Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

Chuyện Chủ nhật 14 - Chuyện chỉ có ở Đà Nẵng của bác Bá Thanh

Thang máy và chuyện bảo tồn thiên nhiên

SGTT.VN - Ngành du lịch Đà Nẵng đã chính thức đưa vào hoạt động hệ thống thang máy lên ngọn Thủy Sơn thuộc quần thể Ngũ Hành Sơn vào hồi đầu tháng 5.2011, với vốn đầu tư gần 20 tỉ đồng.

Có ý kiến cho rằng nếu năm 1857, Elisha Graves Otis ghi danh lần đầu tiên chế tạo ra thang máy công cộng tại một cửa hàng cao 5 tầng ở Broadway thuộc New York thì năm 2011 này, có lẽ lịch sử ứng dụng thang máy lên núi sẽ được “ghi danh” tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, Việt Nam (!?).

Thật biến thành giả
Thang máy phục vụ khách du lịch lên ngọn Thuỷ Sơn thuộc danh thắng Ngũ Hành Sơn được đưa vào sử dụng ngày 1.5.2011. Ảnh: Nguyễn Minh Sơn
Danh thắng Ngũ Hành Sơn được lấy làm biểu tượng của thành phố Đà Nẵng. Ngũ Hành Sơn có 5 ngọn Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong đó, ngọn Thủy Sơn lớn nhất, trên đỉnh có hai ngôi chùa nổi tiếng là Tam Thai và Linh Ứng. Chùa Tam Thai được xây dưới thời Hậu Lê, được trùng tu lớn dưới đời vua Minh Mạng, hiện nay được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Chùa Linh Ứng được xây đời Gia Long, xây thêm vào các đời Minh Mạng, Thành Thái. Muốn lên Tam Thai, du khách phải trèo 156 bậc cấp, lên Linh Ứng thì trèo thêm 108 bậc.

Không riêng gì Đà Nẵng, nhiều di tích, danh lam thắng khi có bàn tay của người làm du lịch hiện nay "thò" vào thì cái thật đôi khi lập tức biến thành cái giả. Di tích thật biến thành di tích dỏm, lễ hội thật biến thành kịch dở...

Có thể rút ra đó chính là kiểu tư duy của không ít người làm du lịch hiện hiện nay. Kiểu tư duy ngắn hạn, với mục đích cao nhất trước mắt là thu hút được càng nhiều “triệu” lượt khách hàng năm càng tốt. Đây chính là sai lầm cho tương lai ngành công nghiệp không khói của Việt Nam.

Ở Trung Quốc, năm 2010, cơ quan quản lý văn hóa di sản tỉnh Hà Nam giới hạn khách du lịch tới tham quan đài tưởng niệm Đăng Phong với lý do nồng độ CO2 và độ ẩm quá cao sẽ làm hư hại các bức tượng. Núi Vũ Di (di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới) ở tỉnh Phúc Kiến cũng áp dụng hạn chế du khách để bảo vệ môi trường thiên nhiên.

Khu lăng mộ Pharaoh Tutankhamen ở Ai Cập hạn chế du khách vì lý do người đông, không khí ẩm ướt, vi khuẩn ảnh hưởng đến di tích.

Thang máy lên núi được thiết kế hai ca bin, xây dựng song song với vách núi có chiều cao 50m, tải trọng 1.350kg, tốc độ 1,75m/giây, mỗi lượt có thể đưa 18 khách tham quan lên - xuống với giá vé 15.000đồng/lượt.
Ở Việt Nam, đã bao giờ có một quyết định tương tự nhằm bảo vệ di sản bởi nhu cầu “khát” lượt khách của ngành du lịch? Tất cả đều phụ thuộc vào ý thức của cơ quan quản lý di sản, như lãnh đạo đô thị cổ Hội An có lần phát biểu sẽ tới thời điểm phải nghĩ đến việc hạn chế du khách để bảo vệ khai thác lâu dài.

Danh thắng Ngũ Hành Sơn có lợi thế lớn nhất là cảnh quan thiên nhiên và không gian văn hóa tâm linh cần được bảo vệ nguyên vẹn để cho nhiều thế hệ hưởng lợi. Vậy mà, khi đồ án công viên Văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn (của nhóm kiến trúc sư đại học Kiến trúc TP.HCM) vừa được chính quyền TP.Đà Nẵng phê duyệt thì người làm du lịch đã “kịp thời” làm thang máy cho khách hành hương lên núi mất rồi!

Nguyễn Minh Sơn


NGU + THAM THÌ CŨNG VỪA VỪA THÔI CHỨ!

Con người có 'thiên hướng' tin vào thần linh và kiếp sau- Humans 'predisposed' to believe in gods and the afterlife

A three-year international research project, directed by two academics at the University of Oxford, finds that humans have natural tendencies to believe in gods and an afterlife. 
Một dự án quốc tế thời hạn 3 năm do hai học viện của Đại học Oxford tiến hành đã cho thấy con người có thiên hướng bẩm sinh tin vào thần linh và kiếp sau.


The £1.9 million project involved 57 researchers who conducted over 40 separate studies in 20 countries representing a diverse range of cultures. The studies (both analytical and empirical) conclude that humans are predisposed to believe in gods and an afterlife, and that both theology and atheism are reasoned responses to what is a basic impulse of the human mind. 
Dự án 1.9 triệu £ có sự tham gia của 57 nhà nghiên cứu đã tiến hành hơn 40 nghiên cứu riêng rẽ ở 20 nước với những nền văn hóa khác nhau. Những nghiên cứu (cả lý thuyết cả thực nghiệm) đưa đến kết luận rằng con người có xu hướng tin vào thần linh và thế giới bên kia và cả thần học và thuyết vô thần đều là những đáp trả hợp lý đối với xung lực cơ bản trong tâm trí con người.

The researchers point out that the project was not setting out to prove the existence of god or otherwise, but sought to find out whether concepts such as gods and an afterlife appear to be entirely taught or basic expressions of human nature. 
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng dự án không có mục đích chứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của thần thánh mà mục đích tìm hiểu những khái niệm như thần linh và thế giới bên kia xuất hiện hoàn toàn là do được dạy hay là biểu lộ gốc của bản chất con người 



‘The Cognition, Religion and Theology Project’ led by Dr Justin Barrett, from the Centre for Anthropology and Mind at Oxford University, drew on research from a range of disciplines, including anthropology, psychology, philosophy, and theology. They directed an international body of researchers conducting studies in 20 different countries that represented both traditionally religious and atheist societies. 
'Dự án Nhận thức, Tôn giáo và thần học' do TS. Jusstin Barrett, Trung tâm Nhân học và Tinh thần, Đại học Oxford chủ trì tiến hành nghiên cứu ở nhiều lính vực như nhân học, tâm lý học, triết học và thần học. Họ hướng tới một nhóm nghiên cứu quốc tế thực hiện nghiên cứu ở 20 nước khác nhau cả những xã hội tôn giáo cổ truyền và cả xã hội vô thần.


The findings are due to be published in two separate books by psychologist Dr Barrett in Cognitive Science, Religion and Theology and Born Believers: The Science of Childhood Religion. 
Những phát hiện sẽ được công bố trong hai tập sách riêng rẽ do nhà tâm lý học TS. Barrett chủ biên trong Khoa học Nhận thức, Tôn giáo, Thần học và Tín ngưỡng Bẩm sinh: Khoa học về Tôn giáo Thời Thơ ấu.

Project Co-director Professor Roger Trigg, from the Ian Ramsey Centre in the Theology Faculty at Oxford University, has also written a forthcoming book, applying the wider implications of the research to issues about freedom of religion in Equality, Freedom and Religion (OUP). 
Đồng chủ trì dự án, GS. Roger Trigg, Trung tâm Ian Ramsey thuộc Khoa Thần học của Đại học Oxford cũng viết một cuốn sách đang chuẩn bị xuất bản, áp dụng những ứng dụng rộng hơn nghiên cứu các vấn đề về tự do tôn giáo Bình đẳng, Tự do và Tôn giáo (OUP).


Main findings of the Cognition, Religion and Theology Project: 
Những phát hiện chính của Dự án


Studies by Emily Reed Burdett and Justin Barrett, from the University of Oxford, suggest that children below the age of five find it easier to believe in some superhuman properties than to understand similar human limitations. 
Những nghiên cứu do Emily Reed Burdett và Justin Barrett, ĐH Oxford tiến hành cho thấy trẻ em dưới 5 tuổi dễ tin vào những lực lượng siêu nhiên hơn là hiểu những giới hạn tương tự ở con người


Children were asked whether their mother would know the contents of a box in which she could not see. Children aged three believed that their mother and God would always know the contents, but by the age of four, children start to understand that their mothers are not all-seeing and all knowing. However, children may continue to believe in all-seeing, all-knowing supernatural agents, such as a god or gods.
Những đứa trẻ được hỏi rằng mẹ của chúng liệu có biết bên trong hộp có gì khi bà hay cô ấy không thể nhìn thấy. Trẻ ba tuổi tin rằng mẹ mình và thần thánh luôn luôn biết mọi điều, nhưng khi lên bốn, nó bắt đầu hiểu rằng không phải lúc nào, không phải cái gì mẹ nó cũng nhìn thấy và cũng biết hết. Tuy vậy, đứa trẻ vẫn tiếp tục tin vào sự toàn năng của những thế lực siêu nhiên như thánh thần. 

Deborah Kelemen from Boston University finds both children and adults imbue the natural world with ‘purpose’. For instance, respondents were provided with three possible answers to the question of why polar bears are white. Adult respondents, who were obliged to supply answers quickly without time to think, instinctively gave answers that implied ‘purpose’ in the natural world. They would reply that polar bears were white for reasons of camouflage, rather than the more scientifically accurate mechanistic explanation that a polar bear fur lacks pigment, or the silly answer that polar bears have been bleached by the sun. 
Deborah Kelemen, ĐH Boston phát hiện cả trẻ em, cả người lớn nhuốm thế giới tự nhiên với "mục đích". Ví dụ, người ta cung cấp cho những người được hỏi ba phương án trả lời đối với câu hỏi tại sao gấu Bắc cực có màu trắng. Những người được hỏi là người lớn, những người có nghĩa vụ trả lời nhanh không có thời gian suy nghĩ một cách bản năng đưa ra câu trả lời hàm ý "mục đích" trong thế giới tự nhiên. Họ đã trả lời rằng gấu Bắc cực có màu trắng vì nguyên nhân ngụy trang, hơn là một giải thích khoa học hơn là bộ lông gấu Bắc cực thiếu sắc tố, hay câu trả lời giản dị hơn rằng gấu Bắc cực bị bạc màu do mặt trời.  


However, if the respondents were given more time to answer, they opted for a ‘mechanistic’ response i.e. that polar bears did not have pigment. The researchers conclude that the immediate, instinctive response was over-ridden by a scientific, reasoned response if participants had time to reflect. This research extends Kelemen’s previous research showing that children prefer purpose-based explanations: children were asked why rocks were pointed and were also found to choose answers that implied purpose, saying that rocks were pointed so the birds could sit on them. 
Tuy nhiên, nếu những người được hỏi có thêm thời gian để trả lời, họ chọn lựa một câu trả lời "cơ giới" ví dụ gấu Bắc cực không có sắc tố. Những người nghiên cứu kết luận rằng câu trả lời ngay lập tức, bản năng sẽ bị câu trả lời khoa học, hợp lý tràn qua nếu người tham gia có thời gian phản ứng. Nghiên cứu này đã mở rộng hơn nghiên cứu trước đây của Kelemen với kết quả trẻ em ưa những giải thích có tính mục đích hơn: trẻ em được hỏi tại sao đá lại nhọn và chúng cũng được cung cấp những câu trả lời gợi ý mục đích, nói rằng đá nhọn để chim có thể đậu trên đó.


Experiments involving adults, conducted by Jing Zhu from Tsinghua University (China), and Natalie Emmons and Jesse Bering from The Queen’s University, Belfast, suggest that people across many different cultures instinctively believe that some part of their mind, soul or spirit lives on after-death. The studies demonstrate that people are natural 'dualists' finding it easy to conceive of the separation of the mind and the body.
Những thực nghiệm dành cho người lớn do Jing Zhu của đại học Tsinghua (Trung Hoa) và Natalie Emmons và Jesse Bering, The Queen’s University, Belfast tiến hành đã chứng tỏ người từ những nền văn hóa khác nhau tin rằng một phần của tâm trí họ, linh hồn hay tâm trí vẫn sống sau cái chết vật thể. Những nghiên cứu cho thấy con người về bản chất là "lưỡng" và dễ tưởng tượng vào việc phân chi tâm trí và thân thể.


Project Director Dr Justin Barrett, from the University of Oxford’s Centre for Anthropology and Mind, said: ‘This project does not set out to prove god or gods exist. Just because we find it easier to think in a particular way does not mean that it is true in fact. If we look at why religious beliefs and practices persist in societies across the world, we conclude that individuals bound by religious ties might be more likely to cooperate as societies. Interestingly, we found that religion is less likely to thrive in populations living in cities in developed nations where there is already a strong social support network.’ 
Chủ trì dự án TS. Jusstin Barrett, TT Nhân học và Tinh thần, ĐH Oxford nói:" Dự án này có mục đích không phải để xác nhận sự hiện diện hay không hiện diện của thần linh. Nếu chỉ vì chúng ta khám phá ra rằng rất dễ để suy luận theo một cách đặc biệt không có nghĩa sự thật là như vậy. Nếu chúng ta tìm hiểu tại sao niềm tin và thực hành tôn giáo bắt rễ trong các xã hội trên thế giới, chúng ta kết luận rằng những cá nhân bị đóng khung bởi những sợi dây tôn giáo có nhiểu khả năng hợp tác xã hội hơn. Điều thú vị là, chúng tôi phát hiện ra rằng tôn giáo ít có khả năng hơn để phát triển mạnh trong cư dân thành phố ở những nước phát triển nơi vốn đã có mạng lưới hỗ trợ xã hội bền vững".

Project Co-Director Professor Roger Trigg, from the University of Oxford’s Ian Ramsey Centre, said: ‘This project suggests that religion is not just something for a peculiar few to do on Sundays instead of playing golf. We have gathered a body of evidence that suggests that religion is a common fact of human nature across different societies. This suggests that attempts to suppress religion are likely to be short-lived as human thought seems to be rooted to religious concepts, such as the existence of supernatural agents or gods, and the possibility of an afterlife or pre-life.’  
Đồng chủ trì dự án, GS. Roger Trigg, TT Ian Ramsey, ĐH Oxford  nói: " Dự án này đưa ra giả thiết rằng tôn giáo không chỉ là cái gì đó dành cho số ít làm vào ngày CN thay bằng đi chơi golf. Chúng tôi đã thu được một khối lượng lớn chứng cứ cho thấy tôn giáo là một yếu tố chung của bản chất con người ở các xã hội khác nhau. Điều đó thừa nhận rằng những cố gắng để đàn áp tôn giáo sẽ chất yểu  vì tư duy của con người xem ra bắt rễ trong những khái niệm tôn giáo kiểu như sự tồn tại của thế lực siêu nhiên hay thần thánh và khả năng về kiếp sau hay kiếp trước".

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Chuyện Chủ nhật 13 - Phóng viên dốt, BBT vừa dốt vừa vô trách nhiệm

Trên BAODATVIET.VN

Số phận hẩm hưu của 'An Nam tứ đại khí'
An Nam tứ đại khí là bốn kỳ quan, bốn vật quốc bảo của nước ta thời Lý, Trần bao gồm: Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng chùa Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh. Mặc dù là những vật quốc bảo song khi rơi vào tay giặc, tứ đại khí cái bị cướp, cái bị phá đi không còn hình dáng ban đầu.

Tháp Báo Thiên có tên gọi đầy đủ là Đại thắng tư thiên bảo tháp, được xây cất vào năm Đinh Dậu (1057) đời Lý Thánh Tông. Tháp cao 20 trượng (khoảng 70 m) và gồm 30 tầng (có tài liệu chép là 12 tầng), nằm trong khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên (nay ở vào khoảng bên phải đền Lý Quốc Sư đến đầu phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) nên còn gọi là tháp Báo Thiên.
Tháp Báo Thiên một thời là biểu tượng sự bền vững của nhà Lý.
Lý do để tháp được coi là một trong tứ đại khí do có số tầng chẵn biểu thị sự cân bằng, ổn định, tĩnh tại, bền vững như triều đình nhà Lý đầy khí thế, sẽ tồn tại dài lâu. Ngọn tháp đúc bằng đồng khắc ba chữ Đao Ly Thiên tỏ ý tưởng của đấng tối cao xông lên tận trời thẳm. Đỉnh tháp có tượng người tiên bưng mâm ngọc hứng móc ngọt làm thuốc cho vua; vì thế, được Nho thần danh sĩ miêu tả là: “Trấn áp đông tây cũng đế kỳ/Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy/Sơn hà bất động kình thiên trụ/Kim cổ nan nan lập địa chùng?. Dịch: (Trấn giữ đông tây vững đế kỳ/Tháp cao sừng sững thật uy nghi/Là cột chống trời yên đất nước/Vượt mọi thời gian chẳng sợ gì”.
Tuy nhiên, trận bão năm Mậu Ngọ (1258) đời Trần Thánh Tông đã làm ngọn tháp này bị đổ! Sau khi được trùng tu, tháp lại bị sét đánh sạt mất hai tầng về góc bên đông vào năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông. Đến tháng sáu năm Bính Tuất (1406) đời Hồ Hán Thương (84 năm sau khi được trùng tu lần thứ hai) đỉnh tháp lại bị đổ. Thời thuộc Minh (1414-1427), quân Minh đã cho phá tháp để chế súng. Chỗ tháp bị phá sau đó được đổ đất thành gò cao để dựng đàn tràng.
Chùa Một Cột là nơi chuông Quy Điền được đóng (đóng cái gì?).
Chuông Quy Điền được đúc trong lần sửa lại chùa Diên Hựu (chùa Một Cột, Hà Nội) vào tháng hai năm Canh Thân (1080) đời Lý Nhân Tông. Để đúc quả chuông này, vua Lý Nhân Tông đã cho sử dụng đến 12.000 cân đồng (tương đương với 7,3 tấn đồng bây giờ). Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng nó đã thành khí, không nên tiêu hủy, nhà vua bèn sai người vần ra khu ruộng sau chùa.
Vì khu ruộng này thấp trũng, có nhiều rùa đến ở, nên có tên là Quy Điền (ruộng Rùa), nhân đó gọi chuông là chuông Quy Điền. Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), chuông Quy Điền đã bị Vương Thông (nhà Minh) cho phá hủy để chế súng đạn, hỏa khí.
Tượng chùa Quỳnh Lâm thuộc chùa Quỳnh Lâm, xã Hà Lôi, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là một trong những ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất đời Trần. Tương truyền, tượng cao đến 6 trượng (khoảng 20 m). Thời giặc Minh xâm lược nước ta (1407-1427), chùa bị phá hủy, pho tượng bị cướp mang đi. Đầu thời Lê, chùa Quỳnh Lâm được dựng lại, nhưng đến đời Thiệu Trị (1841-1847) lại bị đốt trụi!.
Chùa Phổ Minh nơi nhắc nhở về chiếc Vạc Phổ Minh, một trong tứ đại khí. (Ảnh minh họa)
Vạc Phổ Minh được đúc vào tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262) đời Trần Thánh Tông, nhân dịp Trần Thái Tông (lúc đó là Thượng hoàng) về chơi Tức Mặc (nay thuộc về tỉnh Nam Định). Tại đây, Trần Thái Tông đã ban yến cho dân làng. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên được ban tước hai tư, lão bà thì được hai tấm lụa. Nhân đấy, đổi Tức Mặc làm phủ Thiên Trường. Dựng cung Trùng Quang để các vua sau khi đã nhường ngôi về ở; lại dựng một cung riêng gọi là cung Trùng Hoa cho Tự quân (vua mới) khi đến chầu Thượng hoàng thì ngự ở đó. Đặt người chức dịch ở hai cung ấy để phòng khi sai khiến, hầu hạ và chức lưu thủ để trông coi. Phía Tây cung Trùng Quang dựng chùa Phổ Minh. Tại đây cho đúc một chiếc vạc lớn và khắc bài minh vào vạc.
Tương truyền, miệng vạc dày và rộng đến nỗi hai người có thể chạy nhảy và đi lại trên đó. Cùng với chuông Quy Điền, tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) khi bị vây ở Đông Quan, Vương Thông đã cho phá vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí.
Cũng giống như số phận tứ đại khí, bốn ngôi chùa liên quan cũng có số phận khá buồn. Chùa Quỳnh Lâm bị đốt trụi thời Thiệu Trị, chùa Sùng Khánh thời thuộc Pháp cũng bị phá để xây Nhà thờ Lớn, hiện chỉ còn chùa Diên Hựu (Một Cột) và chùa Phổ Minh.
Blogger  Gốc Sậy bình: “Thật quá hẩm hiu khi tấm ảnh được chú thích ‘Tháp Báo Thiên một thời là biểu tượng sự bền vững của nhà Lýlại là tháp Hòa Phong nay vẫn còn đứng ở chếch cửa Bưu điện Hà Nội; ảnh ‘Chùa Phổ Minh nơi nhắc nhở về chiếc Vạc Phổ Minh‘ lại là ảnh chụp chùa Quỳnh  Lâm…” http://anhbasam.wordpress.com/

Sao lại chú thích  "Chùa Một Cột là nơi chuông Quy Điền được đóng"?

Và trên VIETNAMNET

Những giếng vuông cổ bí ẩn hơn 600 tuổi
- Những giếng nước cổ hơn 600 năm tuổi ở xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc không chỉ đặc biệt bởi hình vuông ở miệng giếng mà còn mang những bí ẩn qua các câu chuyện của người dân trong vùng.
Không như giếng ở các vùng nông thôn miền Bắc, những chiếc giếng cổ ở Bá Hiến đều có miệng hình vuông được ghép từ 4 phiến đá hình chữ nhật (còn gọi là tang giếng) với độ sâu từ 4 đến 7m và quanh năm đầy ắp nước.
Từ lâu người dân trong vùng vẫn cho rằng những giếng này do người Trung Quốc làm nên gọi là giếng “Tàu” do trên mỗi giếng nước đều có khắc chữ Hán. Nhưng mới đây ban văn hóa xã có nhờ những chuyên gia Hán - Nôm của tỉnh về dịch nghĩa thì được biết giếng được làm từ thời Hồng Đức, cách đây hơn 600 năm.
Hiện nay còn chừng hơn chục chiếc giếng cổ nằm rải rác chủ yếu ở 4 thôn: Thích Chung, Quang Vinh, Thiện Chi và Bá Hương nhưng không phải chiếc nào cũng nguyên vẹn. Theo các cụ cao niên trong xã thì vì nhiều lý do có những giếng cổ đã bị lấp không còn vết tích. Số khác người dân đã lấp rồi nhưng sau vì các giếng đào mới đều cạn nước vào mùa khô nên lại phải khơi lại giếng cổ luôn đầy ắp nước quanh năm.


Chiếc giếng cổ thuộc cụm đình chùa Giao Sam, thôn Thích Chung vẫn còn gần như nguyên vẹn với hình vuông đặc trưng của miệng giếng.

Những hình sóng lượn trên các tấm đá làm tang giếng theo các cụ cao niên của thôn cho biết đó là các dấu tích của việc mài dao kiếm từ hàng trăm năm.

Các phiến đá được ghép lại với nhau bằng mộng như đồ mộc qua thời gian hàng trăm năm đã vênh nhau.

Những vết dây buộc gàu kéo nước hằn sâu vào các phiến đá làm tang giếng.

Theo các chuyên gia Hán – Nôm thì chiếc giếng này có niên đại Hồng Đức 1490.

Cứ đến mùa khô, khi các giếng trong các gia đình đều cạn sạch nước thì bà con trong thôn Thích Chung lại ra chiếc giếng cổ này lấy nước.

Chiếc giếng cổ này ở thôn Thiện Chi trước đây đã lấp, cách đây 3 năm do khan hiếm nước ở các giếng mới đào, chính quyền thôn khơi lại giếng cổ này nhưng xây bằng gạch với miệng giếng tròn. Tuy nhiên các phiến đá cổ dùng làm tang giếng vẫn được dựng xung quanh sân giếng.

Anh Dương Văn Chiến ở thôn Thiện Chi cho biết nhiều người ở nơi khác đến hỏi mua các phiên đá nhưng dân làng kiên quyết không bán vì họ coi nó là hồn cốt của làng.

Chiếc giếng cổ nằm trong vườn nhà ông Dương Văn Lại ở thôn Bá Hương vẫn còn được giữ gần như nguyên vẹn. Chị Dương Thị Hà, con dâu ông Lại cho biết chị vẫn hàng ngày dùng nước ở giếng này, vào mùa khô các giếng khác đều cạn người dân trong xóm thường giặt giũ, xin nước ở giếng này.

Giống như mọi giếng cổ trong vùng, ở tang giếng cũng được khắc niên đại bằng chữ Hán.

Chiếc giếng cổ nằm ven đường làng ở thôn Thiện Chi này không còn dấu tích của chiếc giếng cổ. Được chính quyền thôn khơi lại sau nhiều năm đã lấp để giải quyết tình trạng thiếu nước vào mùa khô và hoàn toàn xây bằng gạch.

Theo người dân trong thôn thì các phiến đá làm tang giếng cổ vẫn chìm sâu dưới lòng giếng.

Nằm ven đường làng thuộc thôn Thích Chung, chiếc giếng cổ này cũng được khơi lại sau nhiều năm bị lấp vùi. Chiếc giếng vẫn được “phục chế” theo dáng cũ, miệng vẫn vuông nhưng xây bằng gạch.
Một chiếc giếng ven đường làng đã bị lấp từ lâu vẫn còn lại phiến đá làm tang giếng “Trơ gan cùng tuế nguyệt”. Các cụ cao niên trong vùng cho biết các giếng cổ đồng loạt bị lấp trong thời kỳ vận động xã viên vào hợp tác xã vì cho rằng đó là tàn tích của chế độ phong kiến.


blogger Gốc sậy bình: “Trình độ của các PV Văn hóa (và cả BBT) bây giờ thật đáng báo động.  Ngoài chuyện ảnh trong bài về Tứ đại khi của Đất Việt còn là chuyên ‘Những giếng vuông cổ bí ẩn hơn 600 tuổi’. Nhà cháu đã đến khảo sát hệ thống giếng này.  Đọc hết chả thấy BÍ ẨN ở đâu.  Có nhẽ cho thêm phần ly kỳ và rùng rợn PV bịa chuyện ‘giếng ‘Tàu’ và ‘các dấu tích của việc mài dao kiếm từ hàng trăm năm.’ Dân làng từ xưa chỉ biết quốc ngữ hay sao mà phải nhờ chuyên gia Hán Nôm mới đọc được chữ khắc ở thành giếng? Còn các vệt mòn trên miệng giếng đều là vết dây gầu, dao kiếm nào?  Bậy bạ nhất là dùng Dân trong vùng và các cụ cao niên làm ‘bình phong’.  Nhà cháu đã phản hồi ở VNN đề nghị sửa mà vẫn chưa hết bức xúc nên phải xả tiếp.”
 

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

MAI BẦU CỬ RỒI, HƯỞNG ỨNG TÍ!

"NGÀY VUI BẦU CỬ"...
Mai Thanh Hải Blog
-Vừa đăng bài "Trước ngày hội bắn", đã có bạn đọc cung cấp: "Nghe bài hát NGÀY VUI BẦU CỬ đi. Kinh hoàng!" và kể: Ở nơi bạn đọc sinh sống, cả tháng nay phải nghe bài hát này. Không chỉ qua hệ thống loa phóng thanh mà còn trên Chương trình Truyền hình địa phương và màn hình lớn vật vã ở Quảng trường Trung tâm TP suốt ngày phát với công suất cực lớn, khiến mấy cửa hàng bán cà phê - giải khát xung quanh đó phải dọn đồ, đóng cửa vì không khách nào dám vào uống nước.

Mình tò mò tìm bài hát và nghe thử. Chết thật, bây giờ mới biết có bài hát thế này. Mình đúng là phải tìm tòi thêm về ca nhạc mất. Nghe xong, thật không biết nói gì. Mọi người nghe thử tý đi. Nhưng nhớ nghe xong, đừng mắng mình nha. Mình không sáng tác và cũng không biết hát bài này...

Nhớ mỗi câu điệp khúc: "Đi bầu! Đi bầu! Ta đi bầu!". Ke! Ke! Ke!..
---------------------------------------------------------------------------


NGÀY VUI BẦU CỬ 

Sáng tác: Lê Đăng Khoa 
Hôm nay đi bầu cử, bầu trời trong xanh hơn
Hôm nay đi bầu cử, màu cờ thắm tươi hơn
Hôm nay đi bầu cử trong niềm vui hân hoan
Hôm nay đi bầu cử trong niềm vui dâng tràn

Đi bầu ta đi bầu cùng mọi người hướng tới tương lai
Ta đi bầu đi bầu lựa chọn người có đức có tài
Đi bầu ta đi bầu là nghĩa vụ của mỗi công dân
Ta đi bầu đi bầu là quyền lợi của công dân mình
Nguồn: http://maithanhhaiddk.blogspot.com/2011/05/ngay-vui-bau-cu.html
XƯA
NGÀY NHỎ, MỖI LẦN CHUẨN BỊ TỔ CHỨC BẦU CỬ LÀ LŨ TRẺ CON BỌN MÌNH ĐƯỢC ĐI CỔ ĐỘNG, VUI ƠI LÀ VUI. CẢ LŨ RỒNG RẮN, TRỐNG CỜ ĐI VÒNG QUANH. CHẢ NHỚ HỒI ĐÓ ĐI HÔ NHỮNG GÌ NỮA, CHỈ THẤY THÍCH VÌ TỐI ĐÓ ĐƯỢC RA KHỎI NHÀ ĐI CHƠI, KHÔNG PHẢI NGỒI HỌC BÀI!
NAY
TỪ SÁNG SỚM LOA ĐÃ ĐỌC TIỂU SỬ CÁC ĐỒNG CHÍ ỨNG VIÊN, MẶC DÙ MỖI NHÀ ĐÃ ĐƯỢC PHÁT MỘT TẬP TÀI LIỆU. TRONG KHU MÌNH CÓ MỘT BÁC NGƯỜI QUEN, CHẮC CHẢ BỎ CHO BÁC NÀY VÌ QUÁ BIẾT BÁC LÀM ĐƯỢC GÌ VÀ KHÔNG LÀM ĐƯỢC GÌ. CÓ MỘT CHỊ ẢNH TRÔNG XINH XINH, NHƯNG LẠI ĐANG CÓ VỤ LÙM XÙM TRONG DƯ LUẬN VÌ CHUYỆN KHAI BẰNG CẤP GÌ ĐÓ Ứng cử viên ĐBQH Châu Thị Thu Nga: Không khai man lý lịch! http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Chitiet=30502&Style=1.
MỆT QUÁ, LẠI PHẢI NGHIÊN CỨU KỸ ĐỂ BỎ PHIẾU CHO TRÚNG.
SÁNG RA CHỢ TÌM MUA HOA VỀ THẮP HƯƠNG. CHẢ THẤY CON BÉ HÀNG HOA MỌI KHI MÌNH HAY MUA ĐÂU, ĐANG LẨM BẨM TRÁCH NÓ ĐI MUỘN THÌ NÓ LÓ RA TỪ MỘT KHE NGÕ HẸP: "EM Ở ĐÂY, CHỊ ƠI". ĐANG ĐỊNH TRÁCH SAO MÀY LẠI BẮT CHƯỚC MẤY ANH CẢNH SÁT GIAO THÔNG NẤP VỚI NIẾC THẾ THÌ NÓ PHÂN TRẦN:"MẤY HÔM NAY CHUẨN BỊ BẦU CỬ, HỌ ĐI RÁT QUÁ, EM PHẢI TẤP TẠM VÀO ĐÂY".
ĐÃ HIỂU!
VÀ ĐÃ HIỂU TẠI SAO CHỢ ĐÊM TẤP NẬP CHÔ KHU NHÀ MÌNH MẤY HÔM NAY TỊNH CHẢ CÓ BÓNG NÀO.
CHẮC LẠI CÓ NGƯỜI ĐỨT BỮA!

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011

Loa phóng thanh của Việt Nam – bị cho ra rìa nhưng vẫn không bị bịt miệng

Ngày 19-5-2011


HÀ NỘI — Một giọng đàn bà từ trên trời chõ xuống vùng ngoại vi tất bật của Hà Nội, lấn át dòng xe cộ ồn ào đinh tai nhức óc, để cất tiếng nói với người dân Việt Nam sinh sống dọc hai bên đường phố.
Bầu cử Quốc hội là ngày vui của toàn thể nhân dân. Đi bầu cử là quyền lợi và nghiã vụ của mỗi công dân”, cái giọng chán ngắt như trong tiểu thuyết George Orwell vang lên khắp nơi trước khi tiếng nhạc hiệu the thé của Đảng Cộng sản mở đầu cuộc phát thanh.
Việt Nam đang tiến vào cuộc bầu cử ngày 22 tháng Năm trong một quốc gia độc đảng, thế nhưng giọng phát thanh không chỉ dừng lại ở chuyện chính trị.

Nào tiêm chủng, nào lĩnh trợ cấp và thậm chí cả chuyện quét dọn đường phố nữa – nếu như có một công việc cần làm, thì hệ thống loa phát thanh công cộng từ hàng chục năm rồi đứng ra hoạt động để dắt dẫn 87 triệu dân của cả nước được biết mà làm.

Cực kỳ ngán ngẩm. Chúng tôi không chịu được, nhưng chẳng biết làm gì nổi,” lời một chủ cửa hiệu 50 tuổi sống ngay bên dưới chiếc loa, ông ta sợ không dám xưng tên tuổi sau khi đã nói lời bình phẩm như vậy.

Được bắt đầu xây dựng từ những năm 1950, các phát thanh viên đã giúp mọi người bằng những cuộc báo động máy bay Mỹ thời Chiến tranh, nhưng rồi từ đó cứ tiếp tục và chỉ còn là những trò tuyên truyền thời thượng trộn với những chuyện quan liêu khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm, Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!” là điệp khúc điển hình vào những dịp có tầm quan trọng quốc gia khi lời lẽ loa đài càng thêm đắc dụng, thí dụ như vào ngày Quốc khánh hoặc ngày sinh nhật đảng cầm quyền.

Thế nhưng trong cái xã hội ngày càng sử dụng Internet và điện thoại di động thông minh, ít ai tỏ ra còn thích lắng nghe loa đài công cộng.

“Chẳng ai chú ý đến nó nữa,” lời của Lê Thị Ngọc Anh, sinh viên quản trị kinh doanh 22 tuổi, người ở ngoại vi thủ đô.
Tôi không cho rằng loa đài còn có hiệu lực gì, khi mà ba bề bốn bên đều ồn ào như thế,” cô nói. “Tôi không nghĩ rằng mọi người trong gia đình tôi có chú ý đến những chiếc loa đó.”

Với những người khác, nhạc hiệu đều đặn hai lần một ngày không chỉ là một sự lỗi thời hoặc một sự phiền hà nho nhỏ – đó còn là một nguồn ô nhiễm gây ra bởi tiếng ồn dai dẳng.
Họ mở loa phóng thanh quá sớm, thế là cả phố phải thức dậy,” cô thợ may Trần Thị Bích nói với phóng viên AFP trong lúc tay vẫn múc cháo bí hoặc cháo sắn nóng hôi hổi cho cô con gái và cho ông chồng.

Người đàn bà 50 tuổi, nhà ở bên kia đường cách cái loa phóng thanh chỉ một quãng ngắn ném hòn sỏi cũng tới, nói là bà “không chịu đựng nổi” và không sao quen được với tiếng loa bắt đầu quá sớm, thường là vào quãng 6 giờ 30 sáng.
Tôi chẳng biết làm cách gì nữa. Có thể chỉ riêng tôi thấy khó chịu vậy thôi, còn những ai khác thì thấy chẳng có gì để phản đối cả,” bà thở dài nói.

Nhưng các quan chức thì rất mau mắn trong việc bảo vệ hệ thống loa đài này.
Vâng, hệ thống đó cũ kỹ, bởi vì đây là một quốc gia tương đối nghèo,” đó là lời ông Phạm Quốc Bản, giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông thuộc Ủy ban Nhân dân Hà Nội khi trả lời phỏng vấn.
Nguốn lực của chúng tôi có hạn, chúng tôi không có tiền để gõ cửa từng nhà nhân dân. Trong một cộng đồng này, chúng tôi có hàng trăm nghìn người phần lớn là những người lao động bình thường, vậy làm cách gì chúng tôi có thể đem thông tin đến cho họ được kia chứ?”
Loa phóng thanh không phải là công cụ duy nhất của cái nhà nước kiểm soát dân chặt chẽ này: Việt Nam đầy những Công an mật vụ, các cuộc biểu tình đều bị quay phim, những cuộc xử án rất nhạy cảm đều không cho công chúng tới dự và nhà cầm quyền đều đặn nghe trộm điện thoại.
Báo chí và các phương tiện thông tin đều gắn với nhà nước, cái nhà nước Việt Nạm xếp thứ 165 trong số 178 quốc gia vào năm 2010 về chỉ số tự do báo chí tiến hành bởi nhóm vận động tự do báo chí Phóng viên Không Biên giới.
Phạm Quốc Bản nhấn mạnh rằng loa truyền thanh là những “công cụ thông tin” của địa phương và không thuộc về hệ thống phương tiện truyền thông quốc gia, chúng được tổ chức theo từng phường hoặc từng thôn trên cả nước.
“Rồi thế nào chúng cũng đuợc thay thế bằng những công cụ kỹ thuật khác,” ông nói.
Vị quan chức này đăm chiêu nhớ lại thời chiến tranh khi cô phát thanh viên được coi là “biểu trưng của Hà Nội”, ông nói: “Người thế hệ tôi vẫn còn nhớ giọng nói của cô ấy đấy.”

Giờ đây, dù có một số người thấy loa truyền thanh làm họ khó chịu và không thích hợp, song lại có những người khác coi hệ thống loa truyền thanh là hữu hiệu, thậm chí là mạch âm thanh mãi mãi hiện hữu trong đời mình.
Tôi thích nghe tiếng loa truyền thành, không phải vì nghe nhiều thành quen đâu. Vắng tiếng loa truyền thanh thì lại thấy nhớ. Nghe cũng hay hay vui vui,” đó là lời bà bán hàng rong Nguyễn Kim Thanh, 51 tuổi, vừa nói vừa nhể ốc ăn chơi.

Với hầu hết những ai viếng thăm đất nước Việt Nam, khó có thể nói hệ thống loa này là một nguồn an ủi cho được – mà đúng hơn đó là biểu tượng lỗi thời của một chế độ sống bằng tuyên truyền và hoang tưởng.
“Thật sự chẳng còn ai cần đến kiểu truyền tin này nữa,” đó là lời một nhà phân tích phương Tây, người đã sống ở Việt Nam trong 15 năm ròng.
“Tại sao lại duy trì cái hệ thống với dây dợ chằng chịt khắp nơi như thế? Rất có thể, đó chỉ để nhắc nhớ rằng, có một con mắt đang kiểm soát bạn ở khắp chốn cùng nơi.”
Người dịch: Đại Phúc

Đọc bài này lại nhớ đi họp tổ dân phố các bác cả hưu, chuẩn bị hưu và chưa hưu rôm rả bàn chuyện  phường mình (được cái ở tổ nhiều chức sắc về hưu, nhưng không thấy các bác mắc bệnh kể chuyện ngày xưa và mẹc xà lù cái lũ lãnh đạo bây giờ) . Nhân lúc rôm rả, mình rụt rè đề nghị lãnh đạo tổ hai chuyện:
1. Đề nghị loa phường nói nhẹ nhàng và ngày nghỉ mở muộn một chút cho bà con nhờ
2. Nhà ai nuôi chó xin đừng thả đi toalet linh tinh
Giờ loa phường có bớt nhưng chó vẫn vui đâu toalet đấy!

Một người nước ngoài làm việc ở Việt Nam, rất thích Việt Nam, đặc biệt là thích con gái Việt Nam. Bạn ấy tâm sự với một người bạn của mình: "Anh ạ, em rất thích đất nước Việt Nam, em sẵn sàng xin gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam nếu Đảng làm được hai điều. Một là dẹp loa phường và hai cấm bóp còi xe trên đường phố".
Hic, mộng vào Đảng của cậu này có mà đến tết Công Gô!

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

MỤC THỔ SẢN trong sách ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ

        
      Kính xét: sản vật phương Nam, phẩm loại rất nhiều, so với phương Bắc, thì trong số Bản thảo cương mục chép phẩm vật phương Nam chiếm đến quá nửa, nhưng phương Nam phương Bắc tên gọi khác nhau, khó nhận rõ được.

      Nay kính dịch các thi tập thánh chế các đời Minh Mệnh và Thiệu Trị, lại tham khảo các sách: Thi kinh tập tuyển, Lễ kí Nguyệt Lệnh, Nam phương thảo mộc trạng của Kê Hàm nhà Tấn, Bản thảo cương mục của Lý Trân nhà Minh, Nông chính toàn thư của Từ Quang Khải, Quần phương phả của Lý Tượng Tấn, Bát thiên tự điển, Cách trí kính nguyên của Trần Nguyên Long, An Nam chí của Cao Hùng Trưng, Khâm châu ký của Kê Nhiên nhà Tống, Loại dịch vật bộ của Diêu Bồi Khiêm, Ô châu cận lục của Dương Văn An nhà Mạc, Phủ biên tạp lụcVân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn nhà Lê, Dược tính chỉ nam, của Tuệ Tĩnh thiền sư, Thực vật tiệp lục của Nguyễn Công Triều, Gia Định thông chí của Trịnh Hoài Đức bản triều, Sĩ hoạn tu tri lục của Nguyễn Công Tiệp, Nghệ An phong thổ ký của Bùi Dương Lịch. Lại tìm hỏi rộng đến những người dã lão điền phu để biết rõ tên gọi, biên rõ hình loại. Phàm phẩm vật có chép trong các sách, đều chưa rõ xuất xứ, nếu không, thì vâng chép tên được vua cho, hoặc được vua đổi, hoặc vẫn theo tên tục cũ, hoặc vâng chép tên chữ mà chép luôn cả tên tục để tiện kê cứu. Tựu trung vật nào chép đầy đủ trong “Thừa Thiên chí” mà các tỉnh khác cũng có, thì không chép lại ở các tỉnh chí nữa, duy tỉnh nào có thổ sản đặc thù hoặc nhiều đặc biệt, hoặc sung lệ cống lệ thuế thì mới chép.


                                                LOẠI CỐC
     Loại lúa canh: tục gọi lúa tẻ, Bản thảo chép rằng, ít nhựa không dính gọi là “canh”; Lễ ký chép “gia sơ”, tức thứ lúa này. Năm Minh Mệnh thứ 17, đúc cửu tỉnh, khắc hình tượng vào Cao đỉnh.

      Lúa Minh Xuân: thân lúa cao, bông lúa dày, hạt thóc vàng lợt mà hơi dài, gạo trắng nấu cơm rất thơm mà dẻo, tháng 11 cấy, tháng 4 chính, ưa ruộng thấp. Lúa ở tổng Bái Ân, đạo Quảng Trị, hằng năm phải cống.

      Lúa thơm: tục gọi lúa da vàng, thân lúa cứng, bông lúa dày, hạt thóc hơi dài, gạo rất trắng, nấu cơm rất thơm mềm. Lại có một loại tục gọi de trắng, hạt thóc hơi vàng, gạo trắng và thơm, tháng 10 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng thấp. Các tỉnh đều có nhưng chỉ có lúa sản ở xã An Cựu, huyện Hương Thủy là hơn cả, cũng gọi là “lúa hương An Cựu”, hàng năm phải cống.

       Lúa móng chim: Gia định thông chí gọi là điểu trảo đạo, thân lúa thấp mà nhỏ, bông lúa ngắn và thưa, hạt thóc như hình móng chim. Hạt gạo nhọn hai đầu, sắc trắng, nấu cơm thơm mềm. Tháng 10 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng thấp. Các tỉnh đều có nhưng lúa ở tỉnh Vĩnh Long Nam Kỳ là hơn cả, hàng năm phải cống.

       Lúa chiêm: Cương mục chép là chiêm đạo, tục gọi lúa chiêm, thân lúa cứng mà thấp, bông lúa dày, hạt thóc hơi tròn, gạo trắng nấu cơm trước mềm sau rắn. Tháng 11 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng trũng, các tỉnh đều có.

         Lúa mạn: Mạn đạo, tục gọi lúa mạn, thân lúa mềm, bông lúa dày, hạt thóc hơi dày, gạo đỏ, nấu cơm rắn. Tháng 10 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng trũng, các tỉnh đều có.

         Lúa chiêm: vâng mệnh chép tên chữ Hán là hồng chiên đạo (dưới đây đều thế), thân lúa mềm, bông lúa to, hạt thóc hơi đen mà tròn, gạo đỏ. Có 2 loại: một loại không có râu, cơm mềm; một loại có râu, cơm rắn. Tháng 5 cấy, tháng 8 chín, ưa ruộng sâu và ruộng nước mặn, các tỉnh đều có. Ngoài ra, còn có lúa tục gọi là lúa can xa, ưa nước mặn, có lẽ đồng loại mà khác tên.
        
         Lúa héo trắng: tảo bạch đạo, thân lúa thấp, bông lúa dày, hạt thóc hơi dài, gạo trắng, cơm mềm, tháng 5 cấy, tháng 8 chín. Lại có một loại tục gọi lúa hẻo rằng, hạt thóc có vằn, gạo đỏ, cơm rắn, tháng 11 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng trũng, các tỉnh đều có, nhưng lúa tổng Bái Ân Quảng Trị là tốt nhất.

         Lúa cánh: hương canh đạo, thân lúa cao và cứng, bông lúa dài mà thưa, hạt thóc và gạo đều trắng, cơm mềm mà thơm, tháng 5 cấy, tháng 11 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có.

         Lúa ba trăng: Tam nguyệt đạo, có tên nữa là lúa thai, thân lúa thấp, bông lúa ngắn, hạt thóc hơi tròn, hạt gạo hơi đỏ, cơm mềm, tháng 5 cấy, tháng 8 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có. Theo Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, thì giống lúa này trồng ở Nghệ An, vì từ lúc cấy đến lúc chín chỉ có ba tháng nên gọi tên thế.
        
         Lúa bát ngoạt: bát nguyệt đạo, thân lúa thấp, bông lúa dài, hạt thóc to, gạo trắng, cơm mềm, tháng 5 cấy, tháng 8 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có.

         Lúa trắng: bạch đạo, thân lúa cao mà cứng, lá to hạt sai, hạt thóc tròn mà mỏng vỏ, gạo rất trắng, cơm mềm dẻo, tháng 5 cấy, tháng 9 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có.

         Lúa lăng: hồng lăng đạo, thân cao, bông lớn, hạt thóc hơi dài, gạo đỏ, nấu cơm trước mềm sau rắn, tháng 5 cấy, tháng 7 – 8 chín, ưa ruộng cao; từ Quảng Trị trở vào Nam đều có. Giống lúa này vỏ dày, gạo ít, chỉ vì chín sớm nên người ta thích trồng.

         Lúa dung: phù dung đạo, thân cứng, gié dài, hạt thóc hơi vàng, gạo trắng, cơm mềm, tháng 5 cấy, tháng 11 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có.

         Lúa chày chày: vãn đạo, có 2 loại đỏ và trắng, loại trắng bông ngắn, hạt thóc dày; loại đỏ, gié dài, hạt thóc thưa, cơm đỏ, tháng 5 cấy, tháng 12 chín, ưa ruộng khô. Từ Quảng Nam trở vào Nam, cấy nhiều giống lúa này.

         Lúa đen: ô tiên đạo, thân mềm, bông dày, hạt thóc hơi tròn, hạt gạo nhỏ mà dày, sắc trắng, cơm mềm, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có.

         Các thứ lúa ở trên, nhà nông đều tùy theo thổ nghi mà cấy. Ngoài ra tục còn gọi lúa thốc, lúa vàng, lúa trĩ, lúa nhự, lúa cú hiên, lúa viện, chủng loại còn nhiều, không sao chép hết được.

          Xét: Gia Định thông chí của Trịnh Hoài Đức, có các thứ lúa tạo, lúa sá, lúa móng tay, lúa mô cải, lúa kha đông, lúa kha de, lúa tráng nhất, lúa chàng cô, v.v... Các thứ lúa này thì lúa tạo là nhất, thứ đến là lúa kha de. Lại xét Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn thì các thứ lúa có tên gọi rất nhiều, xin phụ lục sau đây:

          - Lúa sài đường: thân mềm yếu, hạt lúa đỏ mà dài và nhọn, vỏ dày, gạo trắng mà dẻo.
         
          - Lúa bồ lộ: thân cứng, hạt thóc trắng, hơi tròn, vỏ mỏng, gạo lẫn sắc đỏ và trắng, cơm rắn

          - Lúa đá: cũng như lúa bồ lộ, rất dễ trồng, không kì đất xấu tốt, thân lúa cao lớn và thẳng, bông lúa chia thành vài ba chạc, chín muộn, gạo trắng, nhiều nhựa dính và mềm, hợp giã bột.

          - Lúa chiêm di: mạ chậm sinh, thân mềm, nên cấy thay đổi ruộng, tính không sợ nước, bị ngâm hàng tháng vẫn trổ bông như thường, cơm rất mềm dẻo.

          - Lúa chiêm dự: lá to, bông thưa, ưa ruộng nhiều màu, thóc đỏ, gạo trắng, cơm mềm.

          - Lúa chiêm vàng: thân cao, lá to, gió mưa không đổ, bông lúa hơi to, ưa ruộng nhiều màu, hạt thóc đỏ, gạo không trắng lắm, cơm rắn.

          - Lúa chiêm bầu: rất dễ trồng nên cấy thưa, ưa ruộng có thủy triều, hạt thóc và gạo vừa to vừa đỏ, cơm rất rắn.

          - Lúa chiêm hom: có ba loại: một loại hạt thóc nhỏ và dài, sắc đỏ, có râu; một loại sắc lờn lợt, không có râu, nhiều lông nhỏ; một loại hạt thóc to, sắc đỏ, có râu, rất ưa ruộng lầy. Ba loại lúa này gạo đều trắng, rất nhiều nhựa, không giã làm bột được, nấu cơm cũng lâu chín.

          Tám loài lúa trên, đều hợp vụ hạ.
         
          Lúa tám xoan: thân cao, bông dài và mềm, hạt thóc thưa mà nhỏ, hơi dài, sắc vàng, gạo rất trắng, vị thơm ngon.
     
          Lúa thông: có tên nữa là thảo trĩ, một tên là ô canh, thân nhỏ và yếu, hay đổ. Có hai loại, một loại hạt thóc lớn, sắc vàng, gạo trắng; một loại hạt thóc lớn, sắc trắng, gạo rất đỏ.

          Lúa bầu trĩ: hạt thóc có điểm sắc trắng, cơm mềm hợp giã bột.

          Lúa cổ tày: tên nữa là chạu sành, lại tên nữa là trĩ muộn. Ưa ruộng không cao không trũng, rò lúa nhỏ mà thấp, bông hơi cứng. Có hai loại: một loại sai hạt, hạt gạo nhỏ và đỏ, tục gọi hoa khế, cơm mềm vị nhạt; một loại hạt thóc nhỏ, sắc trắng, không được sai hạt, cơm rắn, vị lại nhạt lắm.

          Lúa bát lùn: thân lúa thấp, hạt thóc nhỏ, gạo trắng, cơm ngon, để lâu vẫn mềm.

          Lúa bát lại: có tên nữa là tám quảng, thân lúa cao, hạt thóc mịn và dẹp, sắc vàng, gạo không trắng lắm.

          Lúa bát sinh: có tên nữa là tháp mạ, một thân đẻ ra bốn năm thân, hạt thóc sắc vàng, bên cạnh hơi đen, gạo trắng.

          Lúa bát râu: hạt thóc có râu vàng, dài chừng một tấc, gạo trắng.

          Lúa cánh: Thân lúa dày, hạt lúa to mà dẹp, chín sớm, gạo trắng, vị thơm, lúc lúa đang thì con gái, đi qua ruộng cách 5 – 6 bước, cũng ngửi thấy thơm.

          Lúa hiên: thân cao, bông dài, có hai loại: loại chín muộn thì gạo trắng, vị thơm và mềm; loại chín sớm thì gạo đỏ, cơm rắn lắm.

          Lúa nghệ: có tên nữa là lúa hiên nghệ, thân lúa cao, bông lúa lớn, hạt sai, sắc đỏ, gạo hơi vàng, cơm dẻo.

          Lúa di: ưa ruộng cao, nhiều màu; thân lúa thẳng, bông lúa dày, hạt sai, thóc nhỏ và dẹp, gạo trắng, thổi cơm đấu gạo này có thể bằng 5 đấu gạo khác.

          Lúa sóc: cũng giống lúa sài đường.

          Lúa dự: thân lúa ngắn, bông lúa dài, thóc nhỏ, gạo trắng và thơm, hợp giã bột.

          Lúa dự hom: hạt thóc nhỏ, có lông, gạo rất trắng, vị thơm nồng, hơi có chất độc, đàn bà đẻ ăn bị tắc mạch sữa.

          Lúa mềm: hạt thóc tròn và to, có râu, vỏ nhẵn, gạo trắng, vị thơm như gạo nếp, hợp giã bột.

          Lúa trĩ nước: rò lúa cao và cứng, ưa ruộng thấp, chín muộn, thóc và gạo đều đỏ, cơm hơi rắn.

          Lúa câu: thân ngắn, bông nhỏ, gạo rất đỏ, ưa ruộng cao, từ lúc cấy đến lúc chín chỉ 40 ngày, cơm rắn.

          Lúa bát trâu: thân lúa cứng, thochs vừa vàng vừa đen, gạo trắng, cơm rắn.

          Lúa ếch: cấy về mùa hè hay mùa thu, cấy sớm hay muộn đều được, tháng 4 cấy, tháng 7 gặt, hạt thóc dài mà trắng, hạt gạo hơi nhỏ, nấu cơm vị đậm, no lâu.

           Lúa mộ: sản xuất ở Thái Nguyên, ưa ruộng đồi, thân lúa to, hạt thóc nhỏ, gạo đỏ, khi trồng, tỉa hạt như tỉa ngô.

           Hai mươi mốt thứ lúa kể trên: hợp mùa thu. Xét Tu tri lục của Nguyễn Công Tiệp, chép về số hạt thóc, thì thóc ở Thừa Thiên mỗi năm là 79.500 hạt. Thóc ở Nam Kỳ mỗi tháng 72.246 hạt, thóc ở Bắc Kỳ mỗi tháng 56.323 hạt.
          
           Loại lúa nếp: theo Bản thảo, thì có nhựa dính gọi là nhu (nếp) cũng gọi là đồ, có thể dùng để cất rượu, thổi xôi, nấu chè và rang cốm. Năm Minh Mệnh đúc cửu đỉnh, khắc hình tượng vào Nhân đỉnh.

           Nếp voi: cự nhu (tên do vua Minh Mệnh mới đổi): thân lúa cao, bông thưa, hạt thóc tròn và lớn, được nhiều gạo, sắc trắng, cơm mềm, tháng 10 cấy, tháng 3 tháng 4 chín, ưa ruộng trũng. Thứ nếp này bắt đầu sản xuất ở Nghệ An, nay các tỉnh đều có. Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn chép “Tượng nhu” tức lúa này.

           Nếp cau: viên nhu, thân lúa cao, bông lúa dày, hạt thóc dài và lớn, được rất nhiều gạo, gạo trắng, cơm rất dẻo, tháng 10 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng trũng. Thứ lúa này bắt đầu sản xuất ở Nghệ An, nay các tỉnh đều có. Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn chép là ba tiêu nhu (nếp chuối) tức là lúa này.

           Nếp bò: hoàng ngưu nhu, thân lúa cứng, bông lúa dày, hạt thóc tròn mà dài, gạo trắng, cơm có nhiều nhựa và dẻo; tháng 10 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có. Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn chép hoàng ngưu chi nhu (nếp mỡ bò) tức là lúa này.

           Nếp vằn: văn nhu, thân lúa cao, bông lúa thưa, hạt thóc hơi dài mà có vằn, gạo trắng, cơm nhiều nhựa và dẻo, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

           Nếp bụt: niêm nhu, thân lúa cứng, bông lúa dày, hạt thóc hơi tròn mà lớn, sắc lốm đốm vàng và đen, gạo trắng, cơm có nhiều nhựa, tháng 11 cấy, tháng 4 chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

           Nếp kì lân: (theo tên chép trong Tạp lục), thân lúa cao, bông lúa dài, hạt thóc tròn và lớn, có râu, hơi đen, gạo trắng; cơm hơi thơm, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

           Nếp hương bầu: hương biều nhu: thân lúa cao, gié lúa dày, hạt thóc hơi tròn, gạo trắng, cơm thơm ngon, tháng 11 cấy, tháng 2 chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

           Nếp cút: am thuần nhu (vâng mệnh chép chữ Hán), thân lúa thấp, bông lúa nhỏ, hạt thóc tròn hơi trắng, gạo đỏ nhợt, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng khô, các tỉnh đều có.

           Nếp đa đa: giá cô nhu, thân lúa cao, bông lúa dày, hạt thóc dài, hơi trắng, gạo đỏ, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng khô. Tổng Bái Ân, đạo Quảng Trị cấy nhiều.

             Nếp cò: lộ ti nhu, thân lúa cứng, bông lúa dài, hạt thóc gạo trắng, cơm mềm, có nhiều nhựa, tháng 10 cấy, tháng 3 năm sau chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

             Nếp cái: hương cái nhu, thân lúa cứng, lá to, hạt hơi dài, thóc hơi tròn mà có vằn, gạo trắng, cơm rất thơm mà dẻo, tháng 10 cấy, tháng 3 chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

             Nếp than: ô hương nhu, lại có thêm nữa là nếp quạ, thân lúa cứng, bông lúa dài, hạt thóc dài mà hơi đen, gạo đỏ, cơm rất thơm mà ít nhựa, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng cao ráo, các tỉnh đều có. Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn chép “Nha Nhu” (nếp quạ) tức lúa này.

             Nếp lụa: bạch nhu, thân lúa to, bông lúa dày, hạt thóc lốm đốm sắc vàng và đỏ, hạt gạo dài và trắng, cơm mềm nhưng không thơm, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng thấp, các tỉnh đều có. Thứ lúa này bắt đầu cấy ở Thừa Thiên, nên từ Quảng Nam trở vào đều gọi là nếp Huế.

             Nếp tây: dương nhu, thân lúa lớn, bông lúa dày, hạt thóc tròn và to, vỏ dày, gạo trắng, cơm rất thơm, tháng 5 cấy, tháng 8 chín, ưa ruộng sâu. Thứ lúa này từ Tây Dương đem sang, mới cấy vị rất thơm, đến những lần sau hương vị giảm dần.

             Nếp sáp: lạp nhu, thân lúa thấp, bông dày, hạt thóc hung hung vàng đỏ, gạo trắng, cơm mềm, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có, nhưng lúa tổng Bái Ân tỉnh Quảng Trị là hơn cả.

             Nếp trứng: noãn nhu, thân cao, bông dày, hạt thóc tròn và to, vỏ mỏng, gạo trắng, cơm thơm ngon, tháng 11 cấy, tháng 4 năm sau chín, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

             Nếp chuột: thử nhu, thân cao, bông nhiều, hạt thóc hơi nhỏ, gạo hơi vàng, cơm mềm mà không thơm, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng khô, các tỉnh đều có.

             Nếp mây: vân nhu, thân cao, bông to, hạt thóc hơi dài, gạo trắng, cơm nhiều nhựa mà ít thơm, tháng 5 cấy, tháng 10 chín, ưa ruộng cao, các tỉnh đều có.

             Nếp măng: mang nhu, thân cứng, bông dài, hạt thóc to, có râu, gạo rất trắng, cơm mềm mà thơm, tháng 5 cấy, tháng 9, tháng 10 gặt, ưa ruộng sâu, các tỉnh đều có.

             Mười chín thứ nếp trên, trong phủ hạt và ở các tỉnh, tùy theo thổ nghi mà cấy. Ngoài ra còn các thứ tục gọi là nếp lão, nếp na, nếp mông, nếp muối, phẩm loại rất nhiều không thể chép hết.

             Xét Gia Định thông chí của Trịnh Hoài Đức chỉ chép có 3 loại là nếp hương bầu, nếp sáp và nếp than mà thôi.

             Lại xét Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn chép tên lúa rất nhiều, vậy phụ lục sau đây để phòng tham khảo.

             Nếp quả vải: lệ chi nhu, thân cao, bông lớn, hạt thóc dài, hơi dẹp, như hình quả vải, gạo trắng.

             Nếp nàng hai: nhị nương nhu, thân cao mà cứng, bông dài dày sịt, hạt thóc hơi tròn, có râu, gạo trắng.

             Nếp măm: đoản đâu nhu, mới trổ, đòng đòng ra ngoài lá 1 – 2 tấc, hạt lúa to, thân và bông cũng như lúa nàng hai, cơm cũng mềm và nhiều nhựa.

             Nếp quảng: quảng nhu, thân lớn, bông dài, hạt thóc có râu, ngắn tròn mà dẹp, sắc vàng, gạo trắng.

             Nếp bồ lô: bồ lô nhu, có tên nữa là nếp trần, thân thấp, bông nhỏ, hạt thóc đỏ mà gọn, gạo hơi trắng, nấu cơm không dẻo lắm.

             Năm thứ lúa trên đều ưa ruộng sâu.

             Nếp sóc: đăng sơn nhu, thân rất cao và cứng, không sợ gió mưa, bông lớn mà nhiều, hạt lúa dài có râu, gạo trắng ưa đồng lầy, cơm hơi mềm.

             Nếp bầu hương: hạt thóc tròn và lớn, sắc xanh vàng, gạo trắng mà thơm. Tháng 8 lúa mới chín, rang qua, rồi giã thành cốm dẹp, ăn sống rất ngon thơm, đem ngào với nước đường hoặc xào lên, đều ngon, người ta thường gói vào lá sen để tặng nhau.

             Nếp hoa vàng: hoàng hoa nhu, có một tên nữa là a nhu, thân lớn, hạt nhiều bông cao; hạt thóc dẹp to mà vàng, gạo trắng, cơm mềm.

             Nếp rồng: long nhu, hạt thóc nhỏ mà vàng, gạo trắng thơm, nấu cơm trước rắn sau mềm.

             Nếp chúc: chúc nhu, có một tên nữa là hoàng ngưu đảm (mật bò), rất nhiều thóc, hạt thóc tròn mà trắng, cơm mềm, nhiều nhựa.

             Năm loại lúa trên đều ưa ruộng trũng, gọi chung là nếp cài, đều là thượng phẩm.

             Nếp rụt: đoản nhu, đòng đòng không trổ ra ngoài lá, hạt thóc và gạo đều trắng, cơm thơm và mềm.

             Nếp rẻ mùa: tiện thu nhu, có tên nữa là nếp dĩnh, hạt thóc vàng đỏ và dài, gạo trắng, chín sớm, không thơm.

             Nếp tư sinh: tư sinh nhu, một thân đẻ ra 4 - 5 thân, thóc và gạo không trắng lắm.

             Nếp hoa dâu: lương khương hoa nhu, có tên nữa là nếp sản, một thân đẻ ra 4 – 5 thân, bông to mà thưa, hạt lúa nhọn, lốm đốm đen, gạo trắng.

             Nếp thọ: thọ nhu, hạt nhỏ mà dài, sắc vàng, gạo trắng, giã gạo nấu cơm đều hao.

             Nếp cẩm: cẩm nhu, thân tía, bông đen, sắc vàng, hạt thóc và gạo đều biết.

             Nếp nghển cổ: diên cảnh nhu, có tên nữa là nếp hùng, thân cao, đòng đòng trổ ra ngoài lá, thóc và gạo đều trắng.

             Bảy thứ lúa trên đều không mềm dẻo, ưa ruộng sâu.

             Lúa bồ nâu: vũ dư lương nhu, ưa đất đồi, nương rẫy, nhiều thân, sai bông, thóc và gạo đỏ nhợt, nấu cơm ngon, cơm để đến 5 ngày vẫn còn thơm dẻo.

             Nếp nai: lộc nhu, một thân đẻ ra 3 – 4 thân, cũng ưa đất đồi, hạt thóc vàng, gạo trắng mà thơm, chín rất sớm.

             Người ta thường ăn cơm gạo tẻ, lúc có tế tự hoặc yến tiệc mới dùng gạo nếp. Riêng người miền núi không có gạo tẻ nên dùng gạo nếp để ăn thường.

             Bãi tử: tục gọi lúa ma, cũng gọi là cỏ đồng vực. Theo Bản thảo thì loại cây này mọc hoang ở các nơi, rất dễ lẫn với lúa, thân, lá, bông và hạt đều giống các giống thử, tắc. Một đấu hạt có thể làm được ba thăng gạo, cho nên (Mạnh Tử) nói: “Trồng ngũ cốc mà mất mùa thì không bằng trồng cây đề cây bãi.”, tức là theo Nông chính toàn thưCứu hoang bản thảo thì hái hạt cây này giã lấy gạo, nấu cháo ăn rất ngon, hoặc giã làm miến. Các tỉnh đều có.

MỤC THỔ SẢN (TỪ TRANG 296 ĐẾN TRANG 312)
TRONG
Đại Nam Nhất Thống Chí tập I.
NXB Thuận Hóa, Huế năm 2006