệm mà các chủ thể tính của các tác nhân hành động được tạo thành. Sử gia kể về các “hành động”, chứ không phải là hành vi, vận động, hoặc các sự kiện. Collingwood (1946: 213) đã đưa ra một ví dụ. Các sử gia không chỉ ghi rằng Caesar đã vượt qua con sông có tên là Rubicon vào một ngày nào đó – mà họ còn kể về sự thách thức của Caesar đối với luật pháp của Cộng hoà La Mã.

(Tr.81) Cuốn sách này bắt đầu với câu hỏi làm thế nào để chúng ta có thể nắm bắt được ý nghĩa của văn hoá quá khứ? Chúng ta đã đi tới, rồi lại đi lui trong khuôn khổ duy vật luận. Rốt cuộc, cốt lõi của các công trình phục hồi quá khứ ấy là một cái “ism” bất kỳ nào đó nhưng ý nghĩa văn hoá của nó thì mới chỉ phát triển rất èo uột. Trong cách tiếp cận hệ thống – quá trình duy vật luận, người ta cho rằng mộ táng là để phô bày xã hội khiến cho những chuẩn mực táng thức luôn luôn phản ánh sự ganh đua vị thế (Tr. 25). Để lý giải chức năng của các mộ táng theo cách này, chúng ta cần phải đưa ra một số định đề về những gì có ý nghĩa đối với con người thời đó. Tương tự như vậy, một chiếc mũ đội đầu có thể chỉ để ghi dấu về vị thế quan hệ (Tr. 25) để những người có liên quan hiểu được ý nghĩa của các hiện vật đó. Cũng có thể phản bác lại rằng dù các hiện vật ấy có những ý nghĩa bất kỳ nào đó thì chúng vẫn thể hiện những chức năng. Nhưng khó mà nhận ra được một hiện vật có thể có những chức năng xã hội như thế nào (chẳng hạn như mộ táng là để phô bày về phương diện xã hội), nếu việc gán ý nghĩa không phù hợp với chức năng đó (chẳng hạn như khi chết mà tích luỹ của cải thì bị coi là “bẩn” hoặc “không văn hoá”).

Kết quả của việc tiếp cận còn thiếu đối với ý nghĩa ấy khiến ta phải quay trở lại chương 3 với cấu trúc luận, nhưng ở đây rõ ràng là nội dung ý nghĩa thường được áp đặt một cách bất cẩn. Các đơn vị phân tích được xác định một cách tiên thiên, các biểu tượng được gán ý nghĩa (đàn ông hay đàn bà chẳng hạn) và những vật bất đối xứng thì được lý giải (là có tính chất “hữu cơ” chẳng hạn). Tự thân phương pháp cấu trúc luận đưa lại cho chúng ta một số gợi ý chẳng hạn như làm thế nào mà người ta có thể phục dựng ý nghĩa mang tính chủ quan để tạo thành các cấu trúc.

Vậy là chúng ta đã quay lại với chủ nghĩa duy vật. Chương 4 cũng đã chỉ ra rằng hầu hết các phân tích Marxist về văn hoá vật chất chính là việc xem xét các chức năng (che dấu thực tại xã hội, ...vv) chứ không phải là nội dung ý nghĩa. Ngay cả cách tiếp cận bằng một lý thuyết phi chức năng tinh vi về hành động xã hội và thực tiễn vật chất cũng vẫn bị thất bại khi dùng các dữ liệu KCH để xem xét một cách đầy đủ nội dung ý nghĩa.

Có một số cách tiếp cận không đề cập trong cuốn sách này đã gán ý nghĩa chủ quan cho những con người đã chết từ lâu. Chẳng hạn như hoạt động kinh tế của một di chỉ thường được phục dựng dựa vào xương thú còn sót lại (chương 1: 14). (Tr. 82) Nhưng việc khẳng định số xương bỏ lại trên một di chỉ có mối quan hệ nào đó về phương diện kinh tế thì lại chỉ dựa vào giả định là con người đã hiểu rõ về những con vật, về xương cốt, về việc thải rác ...vv. Trong nhiều xã hội, người ta gán những ý nghĩa xã hội phức tạp cho động vật thuần dưỡng, cho xương cốt và phân. Việc khẳng định rằng xương động vật không thay đổi về phương diện văn hoá là khẳng định rằng “họ” có những thái độ không quá khác với “chúng ta”. Thêm một ví dụ nữa, nếu tôi nói rằng dân số của một di chỉ nào đó có lẽ vào khoảng “x” người, thì đã ẩn dấu trong tuyên bố đó một sự phục dựng các ý nghĩa trong tư duy của những con người đã chết từ lâu rồi. Vì tôi không thể trực tiếp “thấy” dân số trong quá khứ nên tôi phải suy luận ra nó, chẳng hạn như dựa vào không gian của di chỉ. Tất nhiên tôi có thể biện hộ cho lý lẽ của mình bằng những chứng cớ so sánh văn hoá. Nhưng ngay cả khi tôi có thể chỉ ra rằng tất cả các xã hội ngày nay đều có những mối liên hệ có thể đoán định giữa qui mô dân số và diện tích di chỉ (điều đó chúng ta không thể – xem Hodder 1982d) thì việc sử dụng những thông tin như vậy để lý giải quá khứ vẫn là việc đặt giả định về thái độ của các dân tộc đối với không gian trong cái ngữ cảnh lịch sử đặc thù đó. Vấn đề các nhóm hoặc các cá nhân cần hoặc họ nghĩ rằng họ cần phải có khoảng không gian rộng bao nhiêu cho một hoạt động nào đó, chí ít về mặt nào đó vẫn là một câu hỏi về biểu tượng, ý nghĩa và ý định. Như Collingwood (1939: 133) và Taylor (1984) đã lưu ý, chúng ta hầu như không thể mô tả ngay cả các dữ liệu KCH mà không có một số thuật ngữ lý giải ám chỉ tới mục đích, chẳng hạn như “tường”, “gốm”, “dụng cụ”, “bếp”. Trong thời đại đá mới, những chiếc rìu đá mài được cho là những lưỡi tầm sét mà các chức năng sử dụng của chúng (để chặt cây trong thời Đá mới) không thể được làm sáng tỏ bằng sự phân tích thuần tuý. Việc chúng ta đưa ra những giả định về những ý nghĩa chủ thể tính trong tư duy của những người chết đã lâu chỉ có thể là cái cách mà chúng ta bắt đầu làm KCH.

Toàn bộ các tiếp cận được mô tả trong cuốn sách đã thể hiện một sự né tránh phải đối mặt trực tiếp với tình trạng không mấy vui vẻ này. Các nhà KCH đã mong muốn tránh đối đầu với vấn đề đó, và đã nắm bắt được sự tiện ích của khoa học kinh nghiệm, một cái mặt tiền đã rạn vỡ. Gìơ đây chúng ta phải đối mặt trực tiếp với tính chủ quan của ý nghĩa.

Tôi coi vai trò của lịch sử là tìm hiểu hành động của con người chứ không phải là sự kiện. Hiểu được hành động là hiểu được ý nghĩa chủ quan tính từ bên trong của các sự kiện. Vì vậy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa lịch sử và duy tâm luận. Bằng duy tâm luận tôi không (Tr. 83) định nói rằng thế giới vật chất không tồn tại: hơn thế, như đã định nghĩa ở trang trước (tr. 19), thuật ngữ này coi thế giới vật chất chính như nó thể hiện. Điều đó phải được nhận thức rồi mới có thể được làm theo. Vì vậy chủ nghĩa duy tâm lịch sử là việc nghiên cứu cách thức đề xuất các ý nghĩa chủ quan đó trong ngữ cảnh lịch sử như thế nào; nhưng vì tự thân lịch sử được xác định trong khuôn khổ của việc nhận thức hành động (là cái liên quan đến niềm tin) và bên trong của các sự kiện, nên thuật ngữ chủ nghĩa duy tâm lịch sử là thừa trong ngữ cảnh hiện tại. Tôi không nói rằng bằng cách đạt tới nhận thức bên trong của sự kiện chúng ta sẽ khẳng định rằng chúng ta có thể tiếp cận được với các ý nghĩa chủ quan là thứ có thể được bộc lộ nếu chúng ta trò chuyện được với những con người trong quá khứ. Hơn thế, mục đích là lý giải những ý nghĩa chủ quan dưới góc độ cấu trúc các khái niệm và ý tưởng được sử dụng để tổ chức những thực tiễn vật chất tái diễn đều đặn của các nhóm. Những ý tưởng công khai và mang tính xã hội này được sử dụng để tạo thành chủ quan tính và cần phải xem xét để nhận ra chúng đã bắt đầu biến đổi như thế nào về phương diện lịch sử thông qua các thực tiễn xã hội và vật chất và thông qua cả hành động cá nhân và sự lý giải.

Có hai khía cạnh lịch sử tôi muốn thảo luận trong chương này. Trước hết tôi muốn xem xét những cung cách tái tạo những ý nghĩa chủ quan trong một thời gian dài liên quan đến thực tiễn. Thứ hai, tự thân phương pháp lịch sử cần phải được xem xét.

Lịch sử Dài hạn

Cung cách thông thường mà nhà KCH sử dụng để thảo luận về những phát triển dài hạn là chia tách các dữ liệu thành các giai đoạn và xem xét các nguyên do thay đổi của các giai đoạn đó. Vì vậy lịch sử là một quá trình đứt đoạn, cho dù cách tiếp cận được sử dụng là văn hoá- lịch sử (khi những đứt đoạn là những cuộc xâm lược...vv), là quá trình (biến đổi hệ thống, thích nghi), hoặc Marxist (biến đổi vì mâu thuẫn và khủng hoảng). Như chúng ta đã thấy (tr. 50), cấu trúc luận không có khả năng đương đầu với biến đổi.

Khi chúng ta chứng kiến các nỗ lực tiếp cận để xoá bỏ gianh giới giữa các giai đoạn (xem ví dụ Higgs và Jarman 1969), thì lại ít thấy quan niệm về lịch sử như là một quá trình liên tục (Tr. 83), và ít nhà KCH cố thử phục dựng những ý nghĩa ngữ cảnh chủ quan gắn liền với thực tiễn trong một thời gian dài. Nếu chúng ta muốn tìm hiểu các định hướng chủ quan của con người trong một giai đoạn, để tìm hiểu xã hội của họ (hay của chúng ta), thì chúng ta phải lùi về quá khứ bao xa? Có phải các ý nghĩa thay đổi, nhưng luôn luôn gắn liền với cái đã vượt lên trước, như là một quá trình liên tục?

Hầu như bằng định nghĩa, những người quan tâm đến tính liên tục của các ý nghĩa văn hoá dài hạn đều có khuynh hướng quan tâm đến cái đặc thù. Nếu mỗi giai đoạn được lý giải một cách tách biệt bằng việc so sánh với các xã hội khác, thì cuộc chơi phát triển một lịch sử duy nhất đã đến ngày tàn. Nhưng vì những người đó quan tâm đến các ý nghĩa văn hoá, nên các phổ biến tính so sánh văn hoá phải được chứng minh chứ không phải là giả định, vì vậy cần tập trung vào việc tìm hiểu cái đặc thù trong những khuôn khổ riêng của nó. Chúng ta đã thấy rằng (tr. 84) toàn bộ KCH quan tâm đến ngữ cảnh lịch sử đặc thù trong một chừng mực nào đó, và mặt khác, Trigger (1978) đã chỉ ra rằng lịch sử đòi hỏi sự khái quát hoá. Nhưng trong cả các nghiên cứu KCH và không KCH thì các nghiên cứu đặc thù luận kết hợp với mối quan tâm đến cái bên trong của các sự kiện đã đưa tới những nhận định sâu xa nhất về thực chất của các mối quan hệ giữa ý nghĩa và thực tiễn.

Một nghiên cứu quan trọng về các mối quan hệ dài hạn ấy là phân tích của Max Weber (1976; xuất bản đầu tiên năm 1904-5) về mối liên hệ giữa đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù đây không phải là một ví dụ KCH, nhưng tôi muốn đề cập đến nó hơi dài một chút vì những nguyên do sẽ được làm rõ dưới đây. Weber bắt đầu bằng một vấn đề đặc thù và một câu trả lời đặc thù. Câu hỏi của ông là “Tại sao chủ nghĩa tư bản lại xuất hiện ở Tây Âu chứ không phải ở những nơi khác của thế giới?” Ông cho rằng một hình thức nào đó của chủ nghĩa tư bản đã tồn tại ở Trung Quốc, Ấn Độ, Babylon, nhưng cái ethos – tinh thần – đặc thù của nó được phát hiện ở châu Âu, đặt cơ sở cho đạo đức tư bản hiện đại thì lại không có ở các nơi đó. Weber xác định đạo đức này là bổn phận của “ai đó” khi hành nghề, bất chấp đó là nghề gì. Phẩm cách duy lý dựa trên ý niệm nghề nghiệp như vậy được gắn liền với đặc thù của chủ nghĩa duy lý (Tr. 85) được phát hiện trong văn hoá phương Tây, như đã thấy trong âm nhạc, luật pháp, hành chính cũng như trong hệ thống kinh tế.

Weber gợi ý rằng đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản phương Tây được gắn liền với, (mặc dù không theo nghĩa trực tiếp là tạo ra bởi) sự xuất hiện của những hình thức khác nhau của đạo Tin lành khổ hạnh, đặc bịêt là Tin lành Calvinism. Các dữ liệu được trích dẫn cho thấy các thủ lĩnh kinh doanh, các chủ tư bản và các tầng lớp lao động có kỹ thuật hoặc tay nghề cao hầu hết đều là những người Tin lành ở các nước Tây Âu có cấu trúc tôn giáo hỗn hợp. Chủ nghĩa truyền thống Công giáo thì độc đoán và không thừa nhận việc theo đuổi làm giàu bằng chi phí của người khác; tính chất “thế giới bên kia” lớn hơn của nó đã ức chế kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Trong khi đó, Chủ nghĩa Calvinism lại ủng hộ chủ nghĩa khổ hạnh “trần thế”. Các cá nhân được sinh ra trong những trật tự bất biến của sự vật và sự tiền định đã bắt người ta phải làm các công việc của người đã đem nó cho anh ta, chừng nào vẫn còn cái ngày đó” (Weber 1976: 156).

Trong phân tích của mình, Weber đặc biệt chống lại chủ nghĩa duy vật lịch sử Marxist trong đó các lực lượng sản xuất và các mối quan hệ sản xuất là tiên quyết. Không phải là ông phớt lờ những yếu tố như vậy, hoặc thậm chí nghĩ rằng chúng không quan trọng, nhưng ông muốn đưa ra một đối trọng ngang bằng với một quan niệm duy tâm, rằng một tập hợp các ý niệm riêng biệt về phương diện lịch sử luôn ảnh hưởng đến việc tổ chức xã hội và nền kinh tế của mình. Mối quan tâm của ông là xem xét phức hợp ý nghĩa chủ quan của hành động và nhấn mạnh rằng “tính duy lý” là chủ quan gắn liền với những “chung cục” hoặc “tất định” đặc thù. Ông gợi ý rằng mỗi hiện vật chỉ có thể hiểu được trong khuôn khổ cái ý nghĩa mà việc sản xuất và sử dụng nó đã hoặc sẽ vì hành động của con người.

Chủ nghĩa khổ hạnh Tin lành vẫn đang phát triển trong những khoảng thời gian dài và vẫn đang tái tạo việc nhập văn hoá đến nỗi nó được coi là dĩ nhiên. Cuối cùng thì sự hình thành của môn luật học duy lý kế thừa từ bộ luật La Mã đã có vai trò trong sự phát triển của một loại hình duy lý đặc biệt của phương Tây. Các nguồn gốc của tinh thần tư bản có thể được lần ngược trở lại đến trước khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản (tr. 54) và việc nhấn mạnh mang tính chất Tin lành vào lao động tinh thần hoặc thể xác một cách liên tục một phần có nguồn gốc từ một thực tế là “lao động là...một kỹ thuật thực hành khổ hạnh đã được phê chuẩn, vì nó luôn luôn tồn tại trong Giáo hội phương Tây (Tr. 86) đối lập quyết liệt không chỉ với phương Đông, mà còn hầu như với tất cả mọi luật tắc tu viện trên trần thế” (tr. 163).

Nhưng Weber không coi tập hợp ý tưởng này phát triển chỉ dựa vào riêng bản thân nó. Hơn thế, duy tâm và duy vật phải hợp nhất sao cho việc lý giải mỗi hành động hoặc sản phẩm xã hội là cần thiết để xem xét cả ngữ cảnh lịch sử của ý nghĩa chủ quan lẫn thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Những tư tưởng tôn giáo thay đổi cục bộ thông qua trận chiến giữa các lãnh tụ tôn giáo, nhưng cũng liên quan đến, dù không phải là thống trị bởi, tổng thể tính của các điều kiện xã hội, đặc biệt là các điều kiện kinh tế (tr. 183). Richard Baxter, một tác giả viết về đạo đức Tin lành “đã điều chỉnh liên tục các kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động mục sư của ông” đến mức là tín điều của ông đã thay đổi liên quan đến hoạt động thực tiễn (tr. 156). Weber tiếp tục lưu ý về sự khác biệt giữa các nhà triết học và những lý tưởng tôn giáo chống lại “người thế tục”, “người thực tiễn” và “người trung lập”. Đối với chủ nghĩa Calvinism thì “Phẩm hạnh đạo đức của người trung lập vì vậy mà thiếu đi cái đặc trưng không hệ thống và phi kế hoạch của nó (cái đó cũng có trong Công giáo) và tuỳ thuộc vào một phương pháp kiên định đối với đức hạnh như một toàn thể (tr. 117).

Tinh thần của chủ nghĩa tư bản được sinh ra từ tinh thần của chủ nghĩa khổ hạnh Thiên chúa giáo. Cái tín điều đó ăn sâu vào cuộc sống hàng ngày, bắt đầu thống trị đạo đức trần thế và can dự vào việc tạo dựng trật tự kinh tế hiện đại. Tuy nhiên các kết quả thực tiễn lại không như mong muốn. Vì vậy những người cải cách tôn giáo của Giáo phái Calvinism và những hệ phái Tin lành khác đều tham gia vào việc cứu rỗi các linh hồn; cuộc rượt đuổi những tài sản trần thế không phải là một chung cục tự thân. Các động cơ tôn giáo thuần tuý có những hậu quả xã hội và văn hoá không thể dự kiến trước và thậm chí không hề mong muốn (tr. 89-90). Các kết quả thường vượt xa khỏi và ngay cả sự mâu thuẫn với toàn bộ những gì mà các nhà cải cách tôn giáo đã cố gắng đạt được.

Vì vậy chúng ta thấy trong lập luận của Weber những mối quan hệ biện chứng giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa duy tâm và duy vật, và cùng nhấn mạnh vào hành động xã hội (hành vi mang tính mục đích) những hậu quả ngoài ý muốn và những mâu thuẫn được xác định trong chương trước. Tuy nhiên ở đây đã đưa ra một ngữ cảnh lịch sử dài hạn, nên những đóng góp tương tự về các lý tưởng và các giá trị đã được xác định. Nói một cách vắn tắt, trong thời khắc hành động, các phương thức phát triển của Bourdieu có vẻ như được thống trị bởi (Tr. 87) các điều kiện của tồn tại, nhưng phải trong một khoảng thời gian dài và trái ngược với những trật tự lịch sử khác thì các điều kiện kinh tế và xã hội tự thân chúng được coi là nảy sinh từ các tập hợp ý nghĩa văn hoá.

Qua thời gian, Weber ghi nhận sự thống trị tương đối của các tư tưởng tôn giáo và nền kinh tế xã hội phải biến đổi. Đầu tiên khuynh hướng khổ hạnh của đạo Tin lành đã dẫn tới hành động xã hội và tạo điều kiện cho sự phát triển thêm của một hệ thống kinh tế, của những hình thức đã có trong tồn tại. Các thuộc tính bất kỳ của việc tổ chức kinh doanh tư bản chủ nghĩa lâu đời hơn nhiều so với cuộc Cải cách Tôn giáo (tr. 91) nhưng đó là những thay đổi tôn giáo tạo điều kiện cho một trật tự kinh tế mới phát triển. Hơn nữa Tin Lành là một giáo phái “chống độc tài” dẫn đến sự đối lập cuồng tín của những người Tin lành với những nghi lễ của nền quân chủ Anh quốc (tr. 167).

Vậy là đầu tiên “những người Tin Lành muốn làm việc bằng một nghề nhất định” và tôn giáo đã hướng dẫn cho công việc kinh doanh tư bản chủ nghĩa, nhưng giờ đây “chúng ta bị buộc phải làm như vậy” (tr. 181). Qua thời gian, trật tự duy lý bắt đầu hạn chế vào các điều kiện kinh tế và kỹ thuật của việc sản xuất bằng máy móc. Ngày nay các điều kiện vật chất này “đã quyết định cuộc đời của tất cả mọi cá nhân sinh ra trong cái cơ chế đó” (tr. 181), và cơ sở kinh tế đã bị mất đi.

Tôi đã thảo luận khá dài dòng về lý lẽ của Weber, vì trong khi tôi không thể nhớ được là đã từng thấy một sự tham khảo nào về Weber trong các văn liệu KCH không (tự nó là bất bình thường nếu nó phản ánh một khiếm khuyết thực sự các tham khảo như vậy) thì công trình của ông lại chứa đựng nhiều khía cạnh lý giải lịch sử hữu ích cho những gì mà cuốn sách này tìm kiếm. Có một sự xem xét đầy đủ về các ý nghĩa ngữ cảnh và chủ thể tính, một lý lẽ về cách thức mà những ý nghĩa này phát triển và có thể hiểu được bằng các thuật ngữ lịch sử riêng của chúng, và vị trí của cá nhân trong xã hội. Weber đã phản bác lại những mối liên hệ quyết định luận về phương diện chức năng, và coi hành động cá nhân là việc xây dựng các khối tổng thể tính xã hội. Tổng thể xã hội là toàn bộ những căng thẳng, phân chia và mâu thuẫn và những cá nhân lý giải khác nhau về cái (những) thế giới mà trong đó họ sống.

Mặc dù nhấn mạnh vào cái chủ thể và cái riêng biệt, Weber vẫn không sa vào tương đối luận hoài nghi và chủ nghĩa đặc thù - ông nghĩ rằng có thể hiểu được chủ thể tính của những người khác (Tr. 88). Không nhất thiết cứ phải là Caesar mới hiểu được Caesar. Tư duy có thể nắm bắt được các ngữ cảnh khác và các ý nghĩa khác chừng nào nó gắn kết lại với nhau thành “tinh thần” của những thời đại khác từ những chi tiết đơn lẻ của thực tại lịch sử chứ không phải là áp đặt các công thức từ bên ngoài (tr. 47). Tương tự, khi tiến hành lý giải chi tiết như vậy thì có thể khái quát hoá dựa vào mối liên hệ giữa các ngữ cảnh lịch sử lẫn trong chính một ngữ cảnh.

Như Gidden (1976) đã chỉ ra, nhiều dữ liệu và lý giải của Weber đã bị đặt thành vấn đề. Trong trường hợp này tôi không quan tâm đến việc thể hiện giá trị các lý giải của Weber, mà chỉ sử dụng ví dụ để chỉ rõ việc xem xét các ý nghĩa lịch sử trong một khoảng thời gian dài và trái ngược với những phát triển lịch sử tại những nơi khác trên thế giới đã chỉ ra mức độ thiếu sót của các lý giải khách quan và duy vật và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của cái chủ quan và cái đặc thù.

Trong khi lý giải của Weber đã cung cấp sự chỉ dẫn nào đó về mối quan hệ giữa tư tưởng và thực tiễn thì có lẽ Sahlins (1981) mới là người đem đến cho chúng ta một ví dụ rõ ràng nhất về những loại tiếp cận do Bourdieu và Giddens vạch ra (xem chương 4) có thể được áp dụng vào một khoảng thời gian dài hạn. Trước khi đưa ra một ví dụ dân tộc-lịch sử của riêng tôi ở chương 6, chúng ta cần xem xét vắn tắt cái cách mà Sahlins đã thể hiện những mối liên kết giữa cấu trúc, tập quán và thực tiễn.

Tại Hawaii, Sahlins đã nhận thấy các tập hợp tiền khái niệm và các tư tưởng như là một bộ phận của hành động. Chẳng hạn mana là một lực lượng sáng tạo có khả năng hiện hình hoặc biến đi, chính là cái cung cấp ý nghĩa cho thiện tính và sự sùng kính. Cái sức mạnh mana thiêng liêng của các thủ lĩnh là hiện thân sự quang minh lỗi lạc như mặt trời của họ. ở cấp độ hàng ngày thì những khái niệm như vậy định hướng cho các hành động như là thói quen, nhưng chúng lại bị thay đổi trong thực tiễn, trong “các cấu trúc của sự kết hợp”. Chưa có ai đã từng biết đích xác một sự kiện, hoặc một cuộc họp đặc biệt sẽ kết thúc như thế nào trong thực tiễn. Những kết quả mong muốn và không mong muốn của hành động dẫn tới việc tái hệ thống các tập quán và cấu trúc xã hội.

Rõ ràng hơn, trong các thời điểm tiếp xúc văn hoá, như khi Cook đến Hawaii, hai tập quán đối lập nhau đã dẫn đến xung đột trong thực tiễn và có thể dẫn đến tình trạng thay đổi mang tính quyết định. Sahlins đã chỉ ra khi đặt chân đến Hawaii, Cook và những người Châu (Tr. 89) Âu đã nhận thức như thế nào bằng các khuôn khổ truyền thống của mình khi họ chứng kiến là có mana. Nhưng trong việc chứng kiến các cảnh thật từ những quan điểm khác nhau (Hawâiin và Châu Âu) thì các hậu quả không mong đợi lại tái giới hạn vào những cách hiểu đó, tạo nên những mâu thuẫn và xung đột. Cuối cùng Cook đã bị giết chết như một phần của các quá trình đó, và mana bắt đầu được truyền vào tất cả các đồ vật của người Anh, dẫn đến tái lập trật tự xã hội ở Hawaii.

Trong ví dụ này có nhiều thứ liên quan đến các lý giải của Weber, nhưng một công trình chi tiết hơn và việc nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề mối quan hệ giữa cấu trúc và thực tiễn đã dẫn đến một sự hiểu biết đầy đủ hơn về cách thức gán cho xã hội và kinh tế những ý nghĩa chủ quan, mà chúng vẫn có thể tác động ngược và thay đổi những ý nghĩa đó.

Sự khác biệt giữa công trình của Weber và Sahlins có thể giống như Trường phái Biên niên sử Pháp đang bắt đầu có một ảnh hưởng trực tiếp đến KCH. Braudel (1973) đã hình thức hoá nghiên cứu các qui mô lịch sử khác nhau bằng cách bao gồm cả a) mentalité – (thần tính, tâm tính) có những đặc điểm vĩnh hằng, vận động chậm hoặc hồi qui; b) lịch sử xã hội và cấu trúc của các nhóm và c) sự kiện và ước đoán – lịch sử của những nam nữ cá nhân. Định nghĩa của Dumezil (1977) về một cấu trúc ba chức năng (tăng lữ, chiến binh, người sản xuất/tái sản xuất) trong thần thoại và xã hội Ấn - Âu là một ví dụ thú vị về việc đi tìm cái mentalité ấy.

Một công trình dài hạn như vậy đã không giải quyết ổn thoả các mối quan hệ giữa những qui mô lịch sử và giữa các tư tưởng, thực tiễn và quyền lực khác nhau. Tuy nhiên mới đây, một loạt nghiên cứu qui mô nhỏ đã xem xét mối liên hệ giữa cấu trúc dài hạn, chiến lược xã hội và các sự kiện riêng biệt (chẳng hạn Ladurie 1980; Le Goff 1985). George Duby (1980) đã coi mô hình ba chức năng như một hệ tư tưởng kéo dài hàng nghìn năm qua suốt và sau cả thời Trung cổ Pháp. Cái mentalité đó tồn tại theo những cách khác nhau, trong những thời gian khác nhau, với tầm quan trọng lớn nhỏ khác nhau và xuất hiện đúng lúc giành cho sự cai trị và sự phân cấp xã hội chính thống. Tuy nó không được sáng tạo ra ở thời Trung cổ, nhưng dần dần nó đã được phát huy tác dụng, được tái mô hình hoá, và được thay đổi để sẵn sàng sử dụng và (Tr. 90) lại chuyển đổi nữa trong tương lai để bênh vực cho cả nhóm thống trị lẫn nhóm đối kháng.

Trong KCH chúng ta có thể tìm ở đâu để phát hiện được bất cứ khía cạnh nghiên cứu nào như vậy? Chúng ta khó phát hiện được ảnh hưởng trực tiếp từ Weber (hoặc từ công trình mới đây của Sahlins về Hawaii) trong các nghiên cứu KCH. ảnh hưởng của trường phái Biên niên Pháp cũng chỉ mới đây (các bài viết trong Hodder 1987b; 1990a). Nhưng vào đầu thế kỷ XX, Childe đã mường tượng mục đích của ông trong công trình Buổi bình minh của nền văn minh Châu Âu (xuất bản lần đầu năm 1925) là tìm hiểu bản chất đặc thù của văn hoá Châu Âu, và xác định nguồn gốc của cái tinh thần độc lập và tính sáng tạo đã dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp đó. Thực ra thì mục đích của ông rất giống với mục đích của Weber. Ông cho rằng tinh thần đặc trưng Châu Âu đó đã bắt đầu từ Thời đại Đồ đồng.

Childe khẳng định rằng mặc dù được truyền bá từ phương Đông, nhưng Châu Âu đã chấp nhận và cải tiến các phương pháp và các kỹ thuật một cách sống động, trái ngược với chủ nghĩa truyền thống và chủ nghĩa độc đoán của các nền Văn minh phương Đông. Đảo Crete trong thời đại đồ đồng có một tầm nhìn đặc biệt hiện đại: “Tinh thần Menoa là thuần Châu Âu, và không hề có chút phương Đông nào” (1925: 2). Không giống Ai cập và Lưỡng Hà, ở Crete không có những cung điện hoành tráng, những đền tháp, lăng mộ khổng lồ, và sự vắng mặt ấy cho thấy sự vắng mặt của chế độ chuyên quyền, độc đoán. Tương tự như vậy, nghệ thuật Crete vừa không mang tính hình thức, vừa không bảo thủ, nhưng lại có một thứ chủ nghĩa tự nhiên hiện đại, có cảm hứng thực sự ngẫu nhiên đối với đời sống và tự nhiên, những đặc trưng làm nổi bật các bức tranh tường, các bức phù điêu và những hoạ phẩm trên đồ đựng Menoa. Khi nhìn ngắm những cảnh trí mê hồn của các trận đấu và các đám rước, những con vật, cá, hoa và cây cối chúng ta đã được hít thở một bầu không khí hoàn toàn châu Âu. Tương tự như vậy, trong công nghiệp, việc không có tình trạng bóc lột sức lao động vô hạn tuỳ thích theo nhu cầu nên người ta tập trung vào sáng tạo và chau chuốt công cụ và vũ khí. Điều đó đã tiên liệu một đặc trưng độc đáo nhất của nền văn minh châu Âu” (ibid, tr.29).

Trong khi lý giải của Childe dường như không mang tính phê phán, và trong khi (Tr. 91) khao khát một nền văn minh châu Âu độc đáo có thể gắn kết với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa dân tộc và các đế quốc châu Âu (Rowlands 1984) thì Childe lại phải vật lộn với những vấn đề đặc thù chẳng hạn như tại sao sự phát triển văn hoá và kinh tế châu Âu lại độc đáo; và xuất phát từ đâu mà nó có được những “phong cách” kinh tế và văn hoá đặc thù ấy. Ngay cả trong lần xuất bản muộn nhất của “Buổi bình minh” (1957) thì những mối bận tâm như vậy vẫn còn, và Man Makes Himself (Con người tạo ra bản thân mình) (1936) đã thể hiện một quan niệm biện chứng về sự tiến bộ. Phát triển là tích luỹ và diễn ra thông qua một quá trình đối lập liên tục giữa các yếu tố tiến bộ và bảo thủ.

Một nghiên cứu mới đây (Lechtman 1984) đã thể hiện một số quan tâm tương tự. Mối quan tâm ở đây tập trung vào đặc trưng công nghệ riêng biệt trong kỹ thuật luyện kim của Tân Thế giới và Cựu Thế giới, bằng cách chỉ ra, như Childe đã làm, những cấu trúc tinh vi của công cụ và vũ khí ở châu Âu. Lechtman lưu ý rằng việc vắng mặt của thời đại đồ đồng và thời đại đồ sắt trong Tiền sử Tân Thế giới có thể nảy sinh từ tầm quan trọng của các kim loại dùng trong chiến tranh, giao thông và nông nghiệp châu Âu, trong khi đó ở khu vực núi Andes chẳng hạn kim loại chỉ có một vai trò biểu tượng trong cả đời sống trần thế lẫn tôn giáo.

Vì vậy Lechtman quan tâm đến tính đặc trưng của một trật tự văn hoá ở Tân Thế giới, và bà đã rút ra một tập hợp đặc thù các giá trị văn hoá tập trung xung quanh ý nghĩa chính trị và nghi lễ của các màu vàng và bạc. Đồng thau là một phát triển muộn màng ở dãy núi Andes – những kim loại khác được sử dụng để tạo ra những màu đáng mong ước khác. Tuy nhiên một tập hợp các giá trị văn hoá khác đã cản trở các nhà luyện kim Andes không pha thêm các màu vàng và bạc lên trên bề mặt của các sản phẩm kim loại. Một phương pháp phức hợp kỹ thuật cao đã được phát triển nhằm làm cho màu sắc ở mặt ngoài của một hiện vật lại có nguồn gốc từ bên trong. “Cơ sở của hệ thống làm giàu kim loại ở Andes là cho thêm một thành phần cơ bản – vàng hoặc bạc vào toàn bộ một hiện vật. Bản chất của hiện vật, biểu hiện ra bên ngoài cái vẻ thực của nó, chính là cái chất bên trong của nó” (ibid., tr. 30).

Lechtman biện hộ cho luận điểm này bằng cách qui chiếu vào việc sản xuất vải, là công việc có cùng một “cấu trúc” như sản xuất kim loại (mẫu hoa văn trang trí được đưa vào vải), và bà (Tr. 92) đã chỉ ra cách thức mà các giá trị văn hoá có chức năng hệ tư tưởng trong việc chính thống hoá sự thống trị trong Nhà nước Inca. Nhưng dạng đặc thù của hệ tư tưởng đó, và của công việc làm vải lẫn quá trình kỹ thuật đặc thù của việc thay thế và khử bằng điện hoá chỉ có thể được hiểu rõ bằng những thuật ngữ riêng, gắn liền với sự thực hành nhưng không qui giản vào nó. Cuối cùng chúng ta sẽ chỉ có thể “lý giải” hệ thống của các giá trị văn hoá bằng cách lùi sâu về quá khứ, với một hành trình vô hạn định.

Những người khác, chẳng hạn như Coe (1978) đã quan tâm đến việc khảo sát tính chất đặc thù của văn hoá Tân Lục địa bằng cách đối sánh nó với Cựu Lục địa. Bằng việc gắn kết các nghiên cứu ngôn ngữ và khảo cổ học, Flannery và Marcus (1983) đã khẳng định rằng trong hàng ngàn năm, các nền văn hoá Trung Mỹ đã thích ứng với các điều kịên địa phương và đã thực hiện những thay đổi xã hội một cách quyết định bằng một tập hợp ý nghĩa có cấu trúc, bao gồm việc phân chia thế giới thành bốn phần theo mã màu, và một “tinh thần” được gọi là pe. Mặc dù chưa thật sự nỗ lực để xem xét cấu trúc, ý nghĩa và sự kiện được thống nhất với nhau như thế nào, nhưng điều quan trọng là họ đã chỉ rõ lĩnh vực tạo dựng hệ tư tưởng có một ảnh hưởng lâu dài. Hơn nữa, lĩnh vực đó không gây nên, không cản trở hoặc phải qui giản vào kết quả của hành động thực tiễn; đúng ra nó được coi là trung gian cho hành động.

KCH Cựu lục địa luôn luôn có triển vọng bằng cách quay trở lại một khoảng dài hạn để phát hiện ra cơ sở văn hoá chung cho sự phát triển của các xã hội Châu Âu và các nền văn hoá đã phát triển - đây là mối quan tâm của các nhà ngôn ngữ học và khảo cổ học liên quan đến vấn đề văn hoá ấn - Âu. Nhưng chúng ta cũng có thể thực hiện một phân tích chi tiết bằng cách nghiên cứu kỹ lưỡng các khu vực khác nhau của châu Âu đã hình thành, chia tách và phát triển như thế nào. Vài lần Christopher Hawkes đã lưu ý đến việc hạn chế táng thức có đồ tuỳ táng – hoặc là táng thức tập thể tất cả với nhau” (Hawkes 1972: 110) dẫn đến thiếu phân biệt vị thế trong các táng thức tại Anh (xem thêm 1972: 113; 1976: 4). Những thái độ như vậy, hoặc chí ít các mô tả hành vi liên quan đến táng thức như vậy xuất hiện liên tục trong một khoảng thời gian dài, và Hawkes đã chú ý đến sự thay đổi tích luỹ như trong thảo luận của ông về “tính cách Celtic tích luỹ vậy” (Tr. 93) (1976), trong đó phong cách Celtic được truy tìm nguồn gốc đến tận thời Đồ đồng. Năm 1954, Hawkes gợi ý rằng cách tiếp cận vùng, trong đó các nhà KCH sử dụng một phương pháp lịch sử lùi lại xuyên suốt các diễn trình văn hoá để phát hiện “các vật chung cho tất cả mọi người với tư cách một loài, kế thừa từ dung lượng - văn hoá (culture-capacity) từ thời khởi thuỷ” (1954: 167). “Nó vận hành giống như người ta bóc vỏ củ hành; vì vậy mà khi đi tới được đến tận cùng của vấn đề thì có phải củ hành có hạch ở giữa hay củ hành chính là một tổng thể những lớp vỏ đã được bóc đi?” (ibid., tr. 168).

Một vài nhà KCH cố tận dụng lợi thế tư liệu – bao trùm những khoảng thời gian dài - để góp phần vào những vấn đề đó. Vẫn còn ít thấy các nghiên cứu lịch sử chi tiết về các trật tự vùng bao gồm cả việc lý giải ý nghĩa chủ quan. Chúng ta đã thảo luận (Tr. 29) về công trình thú vị của Flannery và Marcus (1976; 1983) trong khi Isbell (1976) đã xác định được một quá trình liên tục 3000 năm trong cấu trúc cư trú ở vùng Andes Nam Mỹ, ngoại trừ những đứt đoạn chủ yếu trong các hệ thống kinh tế và xã hội. Một loại công trình quan trọng khác gồm có lý giải của W. Davis (1982) về các nguyên tắc hoặc “tiêu chuẩn” nghệ thuật có thể xác định qua suốt lịch sử Ai Cập, định nghĩa của Hall (1977) về các nguyên tắc ý nghĩa làm cơ sở cho các quá trình Hopewellian trong các tương tác và thay đổi kinh tế xã hội, lý giải của Lathrap (1977) về tính liên tục dài hạn và phổ biến trong các thực hành táng thức vùng Đông Bắc Mỹ. ở Châu Âu, nhiều nhà KCH đã nhận thức được các mô hình liên tục tính đáng kể gắn liền quá khứ xa xôi với hiện tại, đặc biệt là ở Scandinavia, nhưng ít người đưa các vấn đề như vậy thành trung tâm điểm nghiên cứu. Tương tự như vậy, giờ đây quá trình truyền bá ít được nghiên cứu như là một cấu phần phát triển văn hoá. Truyền bá bị giảm giá trị vì các nhà KCH quá trình thiên về mô tả đã quá nhấn vào những trật tự thích nghi địa phương. Nhưng trong khuôn khổ các vấn đề được đặt ra trong tập này thì truyền bá thực sự có năng lực giải thích. Nó có thể giúp giải thích ma trận văn hoá đặc thù. Các đối tượng hoặc các phong cách xuất phát từ những nhóm khác được gán những ý nghĩa nhất định trong ngữ cảnh mới của chúng, nhưng những ý nghĩa mới này có thể dựa trên và có thể chứa đựng trong chúng những ý nghĩa từ ngữ cảnh cũ. Những đặc điểtm mới được chọn lọc và được đặt vào trong hệ thống đang tồn tại, (Tr. 94) bằng cách thay đổi chúng. Mục đích của chúng ta không hẳn là phân loại các kiểu loại truyền bá (Clarke 1968), mà là nhận ra, chẳng hạn những truyền bá kích thích như là một quá trình xã hội năng động hoạt động dựa trên và trong các hệ thống ý nghĩa phát triển trong một giai đoạn dài (chẳng hạn xem Kehoe 1979).

Có một bất trắc, đó là các nhà KCH sẽ phải bằng lòng với những liên tục mơ hồ trong nguyên tắc xử thế văn hoá bằng cách quay trở về dựa trên cơ sở của các dữ liệu tản mạn mà không quan tâm đầy đủ đến vấn đề là bằng cách nào các ý nghĩa nội tại có cấu trúc can dự một cách năng động vào xã hội và sự biến đổi xã hội và bằng cách nào chúng phải thay đổi chính bản thân mình. Trong công trình của Weber, và đặc biệt hơn là Sahlins, là hai ví dụ mà chúng ta sử dụng để bắt đầu xem xét các nhà KCH có thể bao hàm cả cấu trúc và quá trình vào các lý giải của họ về quá khứ như thế nào, và cuối cùng chúng ta phát hiện ra những cách tiếp cận từ Collingwood đến nhân học hiện đại, là những người coi văn hoá là cấu tạo ý nghĩa, là cá nhân năng động và là ngữ cảnh lịch sử. Nhưng vẫn còn một chặng đường dài phải đi trước khi chúng ta có thể khẳng định được rằng tính chất phong phú của cách tiếp cận ấy, đặc biệt là liên quan đến nội dung các ý nghĩa lịch sử gắn liền với thực tiễn xã hội đã được áp dụng một cách đầy đủ vào KCH. Vật cản chủ yếu chính là vấn đề phương pháp luận.

Nếu các nhà KCH cần quan tâm nhiều hơn nữa đến ý nghĩa nội tại, “cái bên trong” của sự kiện thì họ sẽ phải làm như thế nào? Chúng ta phục hồi mana, tinh thần Celtic, Đaọ đức Tin lành, tính sáng tạo Châu Âu, các thái độ đối với phải hoặc trái như thế nào từ các bằng chứng KCH? Vấn đề đó phát triển như sau: nếu chúng ta từ chối chủ nghĩa duy vật, chúng ta có thể không còn dự báo được “các tư tưởng” có cơ sở duy vật nữa. Vì vậy những loại hình suy luận mang tính dự báo so sánh văn hoá sẽ bị loại bỏ. Nếu mỗi ngữ cảnh lịch sử là duy nhất và đặc thù thì chúng ta có thể lý giải nó như thế nào? Trong phần tiếp theo tôi sẽ tập trung vào câu trả lời của Collingwood đối với những câu hỏi như vậy. Việc phê phán lập trường của Collingwood và một câu trả lời đương đại đầy đủ hơn được gọi là khoa chú giải cổ bản có tính chất phê phán, sẽ được mô tả ở chương 7.