Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Khó tu, tu khó?

Có bài này về sư, vãi các loại hiện nay. Hay ơi là hay!

Tôi về làng, vào chùa làng thắp hương tam bảo. Chùa làng dễ hơn 150 năm tuổi, cây đa đã chết đi sống lại đến cả chục lần, cụ cố bên họ ngoại đã 97 tuổi, nhớ từ giờ sinh của thằng chắt nhớ đi, bảo cây đa này là cháu chắt chút chít của cụ đa nào đó mang về từ Thái Nguyên.

Năm kia, cũng về qua làng, vào chùa thắp hương. Sau lưng chùa là một cái sân gạch, cạnh là cái ao chùa. Sư bà coi chùa hồi ấy, gọi là bà nhưng chừng bốn mấy, đi thanh niên xung phong về, chồng bỏ, bèn xuống tóc vào chùa. Thắp hương cúng dường Đức Phật xong, đi ra sân vườn sau vãn cảnh, thấy sư bà lôi xềnh xệch con chó xích vào gốc cây, xích xong, đập vào mõm chó đánh chát một cái, mắng “Cha tiên nhân chó với má, tinh ăn vụng”. Đánh chó xong, sư cắp một cái rổ to đi xuống ao, mở cái vỉ tre đậy rổ, móc ra một con cá trắm to dễ gần 2 cân còn giãy đành đạch. Sư lấy cái chày sứt sẹo cạnh cầu ao, nện đánh bốp một cái vào đầu con cá. Công lực thâm hậu, chưởng xuất đúng tử huyệt, con cá giãy bật lên một cái rồi duỗi mình nằm thẳng cẳng (quên, thẳng vây). Xong, hóa kiếp cho mày sau đừng làm cá, mà có làm cá cũng đừng gặp sư bà.

Chứng kiến cảnh ấy, tôi đứng nhìn tấm lưng cánh phản của sư bà và đôi bàn tay đang móc mang, mổ ruột, chặt vây ngoay ngoáy, rón rén đi vòng phía khác, té thẳng. Lạy Phật, Phật từ bi vô lượng, còn sót một chút đường tu hoang dã ở kia, xin Phật độ trì cứu giúp cho dân làng được nhờ. Kiểu ấy mà lo phần giáo hóa cho dân làng thì Phật pháp chắc thành kiếm ma chưởng thuật mất thôi.

Năm nay, sư bà sát cá đi đâu mất, làng lại thỉnh về một sư bà khác, lông mày vẫn còn đường tỉa, răng khểnh duyên đáo để. Bí thư chi bộ làng, tên là Đắc, bảo “Mới gọi lên nhắc nhở, tối cứ mở cải lương nghe, mấy vãi trong làng nói ra nói vào”. Đắc Bí thư nói chưa xong, sư đã cãi xong rồi, bảo đấy là mấy băng nam mô a di đà đời mới làm, cải lương đâu mà cải lương, bịa tội cho người xuất gia, Phật giáng quả oán cho mà gánh tội. Chao ôi, cái cô Lan nào lại vào nhầm chùa thay chú Điệp đây?

Tôi nhớ có năm đọc báo cáo của Ban Tăng sự trung ương, báo kết quả năm vừa rồi có đến mấy chục vị tăng trẻ thuê nhà trọ ở lung tung, dẫn cả “người lạ” vào ở cùng, làm mất thể diện Giáo hội. Lại nhớ có lần đọc tin pháp luật – xã hội trên vnexpress, nói một ni và một tăng bị đánh cướp mất cái xe máy, địa điểm bị cướp xe là một bãi đất hoang bên quận 9, lúc 7-8 h tối. Khổ, tối tăm mù mịt thế, ra bãi đất hoang làm chi cho tội tình, cò ơi là cò. Rồi sư ông trụ trì chùa Quang Minh kể chuyện một sư chú khác vào An Giang tu theo phái khất sĩ, đi được 2 tháng thì quay về vàng võ, nói vất vả quá, lúc nào cũng đói, thôi về lại chùa cũ.

Thế nên, các bậc cao tăng mấy năm nay lo cho việc trang nghiêm Giáo hội là nhiều. Phần lễ lạt át mất cả phần tu tập, nhiều nơi sư trụ trì chỉ giỏi mỗi việc đi cúng ở các nhà, thành thử nhiều bà khi nhắc đến sư nọ sư kia, chỉ ngưỡng mộ mỗi cái giọng ngân nga và cái tay múa dẻo.

Trong tiếng mõ lời kinh có những giá trị tinh thần to lớn mà chỉ sự tu tập nghiêm cẩn mới tiếp nhận được. Chưa nói đến trong thánh điển Kinh Phật, những tri thức vô giá chỉ có thể được ngộ khi người tu nghiên tầm ngày qua ngày bền bỉ, bằng sự buông mình trọn vẹn vào một cõi không có tham, sân, si, không có danh vọng và tự ngã. Trong quá trình tích lũy và chọn lọc tri thức, người tu phải vượt qua bao nhiêu xáo trộn và chi phối, chỉ có hàng rào giới luật mới giúp thất tình không chen ngang, hủy hoại huệ mạng. Tôi ngờ rằng Giáo hội phải có một cuộc chấn hưng riêng cho việc hành trì giới luật bên cạnh việc cải tổ quản trị các cơ sở tự viện cho chặt chẽ. Đông mà không nghiêm, ấy là nền móng cái tòa nhà đã có nhiều dấu rạn.

http://noithat0.wordpress.com/

Mình thì cho rằng nền móng cái tòa nhà đã sụt lở rồi! 


Archaeological Beauty (1)

The Panagyurishte Treasure
Kho báu Panagyurishte

Trong lúc đào đất làm gạch gần thị trấn Panagyurishte ở Sredna Gora, vùng núi miền trung Bulgaria, những người thợ đã đào được một kho báu quan trọng. Đó là 1 phial và 8 rhytons, một cái giống amphora và những cái khác có hình đầu người phụ nữ hay động vật. Niên đại thế kỷ 4-3 TCN. Lượng vàng tổng cộng nặng trên 6kg.


 Phial
 Rhyton - amphora
 Rhyton - woman head
 Rhyton - animal head


Những hiện vật này hiện đang trưng bày ở bảo tàng Varna, thành phố du lịch nổi tiếng của Bun bên bờ Biển Đen.

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

TỪ VỰNG LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHAMPA - TRẦN KỲ PHƯƠNG

TỪ VỰNG LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHAMPA - TRẦN KỲ PHƯƠNG


A
Agni: Thần Lửa/Hỏa Thiên, vị thần hộ trì phương Đông - Nam của thiên giới.
Amaravati: Địa danh của một vùng ở miền Nam Ấn Độ, nơi có trường phái nghệ thuật Phật giáo phát triển từ sau thế kỷ thứ 2 CN. Danh hiệu này cũng để gọi một tiểu quốc của Champa ở vùng Quảng Nam ngày nay.
Amitabha: Đức Phật A Di Đà, vị Phật của ‘ánh sáng vĩnh cửu’ trong Phật giáo Đại thừa; thế giới của ngài ở Tây Phương Tịnh Độ. Đức Bồ tát Quán Thế Âm là một hóa thân của ngài.
Angkor: Di tích kiến trúc kỳ vĩ của Campuchia gồm nhiều đền - tháp đồ sộ bằng đá, đạt đến tuyệt đỉnh của nghệ thuật Khmer vào thế kỷ khoảng 12-14 CN
Avalokitesvara: Đức Bồ tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát tượng trưng cho đức từ bi và trí tuệ. Hình tượng của ngài rất phổ biến trong nghệ thuật Phật giáo Đại thừa và Kim Cương thừa ở vùng Đông Nam Á.
Apsara: Thiên nữ, múa hát trên các cõi trời; thường được điêu khắc trên các đài thờ và đền - tháp Champa

B
Bodhisattva: Bồ tát; tự tánh/sattva của bậc giác ngộ/bodhi ; sự hạnh nguyện tái sanh của các bậc giác ngộ vào cõi luân hồi để cứu độ chúng sinh. Một tín ngưỡng đặc trưng của Phật giáo Đại thừa.
Brahma: Thần Sáng tạo; một trong ba vị thượng đẳng thần (Trimurti) của Ấn Độ giáo.

C
Cakra: Bánh xe hoặc cái đĩa, vật tùy thuộc của thần Visnu. Trong nghệ thuật Phật giáo là vật tượng trưng cho Pháp luân.

D
Devi: Nữ thần giết quỷ đầu trâu còn gọi là Mahisasuramardini hay Durga.
Dharmapala: Thần Hộ Pháp, hộ trì đền - tháp trong di tích Phật giáo Đại thừa  tại Phật viện Đồng Dương, Quảng Nam.
Dvarapala: Thần Hộ trì ngôi đền Ấn Độ giáo. Hình tượng các vị hộ pháp thường được thể hiện có thân thể cường tráng và khuôn mặt hung dữ, đe doạ để che chở cho ngôi đền khỏi sự quấy phá của các thế lực đen tối.
Dhoti: Y phục của đàn ông, choàng từ bụng đến chân.
Dikpalaka: Chư thần hộ trì tám phương thiên giới, thường được thờ trong những miếu nhỏ chung quanh đền thờ chính hoặc trên thượng tầng kiến trúc của ngôi đền kalan trong nghệ thuật Champa.

G
Gandhava: Ca công trên cõi trời, thường ca hát nhảy múa với các thiên nữ Apsaras.
Ganesa: Thần Hạnh phúc và May mắn, đầu voi mình người; con trai của thần Siva và nữ thần Parvati.
Gajasimha: Voi - Sư tử, con vật biểu trưng của thần Siva, thường được tôn thờ để hộ trì cho ngôi đền.
Garuda: Chim thần, con vật biểu trưng của thần Visnu, tượng trưng cho sự bình an.

H
Hamsa: Thiên nga, con vật biểu trưng của thần Brahma và nữ thần Sarasvati, tượng trưng cho trí thức.
Hanuman: Tướng khỉ giúp hoàng tử Rama đánh thắng quỷ vương Ravana, cứu thoát được công chúa Sita khỏi chốn giam cầm tại đảo Sri Lanca trong anh hùng ca Ramayana.
Hinayana: Nghĩa là ‘cỗ xe nhỏ’ hay Tiểu thừa, một tông phái Phật giáo thịnh hành ở các nước Nam và Đông Nam Á như Sri Lanka/Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, Lào. Kinh tạng hành trì bằng tiếng Palì. Tông phái này còn được gọi là Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo Nam tông. Phật giáo Nguyên thủy/Nam tông chủ trương sự tu hành xa lánh thế tục, tự lực hành trì để đạt đến giải thoát bằng chứng quả A La Hán, một thánh quả chứng được trạng thái Niết Bàn, đoạn diệt sinh tử.

I
Indra: Thần Sấm sét/Lôi Thiên, cai quản ba mươi ba cõi trời; vị thần hộ trì phương Đông của thiên giới.
Isvara: Thượng đế, đấng Toàn năng, thần Siva, vị thần hộ trì phương Đông - Bắc của thiên giới.

J
Jata - Mukuta: Một kiểu tóc kết thành hình chóp với một cái miện thường xuất hiện trên các hình tượng thuộc phái Saivite/hệ phái Siva.
Jakata: Bổn Sinh Kinh, bộ kinh giảng về các tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca / Sakyamuni.

K
Kailasa: Ngọn núi thiêng trong dãy Himalaya; theo thần thoại là chỗ an ngụ của gia đình thần Siva.
Kala: Thần Thời gian, tượng trưng cho sự hủy diệt, vô thường của vạn vật; được biểu hiện bằng những mặt quái vật hung dữ trên các đài thờ và đền - tháp Champa.
Kalan: Tên gọi ngôi đền Ấn Độ giáo trong tiếng Chăm.
Kirita - Mukuta: Một kiểu mũ bằng kim loại quý, thường dành cho phái Vaisnavite/hệ phái Visnu.
Kubera: Thần Tài lộc và Sức khỏe; vị thần hộ trì phương Bắc của thiên giới.

L
Laksmi: Nữ thần Phú quý, Sắc đẹp và Hạnh phúc; vợ thần Visnu.
Linga: Bộ sinh thực khí, tượng trưng cho thần Siva, biểu tượng dương tính (kết hợp với yoni, biểu tượng âm tính) tượng trưng cho năng lực sáng tạo. Linga trong điêu khắc Champa thường có ba phần: Phần dưới hình vuông, tượng trưng cho thần Brahma; phần giữa hình bát giác, tượng trưng cho thần Visnu; phần trên hình tròn, tượng trưng cho thần Siva.
Lokapala: Chư Bồ tát hộ trì thế gian trong Phật giáo Kim Cương thừa; hình tượng các ngài được thờ trong những ngôi đền nhỏ xung quanh Phật đường chính của di tích Phật giáo Đồng Dương, Quảng Nam.

M
Mahayana: Nghĩa là ‘cỗ xe lớn’ hay Đại thừa, là  một trong hai tông phái chính của Phật giáo, phái kia là Hinayana/Tiểu thừa. Phật giáo Đại thừa xuất hiện trong thế kỷ thứ 1 trước Công nguyên, được chia ra thành nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ Ấn Độ rồi truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Phật giáo Đại thừa chú trọng đến đức từ bi, trí huệ và đề cao lý tưởng Bồ-tát
Makara: Con thú thần thoại, một loài thủy quái có nanh nhọn và vòi dài. Con vật biểu trưng của nữ thần Ganga, vợ thần Siva và thần Varuna, thường được trang trí trên các đài thờ và đền - tháp Champa, giữ chức năng hộ trì cho ngôi đền.
Mukhalinga: Linga có điêu khắc mặt thần Siva.

N
Naga: Vua của loài rắn sống ở thủy cung.
Nandin: Bò thần, con vật biểu trưng của thần Siva.

P
Prajaparamita: Bồ tát Đại Trí Tuệ Bát Nhã/Đại Trí Độ, mẹ của chư Phật; được tôn thờ phổ biến trong Phật giáo Đại thừa ở  Đông Nam Á.

R
Rahu: Ác quỷ nuốt mặt trời và mặt trăng, tạo nên nhật thực và nguyệt thực; được biểu hiện bằng những mặt nạ hung dữ trong điêu khắc Champa.
Rsi: Đạo sư thấu thị tiên tri trên thiên giới.
Rudra: Thần Bão tố và Hủy diệt.

S
Sarasvati: Nữ thần Thi ca và Nghệ thuật, vợ thần Brahma.
Sera: Rắn thần bảy đầu, tượng trưng cho sự bất diệt.
Siva: Một trong ba vị thượng đẳng thần của Ấn Độ giáo (Trimurti); thần Huỷ diệt và Tái tạo, vị thần chính của phái Saivaite.

T
Tandava: Điệu múa của thần Siva biểu thị sự vận hành của vũ trụ. Hình tượng thần Siva múa điệu Tandava rất phổ biến trong nghệ thuật Champa.

U
Uma: Nữ thần, vợ của thần Siva, cũng được biết dưới tên gọi khác là Parvati.
Uroja: Vú phụ nữ trong tiếng Chăm. Bà là nữ thần dựng nước, gốc rễ của vương quốc Champa. Hình tượng của Bà thường được biểu hiện trên các đài thờ và trên đền - tháp bằng những bộ vú phụ nữ, tượng trưng cho sự trù phú của vương quốc.

V
Vajrayana: Kim Cương thừa, một tông phái thuộc Phật giáo Đại thừa, xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 5 - 6 tại Bắc Ấn Độ, sau đó được truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản. Giáo pháp của Kim Cương thừa mang nặng tính chất Mật giáo bao gồm các yếu tố của phép Du-già/Yoga và các giáo phái thiên nhiên của Ấn Độ phối hợp với tư tưởng Tính Không của Phật giáo Đại thừa.
Varuna: Thần Nước/Thủy Thiên, vị thần hộ trì phương Tây của thiên giới.
Vayu: Thần Gió/Phong Thiên, vị thần hộ trì phương Tây - Bắc của thiên giới.
Visnu: Một trong ba vị thượng đẳng của Ấn Độ giáo, thần Bảo tồn Vũ trụ, vị thần chính của phái Vaisnavite.

Y
Yaksa: Một vị Á thần.
Yama: Thần Chết/Diêm-ma; vị thần hộ trì phương Nam của thiên giới.
Yoni: Bộ sinh thực khí, biểu tượng âm tính, kết hợp với linga thành một bàn thờ đặt trong ngôi đền.Yoni trong điêu khắc Champa thường được biểu hiện bằng hình tròn hoặc hình vuông; cái vòi của yonigọi là snanadroni/dục tào, luôn luôn được đặt quay về phương Bắc, là phương tượng trưng cho nguyên tố Nước/Thủy, một trong năm nguyên tố cấu thành vũ trụ là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không.
TRẦN KỲ PHƯƠNG biên soạn

theo facebook.com

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

ảnh Quốc hội khóa VIII

Bác Nguyễn Văn Kự gửi cho mình một số ảnh Quốc hội khóa VIII

Nhân Bầu cử Quốc hội Khóa XIII năm 2011
Một số hình ảnh Quốc hội Khóa VIII (1987-1992) – Kỳ họp thứ nhất

Quốc hôi khóa VIII (1987-1992) được bầu ngày 19-4-1987, có 496 đại biểu. Trong nhiệm kỳ này, đồng chí Lê Quang Đạo được bầu làm chủ tịch Quốc hội, đồng chí Võ Chí Công được bầu làm Chủ tọch Hội đồng Nhà nước. Hội đồng nhà nước gồm 15 thành viên. Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992 tại kỳ họp thứ 11 ngày 15-4-1992
Đây là Quốc hội của giai đoạn khởi đầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội VI đã ban hành 39 pháp lệnh, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng thể chế hóa đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta, tiến hành sửa đổi Hiến Pháp năm 1980 một cách cơ bản và toàn diện, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.
(Nguồn: http://www.tapchicóngan.org.vn/details.asp?Object=5&news_ID=27452752
---------------------
Trong kỳ họp Quốc hội này có các vị lãnh đạo: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Võ Chí Công, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Đỗ Mười,…








Không phải vì làm khảo cổ mà mình hay nệ cổ. Dù sao mình vẫn thấy những nhà lãnh đạo trước đây bản lĩnh, khí phách và trách nhiệm cao hơn so với lãnh đạo hiện nay. Có lần mình đọc ở đâu đó một nghiên cứu nước ngoài về lịch sử Việt Nam hiện đại, trong đó có đánh giá Việt Nam không có nhà chính trị. Nghe rất ngậm ngùi nhưng ngẫm thấy có lẽ đúng. Nói chính xác hơn là Việt Nam chả có nhà ... gì hết . Đến lều... cũng hiếm! 

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Sự hồi sinh của một cách tiếp cận văn hóa

Joel Bonnemaison là nhà địa lý học người Pháp, giáo sư Đại học Paris IV. Trong nghiên cứu và giảng dạy, Joel Bonnemaison đặc biệt chú ý đến việc làm sáng tỏ cách tiếp cận địa văn hóa và những cơ sở văn hóa của địa lý học nhân văn. Sau khi ông đột qua đời qua đời năm 1997 khi đang tiến hành nghiên cứu ở New Caledonia, vợ và học trò của ông tập hợp các bài giảng của ông để xuất bản, trong đó có công trình Culture and Space bằng tiếng Pháp. Chúng tôi chọn dịch giới thiệu một một phần nhỏ trong công trình kể trên của ông qua bản dịch tiếng Anh của Josée Pénot-Demetry, Culture and Space: Conceiving a New Cultural Geography, xuất bản ở New York năm 2005.   
Địa văn hóa là một khái niệm mới. Nói đúng hơn, đến nay các nhà địa lý học vẫn còn tranh cãi về nó. Đối với một số người, thuật ngữ này có vẻ như đánh đố, gây lẫn lộn, vì văn hóa (thuộc những giá trị tinh thần) và địa lý học (một ngành học thuộc khoa học tự nhiên, gắn với những dữ kiện thực tế và không gian địa lý) khó có thể có quan hệ gắn kết với nhau. Trong khuôn khổ của các ngành khoa học xã hội truyền thống, văn hóa dường như “thuộc về” các nhà dân tộc học, nhân loại học và xã hội học. Trong khi đó, tự nhiên và môi trường là lĩnh vực của các nhà địa lý học.
Thế thì tại sao lại có khái niệm địa văn hóa? Nó đáp ứng cho mục đích gì?
Trước hết, phải nói rằng các nhà địa lý học đã từng đánh giá về cách tiếp cận này. Thuật ngữ địa văn hóa là mới, nhưng ý niệm về nó lại không mới. Ý niệm về địa văn hóa xuất hiện lần đầu tại Đức, nơi các nhà địa lý học ít “tự nhiên chủ nghĩa” hơn ở Pháp: vào thế kỷ 19, Friedrich Ratzel đã đề cập đến địa lý nhân học, sau đó quan niệm về địa văn hóa đến Pháp thông qua ảnh hưởng của nhân học Mỹ với những đóng góp quan trọng về địa văn hóa của Carl Sauer - một học trò của Ratzel và là người sáng lập trường phái Berkeley.
Đối với Pháp, đây là một sự trở lại hơn là một sự xuất hiện mới. Với sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của văn hóa, các  nhà địa lý học nói tiếng của Pháp ở Quebec đã có ảnh hưởng lớn đến sự phục hưng của cách tiếp cận địa văn hóa vào những năm 1980. Sự trở lại của cách tiếp cận địa văn hóa gắn với trường phái địa lý học của Pháp qua cách tiếp cận khá đặc trưng của trường phái này đối với địa văn hóa. Có thể nêu một số dữ kiện nhằm làm sáng tỏ sự tái khám phá này.
Thứ nhất, sự phục hưng của địa văn hóa gắn liền với sự mở rộng của thuật ngữ “văn hóa”. Ở thế hệ của tôi người ta thường nói rằng “mọi thứ đều là chính trị”; còn bây giờ thì “mọi thứ đều là văn hóa”. Có thể thấy rằng nói về văn hóa đang như một cái mốt (fashion). Hiện nay chúng ta thường hay nói về văn hóa công ty, văn hóa đảng phái chính trị v.v. Mỗi hoạt động, từng nhóm người đều có văn hóa của riêng họ. Thậm chí chúng ta thấy có cả Bộ Văn hóa trong Chính phủ Pháp. Cùng với địa lý học, văn hóa xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực khoa học xã hội. Thực tế là trước đây các nhà khoa học xã hội thường xác định những nhân tố thuộc về văn hóa là những nhân tố có tính định tính, không thể định lượng và kiểu xác định này làm hạn chế ít nhiều đến việc nghiên cứu thấu đáo nhiều sự vật, hiện tượng. 
Sự thành công của cách tiếp cận văn hóa trong địa lý học, về cơ bản, xuất phát từ sự hết ảo tưởng đối với “thuyết địa lý cấp tiến” (radical geography) và “thuyết địa lý học mới” (the new geography).
André Malraux đã từng xác định rằng thế kỷ hai mươi là thế kỷ của ý thức hệ. Ngày nay, chúng ta ít đặt niềm tin vào những ý thức hệ lớn vốn dẫn đến hai cuộc chiến tranh thế giới. Cụ thể như chủ nghĩa Marx khẳng định rằng mọi sự vật, hiện tượng được giải thích dựa trên cơ sở của những mối quan hệ giai cấp và quan hệ sản xuất. Quan điểm này không quan tâm đến văn hóa. Chủ nghĩa Marx đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ‘thuyết địa lý cấp tiến’ ở các quốc gia nói tiếng Anh. Địa văn hóa, với tư cách là một “siêu cấu trúc”, cũng không hề hiện diện trong các tác phẩm của chủ nghĩa Marx mới (tân Marxist). Theo Antonio Gramsci, người Ý cũng đã vận dụng thuyết trên từ một cách hiểu sai lầm về văn hóa, không thấy được sức mạnh của văn hóa trong việc có thể làm biến đổi những ảnh hưởng kinh tế và chính trị. 
Sự tái sinh của địa văn hóa cũng có liên quan tới sự phát triển của một số ngành khoa học xã hội thực chứng, chẳng hạn như xã hội học, kinh tế học và thuyết địa lý mới. Đã có lúc, tất cả đều tuyên bố rằng chính mình là những ngành khoa học chính xác, giống như vật lý học và toán học - được mệnh danh là những ngành khoa học cơ bản. Theo khuynh hướng đó, những quy luật khoa học giải thích cơ cấu tổ chức con người và không gian thông qua những cấu trúc kinh tế, xã hội và dĩ nhiên là cả cấu trúc không gian. Như vậy, sự phân bố về mặt không gian của dân cư và hoạt động của con người tuân theo những quy luật mà chúng có thể được khám phá thông qua việc sử dụng những mô hình giống như kiểu mô hình toán học (Harvey 1989). Ngày nay, người ta vẫn còn đang tranh cãi về vấn đề này. Nói chung, dù đạt được hiệu quả nhất định, cách tiếp cận định lượng đã bớt đi phần nào tính cực đoan so với hai mươi năm về trước – khi cách tiếp cận định lượng được xem là số một, duy nhất. Xuất hiện từ những năm 1960, thuyết “địa lý mới” hiện nay ít có tham vọng hơn so với lúc nó mới ra đời. Nó đã dành nhiều “đất” hơn cho cách tiếp cận văn hóa và cách tiếp cận này không nhất thiết phải mâu thuẫn hoặc phủ nhận các cách tiếp cận khác nếu không nói là trong thực tế nó đã giúp cho nghiên cứu có cái nhìn tổng thể hơn.
Về cơ bản, địa lý học theo quan điểm Marxist và địa lý học thực chứng “mới” (“new” positivistic geography) ngự trị từ thập niên 1960 đến thập niên 1980.  Các thuyết này phủ định lẫn nhau dù chúng có cùng cách tiếp cận của chủ nghĩa duy vật hoặc của khoa học cơ bản. Trong suốt thời gian thống trị của thuyết địa lý mới, những người khởi xướng địa văn hóa đương thời vẫn miệt mài nghiên cứu trong lĩnh vực vô cùng hứng thú và hấp dẫn đối với họ.
Sự trở lại của địa văn hóa phần lớn nhờ vào những công trình nghiên cứu nổi tiếng của những học giả đã dám tự xưng là những “nhà địa văn hóa”. Nổi bật trong số họ là Paul Claval, người đã khởi xướng vấn đề nghiên cứu lại địa văn hóa, đặc biệt là bằng những phân tích về sự hình thành và phát triển của nó. Trường phái địa lý học nhiệt đới, với những người tiên phong như Pierre Gourou, Jean Gallais và Gilles Sauter, cũng đóng một vai trò khá quan trọng. Tất cả những nhà nghiên cứu này đã khảo sát những nền văn hóa cụ thể, những tộc người và những nền văn minh với những đặc trưng riêng biệt, độc đáo. Augustin Berque đã nghiên cứu về cảnh quan (cả về “dấu ấn” và “ảnh hưởng” của văn hóa)  và văn hóa Nhật Bản mà không tách những đặc trưng thuộc về tự nhiên ra khỏi những đặc điểm nhân văn trong một môi trường cụ thể. Sau cùng, phải kể đến Jean Robert Pitte, Xavier de Planhol và Pierre Flatrès ở Đại học Paris IV. 
Phần mình, tôi đặc biệt chú ý đến tính phổ quát văn hóa như tín ngưỡng, thần thoại và những biểu trưng.  Đây là điều khác về cơ bản với các nhà nghiên cứu khác. Trong La Dernìere ile (The Tree and the Canoe), tôi viết về cuộc nổi dậy mà những người Tanna đã tiến hành nhân danh những phong tục, tập quán. Tôi phản ánh mối liên hệ giữa bản sắc văn hóa của các cư dân trên đảo và không gian địa lý, hay đúng hơn là những biểu trưng không gian điển hình của cư dân trên đảo - một cảnh quan vừa được con người nhận thức, vừa mang đậm màu sắc tâm thức, tâm linh.
Ba chiều kích của không gian cảnh quan trong địa văn hóa gồm:
- Lãnh thổ: liên qua đến các cột mốc và đường biên giới lãnh thổ; đến cơ cấu  chính trị với những vùng trọng điểm, trung tâm và vùng ngoại vi.
- Môi trường địa lý: một cấu trúc địa lý và sinh thái - đất trồng, thực vật, nước, khí hậu, mật độ dân cư, hệ thống thông tin liên lạc. Con người hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống sinh thái này bởi vì toàn bộ môi trường địa lý được nhân hóa thành một quy mô nhỏ hơn hoặc lớn hơn.
- Biểu tượng địa lý: cấu trúc biểu trưng một môi trường địa lý và ý nghĩa của nó. Khái niệm này tương tự như khái niệm “médiance” đã từng được Augustin Berque đưa ra từ năm 1990 để chỉ những tác động và những giá trị con người đem lại cho cảnh quan. Những biểu tượng đại lý có ý nghĩa đều liên quan đến đạo đức học và siêu hình học. Chúng đại diện cho giá trị tinh thần của xứ sở mà chúng ta gọi là linh hồn của xứ sở.
Tầm quan trọng của cách tiếp cận văn hóa được hồi sinh trong địa lý học chính là sự đưa vào chuyên ngành này nhiều cách tiếp cận văn hóa của nhiều chuyên ngành, đặc biệt là ngôn ngữ học, nhân loại học (còn được gọi là nhân học văn hóa để phân biệt nó với nhân học xã hội) và kinh tế học (như là nhân học kinh tế, có tính phổ biến, đối lập với toán kinh tế). Các nhà nghiên cứu lớn trong những ngành học này đã phân tích những hệ thống hoặc cấu trúc văn hóa và đưa ra những mô thức mới. Trong số những nhà tư tưởng này, chúng ta thấy có Claude Lévi-Strauss và nhà nhân loại học kiêm nhà ngôn ngữ Georges Dumézil – hai nhân vật nổi tiếng trên thế giới của ngành nhân loại học Pháp.
            Công trình của Dumézil chủ yếu về ngôn ngữ Ấn-Âu và thần thoại học. Dumézil chứng minh rằng trong gốc ngôn ngữ Ấn-Âu đã chứa đựng một số thần thoại. Những thần thoại này đến lượt mình tạo điều kiện cho việc nghiên cứu những mô thức xã hội và hệ tư tưởng. Trên cơ sở này, Dumézil phác thảo ra ba chức năng xã hội cơ bản - chính trị, tôn giáo, kinh tế - những chức năng từng hiện hữu trong nhiều xã hội khác nhau từ Ấn Độ cho đến Ireland, chẳng hạn như ở xã hội Pháp trước Cách mạng tư sản vào cuối thế kỷ 18. Điều đáng ghi nhận là cấu trúc luận của Dumézil ít cứng nhắc hơn cấu trúc luận của Lévi-Strauss rất nhiều.
            Kinh tế và sự đáp ứng những lợi ích vật chất đang làm giảm đi những nhân tố giúp soi sáng thêm nhiều vấn đề về con người. Một sự giải thích đầy đủ phải gồm có hệ thống giá trị cá nhân, trí tuệ và cảm xúc của cá nhân đó cũng như ước vọng của anh ta về quê hương xứ sở. về lý tưởng, về chân lý. Tóm lại, một con người có thể được xác định như là một cấu trúc cảm xúc và văn hóa phức hợp. “Con người không chỉ sống bằng bánh mì”. Con người tìm ý nghĩa cuộc sống ở đâu? Chất “phụ gia” của tâm hồn này đã bao hàm văn hóa…

Joel Bonnemaison
Nguyễn Thanh Tùng (CH VHH K 9) dịch
Nguyễn Văn Hiệu hiệu đính

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Lại phải nói thêm

Trên bee.net có một bài về mộ gạch thời Bắc thuộc ở Thanh Liêm Hà Nam dưới tiêu đề "Hầm thần của" ở Hà Nam http://bee.net.vn/channel/1988/201104/Ham-than-cua-o-Ha-Nam-1796413/.

Người viết bài có dẫn ý kiến của mình nhưng không rõ ràng và đầy đủ.
Vậy nên phải nói thêm cho rõ

Những "Hầm thần của" này trên thực tế là một loại hình di tích khảo cổ tồn tại suốt thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc. Đây là những ngôi mộ xây bằng gạch, có nhiều gian và được đắp nấm nổi cao như những gò lớn. Bên trong chôn theo nhiều đồ tùy táng bằng gốm, sành, sứ, kim loại... Chủ nhân của những ngôi mộ này thường thuộc tầng lớp cai trị người Hán và do vậy mộ gạch thường phân bố ở những khu vực lị sở của chính quyền phong kiến phương Bắc và có một quy luật phổ biến là những trung tâm chính trị-hành chính thời Bắc thuộc thường được xây dựng ở những nơi trước đó là những trung tâm của văn hóa Đông Sơn.

Nguồn gốc của loại mộ này là từ Trung Quốc và khác hẳn với mộ truyền thống của người Việt cổ thời Đông Sơn là mộ đất, mộ quan tài hình thuyền, mộ vò...

Niên đại của những mộ gạch được xác định dựa trên quy mô, cấu trúc của mộ, kích cỡ, màu sác và trang trí của gạch xây mộ cũng như loại hình và chất liệu của đồ chôn theo. Mộ gạch thường được phân thành các giai đoạn Hán, Lục Triều và Tùy Đường. Sau thời Đường truyền thống mộ gạch này cũng biến mất không còn bất cứ rơi rớt nào.

Dạng mộ kiểu này cũng có khá nhiều ở Hàn Quốc.
Gắn với những ngôi mộ này là vô vàn các truyền thuyết về vịt vàng, lợn vàng... và thần giữ của...
Mộ gạch thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc  phân bố khá đậm đặc ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa và hiện nay phần lớn trong số chúng đã biến mất do nhiều lý do.

Vì vậy, không có gì là thần bí và các nhà khoa học tranh cãi gì ở đây!

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

Đúng là "Những bất ngờ ở thung lũng sông Tang"

Đọc bài trên Tuổi trẻ cuối tuần "Những bất ngờ ở thung lũng sông Tang" http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/433695/Nhung-bat-ngo-o-thung-lung-song-Tang.html mình cũng thấy bất ngờ vì những lý giải của những người khai quật.

1.TS. Khôi nói: "Nó cho thấy sự sai nhầm của một luận điểm từng tồn tại rằng người Sa Huỳnh không có ở vùng cao, nhất là giữa dãy Trường Sơn"- Luận điểm này từ lâu đã bị những người nghiên cứu bác bỏ vì  di tích Sa Huỳnh ở vùng núi Trường Sơn đã được biết đến từ những năm 80 của thế kỷ 20, đâu đợi đến phát hiện sông Tang của TS. Khôi!

2. Ông Khôi giải thích: “Chúng tôi đã dựng lại mặt bằng gốc trước khi con người của thời hậu kỳ đồ đá mới đến cư trú...", Không rõ dựa vào những gì để dựng lại bối cảnh, nếu có sự trôi dạt của hiện vật hậu kỳ đá cũ đến thì liệu có phân bố đồng đều và theo trật tự lớp hay không? Đọc trong bài chỉ có cảm tưởng rằng địa tầng văn hóa ở đây rất phức tạp và có thể đã bị xáo trộn nhiều chỗ.

3. Thật lạ lùng! Khu mộ táng và khu cư trú nằm sát nhau, chỉ cách nhau hơn 1m. Có thể nói cư dân tiền sử chưa có sự tách rời hẳn giữa người sống và người chết. Ở các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh được khai quật như Bình Châu, gò Ma Vương (Quảng Ngãi), gò Mã (Mả)Vôi (Quảng Nam) chỉ toàn phát hiện các khu mộ táng” - ông Khôi nói.  Có lẽ TS. Khôi nên đọc thêm tư liệu trước khi kết luận thế này. Bình Châu cho tới nay đã được xác đinh là có cả cư trú lẫn mộ táng và giai đoạn muộn của Bình Châu đã bước sang sơ kỳ thời đại đồ sắt. Cạnh Gò Mả Vôi là di chỉ cư trú Thôn Tư...! Như vậy dù không nhiều, nhưng không phải là chưa bao giờ tìm thấy nơi cư trú của cư dân văn hóa Sa Huỳnh sơ kỳ sắt! 

4. Đây cũng là lần đầu tiên lịch sử khảo cổ học biết đến vùng (văn hóa) Sa Huỳnh núi trong mối quan hệ với Sa Huỳnh biển vốn được biết từ lâu, theo PGS.TS. Trịnh Sinh. Khổ quá, thế những di tích văn hóa Sa Huỳnh núi ở huyện Hiên, huyện Giằng (Quảng Nam) phát hiện và khai quật cách đây hơn 20 năm PGS bỏ chúng đi đâu, và những ý kiến về quan hệ núi - biển trong văn hóa Sa Huỳnh của các nhà nghiên cứu từ trước đến nây chả nhẽ đoàn khai quật sông Tang không biết!

5. Địa điểm khai quật này cũng nói lên nhiều mối quan hệ lịch đại giữa người tiền sử (chủ nhân của các di vật trong hố khai quật) và những tộc người bản địa đang sống trong khu vực như Cor, Ca Dong, H’Rê.Thật lý thú, chuỗi vòng mã não tìm thấy trong hố khai quật là loại trang sức hiện đang được người H’Rê trong vùng rất ưa chuộng. Vụ này cũng không có gì mới, người Cờ Tu ở Quảng Nam cũng y như người H'Rê vậy, thậm chí có người còn cho rằng người Cờ Tu là hậu duệ của người Sa Huỳnh (nhiều công cụ sắt của họ giống hệt công cụ sắt của văn hóa Sa Huỳnh) và đã phiêu dạt từ biển lên rừng theo kiểu "Vua Lê mất nước chạy lên rừng" ! 

Mọi phát hiện khảo cổ dù ở đâu, thuộc niên đại nào cũng đều vô cùng quý giá đối với người làm nghề. Những phát hiện ở thung lũng sông Tang tuy vậy cần phải được xem xét trong bối cảnh chung của văn hóa Sa Huỳnh, từ góc độ này, những phát hiện ở đây không có nhiều khác biệt so với những phát hiện và nghiên cứu cho đến nay về văn hóa Sa Huỳnh ở các tỉnh miền Trung VN.

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

“Cột đá thề” đền Hùng được... thay mới

TT - Những ngày giỗ Tổ, tại đền Thượng thuộc khu di tích lịch sử đền Hùng, nhiều du khách đã bất ngờ khi nhìn thấy một cột đá mã não (giống hình dáng loại đá phong thủy) được dựng lên tại nơi xưa nay nhiều người vẫn coi là nơi đặt “cột đá thề” của Thục Phán An Dương Vương.

Cột đá thề cũ - Ảnh: Quốc Hội

Cụ Bùi Thị Quang (88 tuổi, ở Vĩnh Phúc) cho biết: từ thời thuộc Pháp đã có một cột đá ở Đền Thượng, dân gian vẫn truyền tụng đây là cột đá thề có tuổi đời hơn 2.000 năm. Tương truyền cột đá thề là do Thục Phán dựng nên khi được Hùng Vương thứ 18 truyền ngôi với lời thề: “Nguyện có trời cao lồng lộng soi xét, nước Nam được trường tồn, lưu ở miếu Tổ Hùng Vương. Nếu vua sau nối trị mà trái ước, nhạt thề sẽ bị trời dập đất vùi...” (trích trong Ngọc phả Hùng Vương 1472, lưu ở Bảo tàng Hùng Vương, thuộc khu di tích lịch sử đền Hùng).

Cột đá thề mới - Ảnh: Tiến Thành

Cột đá thề của Thục Phán An Dương Vương có còn tồn tại cho đến ngày nay hay không, chưa một tư liệu khoa học nào ghi lại! Tuy nhiên, theo lời ông Lê Tượng - nguyên trưởng ban quản lý khu di tích lịch sử đền Hùng giai đoạn 1976-1996: “Năm 1963-1964, khi tiến hành khảo sát ở đền Thượng đã phát hiện một cột đá ở ngay trước lăng Hùng Vương. Dân gian truyền tụng đó là cột đá thề, nhưng cứ liệu ghi chép thì hoàn toàn không có. Chúng tôi cũng đặt ra những nghi vấn có thể đây là cột đá thề của Thục Phán An Dương Vương còn tồn tại đến ngày nay; hoặc cũng có thể đây chỉ là chiếc cột của một ngôi miếu cổ thờ thần núi”.

Chưa xác định niên đại nhưng hơn 40 năm nay cột đá này vẫn được dân gian sùng bái và coi là “cột đá thề”. Mới đây cột đá (cũ) được đưa vào Bảo tàng Hùng Vương và thay vào đó là cột đá mã não.

Ông Nguyễn Tiến Khôi (giám đốc khu di tích lịch sử đền Hùng) cho biết dự án thay mới cột đá thề đã được tiến hành từ nhiều năm nay và cột đá thề mới mô phỏng cột đá thề trong truyền thuyết đã chính thức khánh thành ngày 26-1-2011.
HÀ HƯƠNG - QUỐC HỘI

Lời bình của TS. Nguyễn Hồng Kiên

Nhà cháu khẳng định là KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “CỘT ĐÁ THỀ”.
Đó chỉ là 1 mẩu cột bằng đá, niên đại tương đối thời  Nguyễn.
Nhảm nhí đến thế là cùng. Cái cột làm lại này cũng còn CẨN THẬN đục lại cả lỗ mộngđể gác xà???
Ôi u mê đến mức CÓ CẢ MỘT DỰ ÁN “thay mới cột đá thề đã được tiến hành từ nhiều năm nay và cột đá thề mới mô phỏng cột đá thề trong truyền thuyết đã chính thức khánh thành ngày 26/01/2011.“
Cô cháu gọi điện hỏi xong vẫn gọi đó là đá mã não? Hay vì ông Tiến Khôi bảo vậy và ban Dự án thanh toán tiền đá mã não? Nếu đúng là Agate thì người ta gọi là NGỌC chứ không coi là đá nữa.?
Chưa bàn tới cứ liệu khoa học, nhưng tại sao phải làm CỘT THỀ mới?
Nếu cứ theo truyền thuyết thì cột đá ấy được dựng để Phục Phán thề với Hùng vương thứ 18 rằng: “Nguyện có trời cao lồng lộng soi xét, nước Nam được trường tồn, lưu ở miếu Tổ Hùng Vương. Nếu vua sau nối trị mà trái ước, nhạt thề sẽ bị trời dập đất vùi…“
Liệu có chuyện cái cột mới này là vật chứng cho 1 cuộc thề mới nào chăng?

BONUS

Chuyện Chủ nhật 10 - Trông người lại ngẫm đến ta

Chỉ mấy giờ đợi chờ ở sân bay Incheon, Seoul, Hàn Quốc thôi đã có thể thấy người ta quảng bá, tuyên truyền văn hóa dân tộc như thế nào.
Những buổi trình diễn nghi thức cổ và biểu diễn văn hóa dân tộc ở  những trung tâm Trải nghiệm Văn hóa Dân tộc Hàn Quốc được tiến hành trang nghiêm và quan trọng nhất là miễn phí!
Các bác lãnh đạo văn hóa ở Huế và ở các địa phương khác muốn tuyên truyền giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho đồng bào hãy nghía sang xem Hàn Quốc họ làm thế nào. Trình diễn cho đại chúng thì hãy sân khấu hóa một cách chuyên nghiệp, một cách nghiêm túc. Đừng tiếp tục kiểu "ngô không ra ngô, khoai không ra khoai" dưới chiêu bài giáo dục mà thực chất là kinh doanh khắp nơi như hiện nay.