Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Kết quả khai quật di chỉ Vườn Chuối lần thứ 4


Kết quả khai quật di chỉ Vườn Chuối lần thứ 4[1]
Lâm Thị Mỹ Dung, Hoàng Văn Diệp (Bộ môn Khảo cổ học)
Nguyễn Văn Hùng, Trần Văn Tùy (Bảo tàng Hà Nội)
Nguyễn Kim Thủy (Viện Khảo cổ học)
Bài trình bày tại Hội nghị Thông báo KCH năm 2011. Hà Nội tháng 9 năm 2011

Địa điểm Vườn Chuối thuộc làng Lai Xá xã Kim Chung huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội.
Địa điểm đã được khai quật vào những năm 1969, 2001 và 2009, kết quả khai quật cho thấy đây là một trong những địa điểm quan trọng của văn hóa Đồng Đậu, hiện nay toàn bộ di chỉ nằm trong phạm vi quy hoạch xây dựng khu đô thị mới Kim Chung – Di Trạch.
Kết quả khai quật lần thứ tư: Từ 16.6. 2011 đến 4.8.2011
     Diện tích khai quật 300m2, với 07 hố khai quật được mở tại nhiều điểm khác nhau – đỉnh gò, sườn tây nam và đông bắc để kiểm tra diễn biến địa tầng, các giai đoạn văn hóa và loại hình di tích.
1.     Địa tầng:
      Độ dày của tầng văn hóa không đồng đều ngay cả trong một hố khai quật, do địa hình ban đầu là vùng những gò thấp lô nhô, kết quả thành tạo của trầm tích Pleistocene. Tầng văn hóa dày mỏng ở các hố còn do thời gian cư trú của con người không đều trên khắp khu vực gò. Nhìn chung địa tầng dày nhất và đều nhất là của hố 4, mỏng nhất là ở hố 2 và hố 7, tuy có độ dày mỏng khác nhau, nhưng tính chất văn hóa khá giống nhau, qua sự xuất lộ của các di tích và loại hình, tính chất di vật.
   Nhìn chung địa tầng khá ổn định, song có những xáo trộn cục bộ.
              Địa tầng có cấu tạo khá đơn giản:
    Lớp mặt
Lớp đất canh tác, đất có màu xám nhạt, tơi, xốp, có độ dày từ 10-15cm có một vài mảnh gốm thô giai đoạn Đông Sơn, Gò Mun, văn hóa Đồng Đậu…  và rác hiện đại...
Tầng văn hóa
Tầng văn hóa có độ dày trung bình từ 0,6-1m, giữa các hố có sự khác biệt, một số hố như 1, 2, 4, 5 tầng văn hóa khá bằng phẳng, độ dốc không đáng kể, tầng văn hóa hố 3 có độ dốc mạnh theo hướng Đông Nam. Dựa vào màu sắc đất cùng với những hiện vật khai quật được, tầng văn hóa gồm hai lớp:
Lớp 1: lớp đất có màu xám nhạt, kết cấu đất khá tơi xốp chứa nhiều cát, gồm các lớp 1,2 xuất hiện nhiều hiện vật gốm, một số mảnh đá, gạch hiện đại. Căn cứ vào màu sắc, chất liệu gốm, cũng như các loại hoa văn trên miệng và thân gốm có thể thấy rằng lớp văn hóa này thuộc giai đoạn Đồng Đậu muộn và Gò Mun sớm, Gò Mun.
Lớp 2: Lớp đất màu xám đen có độ dày từ 0,3-1m, tầng văn hóa khá ổn định, khá nhiều mảnh gốm, hiện vật bằng đá, cục xỉ đồng, hiện vật đồng, mảnh xương, đặc biệt, trong lớp đất này tìm thấy nhiều cụm gốm, lò nấu đồng, đây là lớp giai đoạn Đồng Đậu điển hình.
Những lớp gần đáy có độ dày từ 1 – 1,3m, thấy xuất hiện mảnh gốm màu nâu đỏ với trang trí mô típ hoa văn khắc vạch đơn giản kiểu Phùng Nguyên lẫn với những mảnh gốm Đồng Đậu, tuy nhiên, số lượng mảnh gốm này chiếm số lượng ít.
          Sinh thổ
Là lớp đất sét mịn vàng nhạt, bề mặt sinh thổ không bằng phẳng do các hố đất đen ăn sâu xuống, cá biệt có những phần ăn rất sâu, như dấu vết có thể là của một cái chuôm dưới chân đồi ở hố 3, sâu gần 3m.
2.     Di tích xuất lộ: Mộ táng, vết tích bếp, bếp lò, hố rác bếp, hố đất đen, hố dạng lỗ cột, cụm gốm…
      2.1. Mộ táng văn hóa Đông Sơn:
      9 ngôi mộ thời văn hóa Đông Sơn được phát hiện trong các hố 2 (1 mộ hung táng), hố 3 (1 mộ cải táng, 2 mộ hung táng), hố 4 (1 mộ hung táng), hố 5 (1 mộ hung táng), hố 6 (2 mộ hung táng), hố 7 (1 mộ hung táng) và một số cụm gốm có thể liên quan đến mộ táng.
       Các mộ hung táng (chôn nguyên thi thể) thường được đặt trong huyệt mộ hình chữ nhật, một số đáy mộ ăn sâu vào sinh thổ, huyệt mộ được đào bằng một loại công cụ có lưỡi ngắn, các vết đào do vậy có kích thước không lớn và chồng một phần lên nhau, tạo thành những khoảng lồi lõm trên vách huyệt.
Nhìn chung, các mộ hung táng đều có hiện tượng phía dưới chân, sát với bàn chân là những đồ gốm tùy táng (nồi, bình hình con tiện…), đồ đồng thường đặt phía dưới thi thể, một số trường hợp, đồ gốm đặt trên phần gần vai.
Mộ cải táng: Hố 3, ngay ở bề mặt lớp 1 đã xuất lộ 01 cụm gốm với khá nhiều mảnh của nồi gốm Đường Cồ màu trắng xám, văn thừng dạng hạt gạo, đây là mộ cải táng của một người còn trẻ, chết vào độ tuổi từ 17 đến 25. Xương cốt và đồ tùy táng (ít nhất có 5 hiện vật đồng, 01 rìu lưỡi xéo, 02 giáo lớn nhỏ; 01 mũi tên; 01 dao găm có cán hình chữ T) được đặt trong nồi gốm lớn. Đồ đồng đặt dưới, xương xếp lên trên, trên một mảnh gốm còn có mảnh khuyên tai hình vành khăn bằng đá.
              Di tích xuất lộ trong tầng văn hóa (cư trú Đồng Đậu): vết tích bếp, bếp lò, hố rác bếp, hố đất đen, hố dạng lỗ cột, cụm gốm…phát hiện được ở tất cả các hố khai quật

Di vật
Di vật trong mộ Đông Sơn: Đồ gốm, đồ đồng và đồ sắt
Di vật của tầng văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun: Đồ gốm, đá, đồng, xương, số lượng lớn, đa dạng về hình loại, chất liệu. Một số di vật có giá trị cao như qua đá, vật đeo hình đầu trâu, khuyên tai hình gối quạ, hạt chuỗi, vòng tay, khuôn đúc rìu bằng đá sa thạch có họa tiết trang trí...
Đồ đồng nhiều với các loại hình như lưỡi câu, kim, công cụ lao động, vũ khí…
Dấu vết động, thực vật: xương động vật lớn, gạo cháy…
3.     Niên đại
Di tích có một tầng văn hóa thuộc cả ba giai đoạn sớm, điển hình và muộn của văn hóa Đồng Đậu, ở lớp những lớp trên có khá nhiều đồ gốm Gò Mun, trong đó không chỉ có Gò Mun sớm mà còn có Gò Mun điển hình.
Những ngôi mộ đều có niên đại văn hóa Đông Sơn (giai đoạn sớm), chôn vào nơi ở của người Đồng Đậu, với những ngôi mộ đã phát hiện và khai quật qua các đợt cũng như dấu vết để lại của người đào trộm cổ vật, có thể khẳng định Vườn Chuối - làng cư trú của người Đồng Đậu – Gò Mun đã được người Đông Sơn sử dụng làm nghĩa địa, dấu vết cư trú của người Đông Sơn được phát hiện trước đây ở Gò Chiền Vậy gần Vườn Chuối.


[1] Đoàn khai quật của Bảo tàng Hà Nội và Bảo tàng Nhân học, Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội. Chủ trì khai quật: TS. Nguyễn Văn Hùng, phụ trách khai quật: PGS.TS.Lâm Thị Mỹ Dung. Thành viên đoàn khai quật gồm: Nguyễn Kim Thủy (Viện Khảo cổ học); Trần Văn Tùy (Bảo tàng Hà Nội); Hoàng Văn Diệp (Bộ môn Khảo cổ học), các tân cử nhân khảo cổ K 51 và K 52 …. 

Ảnh minh họa  
 Tầng văn hóa xuất lộ trên vách trục đường do Thăng Long 9 mở xuyên qua di tích
 Các tân cử nhân khảo cổ học đang cùng thầy giáo của bộ môn đo vẽ hố khai quật
Dấu tích hố bếp văn hóa Đồng Đậu
 Dấu tích lò văn hóa Đồng Đậu
Những thỏi đất nung mà chức năng của chúng còn nhiều ý kiến
(tục ăn đất, vết tích liên quan đến đúc đồng)

 Miệng gốm văn hóa Đồng Đậu
Xương voi châu Á trong hố khai quật cho thấy môi trường 
rừng rậm quanh Hà Nội cách đây 3000 năm





Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Aboriginal Stonehenge: Stargazing in ancient Australia. Stonehenge của Thổ dân: Thuật chiêm tinh ở Úc Cổ xưa

An egg-shaped ring of standing stones in Australia could prove to be older than Britain's Stonehenge - and it may show that ancient Aboriginal cultures had a deep understanding of the movements of the stars. Một vòng các cột đá hình trứng ở Úc có thể có niên đại cổ hơn Stonehenge của Anh – và điều này cho thấy những nền văn hóa của Thổ dân đã có hiểu biết sâu sắc về sự chuyển động của những vì tinh tú.

Fifty metres wide and containing more than 100 basalt boulders, the site of Wurdi Youang in Victoria was noted by European settlers two centuries ago, and charted by archaeologists in 1977, but only now is its purpose being rediscovered. Rộng 50m và chứa hơn 100 tảng đá bazan, địa điểm Wurdi Youang ở Victoria đã được những người châu Âu biết đến từ cách đây hai thế kỷ, và năm 1977 được các nhà khảo cổ học vẽ sơ đồ, nhưng chỉ đến bây giờ chức năng của công trình này mới được tái phát hiện.

It is thought the site was built by the Wadda Wurrung people - the traditional inhabitants of the area. All understanding of the rocks' significance was lost, however, when traditional language and practices were banned at the beginning of the 20th Century. Người ta cho rằng địa điểm này do người Wadda Wurrung – những cư dân bản địa của vùng này xây dựng. Mọi hiểu biết về giá trị của những cột đá dựng này đã mất khi ngôn ngữ và nghi lễ truyền thống bị cấm vào đầu thế kỷ 20.

Now a team of archaeologists, astronomers and Aboriginal advisers is reclaiming that knowledge.
Nay, một nhóm các nhà khảo cổ học, thiên văn học và những cố vấn người bản địa (thổ dân) đã thông báo chức năng của công trình này.

They have discovered that waist-high boulders at the tip of the egg-shaped point along the ring to the position on the horizon where the sun sets at the summer and winter solstice - the longest and shortest day of the year. Họ đã khám phá ra rằng những tảng đá hẹp đầu - hình trứng phân bố thành vòng tròn theo vị thế của đường chân trời khi mặt trời lặn vào thời điểm đông chí và hạ chí - ngày ngắn nhất và ngày dài nhất của năm.

The axis from top to bottom points towards the equinox - when the length of day equals night. 
Trục từ đỉnh xuống đáy chỉ theo điểm phân - khi độ dài của ngày bằng đêm.

At Stonehenge, the sun aligns instead with gaps in the stones on these key dates in the solar calendar.
Ở Stonehenge, mặt trời chiếu instead with gaps vào những cột đá trong những ngày then chốt (đông chí và hạ chí) theo lịch mặt trời.
The probability that the layout of Wurdi Youang is a coincidence is minuscule, argues Ray Norris, a British astrophysicist at Australia's national science agency, who is leading the investigation. 
Xác xuất về sự sắp đặt công trình Wurdi Youang là một sự trùng hợp ngẫu nhiên là rất nhỏ, theo Ray Norris, nhà thiên văn học người Anh nói với hãng thông tấn khoa học Úc, ông là người lãnh đạo cuộc khảo sát này    

Prof Norris and his Aboriginal partners used Nasa technology to measure the position of each rock in relation to the sun, and to demonstrate the connection with the solstices and equinox. 
GS. Norris và những đối tác người bản địa của ông đã dùng kỹ nghệ Nasa để định vị từng cột đá trong mối liên quan đến mặt trời và để thể hiện mối quan hệ với điểm chí và điểm phân. 

"It's truly special because a lot of people don't take account of Aboriginal science," says Reg Abrahams, an Aboriginal adviser working with Prof Norris. 
"Thực sự đây là điều rất đặc biệt, vì nhiều người không ngờ đến một nền khoa học Thổ dân", Reg Abraham, một cố vấn người bản địa làm việc với GS. Norris nói.

As happened with Stonehenge, the discovery could change the way people view early societies. It is only recently that it has been demonstrated that Aboriginal societies could count beyond five or six. 
Tương tự như đã xảy ra với Stonehenge, khám phá này có thể thay đổi quan điểm của chúng ta về những xã hội cổ đại. Tới nay người ta vẫn cho rằng những cộng đồng Thổ dân chỉ đếm được đến số 5 hay 6.

Songs and stories 
Bài ca và câu chuyện

"This is the first time we have been able to show that, as well as being interested in the position of the sun, they were making astronomical measurements," says Prof Norris, who is also a faculty member at the School of Indigenous Studies at Macquarie University in Sydney.
"Đây là lần đầu tiên chúng tôi có thể chỉ ra rằng, khi quan tâm đến vị trí của mặt trời, họ đã tính toán những chỉ số thiên văn học", đó là nhận định của GS. Norris, người đồng thời cũng là thành viên của khoa ở Trường của Nghiên cứu Bản địa tại Macquarie UniversitySydney.  

Other studies by Prof Norris, of Aboriginal songs and stories, have also indicated a clear understanding of the movements of the sun, moon and stars. 
Những nghiên cứu khác của GS. Norris về những bài ca và chuyện kể cũng cho thấy một sự hiểu biết rõ ràng về chuyển động của mặt trời, mặt trăng và các vì sao

Indigenous customs vary among groups across Australia, but one story that appears in many local traditions is the tale of a great emu that sits in the sky.
Những tập quán bản địa đa dạng giữa các nhóm thổ dân Úc, nhưng có một câu chuyện lưu truyền trong nhiều truyền thống địa phương đó là truyện về một con chim êmu (đà điểu sa mạc Úc) tọa trên trời.

The emu, which can be seen in the southern hemisphere during April and May, is a shape made by the dark patches of the Milky Way. 
Chim ê mu, có thể thấy ở bán cầu Nam vào tháng 4 và 5 là hình tượng được tạo bởi những dải sẫm màu của dải Ngân Hà.

Its appearance coincides with the laying season of the wild emu and for the storytellers it is a sign to start collecting eggs. 
Sự xuất hiện của nó (chim ê mu) trùng với mùa đẻ trứng của chim ê mu hoang dã và đối với những người kể chuyện đó là dấu hiệu của bắt đầu thu thập trứng

Prompted by historian Hugh Cairns, Prof Norris examined and photographed an emu-shaped rock carving in Kuring-Gai Chase National Park, near Sydney, which cleverly mirrors the celestial animal-like shape. Được khích lệ bởi nhà sử học Hugh Cairns, GS. Norris đã kiểm tra và chụp ảnh một bức chạm khắc trên đá hình chim ê mu ở Kuring-Gai Chase National Park, gần Sydney, bức chạm cho thấy hình dạng của một con vật thiêng (trời).  

During the southern autumn, the constellation is positioned above the rock with the bird shape almost perfectly reflected by the engraving. Vào mùa thu miền nam, chòm sao nằm ngay trên tảng đá có chạm hình chim nói trên và tạo hiệu ứng ánh sáng hoàn hảo cho những đường chạm khắc

Intellectual leap
Một cú nhảy trí tuệ

Other stories show more complex, intellectual understanding of the universe. Những câu chuyện khác cho thấy sự hiểu biết phức tạp và đầy chất trí tuệ về vũ trụ.

In the case of the solar eclipse, the Walpiri people in the Northern Territory tell the story of a sun-woman who pursues a moon-man. When she catches him the two become husband and wife together causing a solar eclipse. Đối với trường hợp nhật thực,  người Walpiri  ở Lãnh thổ miền Bắc kể câu truyện về người nữ-mặt trời truy đuổi người nam-mặt trăng. Khi người nữ bắt được người nam, hai người trở thành vợ chồng và đó là nguyên nhân của nhật thực.

The idea that the solar eclipse is caused by the moon moving in front of the sun is something only widely accepted by western scientists in the 16th Century. Ý tưởng rằng nhật thực xảy ra do chuyển động của mặt trăng phía trước mặt trời đã được những nhà khoa học PT chấp nhận rộng rãi vào TK 16.

"This is not about balls of flames going out, it's about one body moving in front of the other," says Prof Norris. "That is a giant intellectual leap." "Đó không phải là về những quả bóng lửa thoát ra ngoài, đó là câu truyện về một cá thể chuyển động phía trước một cá thể khác", theo GS. Norris. "đó là một cú nhảy vĩ đại về trí tuệ".

Since solar eclipses are rare, the survival of this story, passed down through generations, also shows a remarkable continuity of learning. Từ lúc nhật thực trở nên hiếm hoi, phần sót lại của câu chuyện này được lưu truyền qua nhiều thế hệ cho thấy có một sự học tập liên tục truyền thống. 

These discoveries play a crucial role in helping Aboriginal and non-Aboriginal Australians understand just how intellectually advanced their ancient society was. Những phát hiện này có vai trò quan trọng để giúp người Thổ dân và Không Thổ dân Úc hiểu xã hội cổ của họ đã tiến bộ về trí tuệ như thế nào.

"This discovery has huge significance for understanding the amazing ability of this culture that is maligned," says Janet Mooney, head of Indigenous Australian Studies at Sydney University. "Phát hiện này có ý nghĩa to lớn để tìm hiểu khả năng đáng kinh ngạc của nền văn hóa này (VH Thổ dân), nền văn hóa đã từng bị coi nhẹ", phát  biểu của Janet Mooney, người lãnh đạo Bộ môn nghiên cứu Úc Bản địa thuộc ĐH Sydney.

"It makes not only me, as an Aboriginal person, but a lot of Aboriginal people around Australia very proud." "Điều này đã khiến không chỉ tôi, một người Úc Thổ dân mà cả nhiều Thổ dân khác trên đất nước Úc tự hào"

She hopes to be able to tell her students of an aboriginal site more ancient than Stonehenge. Janet hy vọng cô có thể kể cho những sinh viên của mình về một địa điểm bản địa có niên đại cổ hơn Stonehenge.

Until it is dated however, Wurdi Youang could be anywhere from 200 to 20,000 years old. Tuy vậy, cho đến lúc có thể xác định niên đại cụ thể, Wurdi Youang có thể có niên đại từ 20.000 năm đến cách đây 200 năm.

Aboriginal stone structures in the region have a vast age range and are very difficult to date. Many of the smaller rock sites that have been found, such as shelters and cooking areas, have been moved over time by natural and human forces. Những công trình - cấu trúc đá Thổ dân trong khu vực này có phân bố rộng và rất khó để xác định niên đại. Rất nhiều những địa điểm đá nhỏ hơn đã được tìm thấy, như những nơi ẩn trú hay nấu nướng, những nơi như thế này cũng đã bị làm thay đổi qua thời gian bởi con người và thiên nhiên.

But given the size of the stones at Wurdi Youang and how deeply they are entrenched in the ground it is more likely they have been there for thousands of years, archaeologists say. 
Nhưng dựa vào kích cỡ của các cột đá ở Wurdi Youang và độ sâu mà chúng được chôn vào lòng đất, các nhà khảo cổ cho rằng, có nhiều khả năng chúng đã hiện tồn qua hàng ngàn năm.

Dating requires archaeologists to test the soil under the rocks to see when it was last exposed to sunlight and the team hope to be able to do this in the next few months. Việc xác định niên đại đòi hỏi các nhà khảo cổ phải đào thám sát đất phía dưới những cột đá để xem đất này bị phơi lộ dưới ánh sáng mặt trời muộn nhất là thời điểm nào và nhóm nghiên cứu hi vọng họ sẽ làm được điều này trong tháng tới.

But Prof Norris believes he has already proven the real value of the stone circle. Nhưng GS. Norris tin rằng ông đã đánh giá được giá trị thực của vòng tròn đá này.

"It is interesting to know how far back people were doing astronomy, if it is 5,000 years old it would predate Stonehenge," he says. "Rất thú vị để biết người xưa đã làm thiên văn học ra sao và từ khi nào, nếu nó có niên đại 5000 năm thì cũng đã sớm hơn Stonehenge"

"But it is not quite as interesting to my mind as whether the Aboriginal people were doing real astronomy before British contact. That really tells us a lot about what kind of culture it is." "Nhưng điều thú vị đối với tôi không phải là Thổ dân đã có thiên văn học thật sự trước giai đoạn tiếp xúc với nước Anh mà là đây là loại hình văn hóa gì".

Author: Stephanie Hegarty | Source: BBC News Website [October 06, 2011]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2011/10/aboriginal-stonehenge-stargazing-in.html

Lâm Thị Mỹ Dung dịch

KỶ NIỆM CÁI GÌ?

Tác giả: Blogger Gốc Sậy – TS Nguyễn Hồng Kiên
Lào Cai: Kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh
Cái “hội chứng kỷ niệm” xxx năm của một địa phương đã ngày càng biến tướng đến cùng cực.
 Một đơn vị hành chính hình thành từ thời Quân chủ, rồi thời Thực dân đế quốc, NÓI CHO CÙNG chỉ là QUY ĐỊNH của kẻ cai trị, để quản lý một vùng đất-nước.
Nhưng có nhẽ do CÓ TẦM NHÌN, các Cụ từ thời Quân chủ (và các quan Thực dân) đã nhận ra, khoanh vùng… xác định địa giới các tỉnh-thành (thậm chí cả tới huyện-xã) một cách Khoa học, phù hợp Tự nhiên-Xã hội… Dần dà, trải thời gian, trong các địa giới ấy đã ổn định những văn hóa vùng-miền.
 Đến những năm 80 của thế kỷ trước, trong tư duy DUY Ý CHÍ XHCN, nhiều vùng, nhiều địa phương nhỏ được sáp nhập khiên cưỡng, bất chấp Phong thủy, địa lý, văn hóa… Nào Hà-Nam-Ninh (Hà Nam- Nam Định- Ninh Bình), nào Hà-Sơn-Bình (Hà Đông- Sơn Tây- Hòa Bình), nào Hoàng Liên Sơn (Lào Cai- Yên Bái- Nghĩa Lộ)… Kể ra thì hết cả entry này, nên thôi.
 Ngay trong những cái tên tỉnh mới nói trên đã lộ rõ tính “thời vụ”, tạm bợ: Nơi thì là ghép tên cũ theo những cách tùy tiện, nơi thì là đặt mới (khiến tỉnh Nghĩa Lộ từ đó biến mất)
 Nói về chuyện kỷ niệm thành lập một địa phương KHÔNG THỂ KHÔNG NHẮC đến vụ “kỷ niệm 300 năm Sài Gòn”.
Chuyện VÔ LÝ KINH HÒANG thế mà vẫn làm được. Bấy giờ GS Trần Quốc Vượng đã đặt câu hỏi: – Thế trước đó, vùng Sài Gòn là gì?
Không ai thèm trả lời.
Và rồi “hội chứng” ấy đã lan ra khắp miền Trung, bất chấp những HÔ HÀO về một Đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Đã có ý kiến bao biện: Đấy là kỷ niệm thành lập một vùng tụ cư của người Việt. Ô hay, thế trước khi người Việt đến ở thì đó là đất hoang chắc. Những cư dân của các vương quốc Champa, Phù Nam- Chân Lạp là hổ báo, rắn rết chăng?
(Xin nói luôn rằng đừng ai đem chuyện mấy trăm năm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vào đây. Chuyện ấy xin hẹn bàn dịp khác. Chỉ xin nhắc rằng: Chính phủ Australia chính thức xin lỗi thổ dân vì những sai lầm mà các chính phủ trước đó đã gây ra cho họ.)
Chuyện “khắc nhập-khắc xuất” đã gây ra nhiều chuyện:
- Hệ lụy tranh chấp địa giới Hà Nội – Hòa Bình
tỉnh bạn đề nghị phía Tây đường Hồ Chí Minh thuộc về Hòa Bình, phía Đông đường Hồ Chí Minh thuộc về Hà Nội. “Tôi không hiểu người ta nghĩ gì, nếu thực hiện đề xuất như vậy sẽ xáo trộn đến cuộc sống của khoảng hai nghìn hộ dân””.  Công dân Hà Nội, “sổ đỏ” Hòa Bình
 Rồi đẻ ra: Hoà Bình: Thủ tướng cấm, tỉnh vẫn cứ làm
Dân gian thì cười nghiêng ngả về chuyện 2 vợ chồng già vẫn sống trên mảnh đất đó, ngôi nhà đó, bỗng nhiên thành người 2 tỉnh khác nhau: “Ông nhà tôi là người Hà Nội, nhưng bây giờ lương hưu nhận ở Lương Sơn, sinh hoạt Đảng, cựu chiến binh vẫn ở Lương Sơn…”
Phàm cái gì BẤT HỢP LÝ thì sẽ không thể tồn tại lâu. Các tỉnh TO lại dần được chia ra, trả lại như cũ, dưới thời Phong kiến-đế quốc
Dù không chính thức, nhưng rõ ràng đó là THỪA NHẬN: Không phải cái gì của Phong kiến-đế quốc cũng là XẤU, là Phản động, là cần xóa bỏ.
Thậm chí, thực tế hoạch định các tỉnh thành hiện nay đang GẦN TRÙNG, tiệm cận trở lại với hoạch định thời Phong kiến-đế quốc.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 ra Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó:
1- Chia tỉnh Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh (Dân gian lại đồn có 1 ý kiến đề nghị sáp nhập Hà Tĩnh với Quảng Bình để có tỉnh BÌNH TĨNH)
2. Chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai.
3. Chia tỉnh Hà Tuyên thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang.
4. Chia tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum.
5. Chia tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh, lấy trên là tỉnh Hoà Bình và tỉnh Hà Tây…
Chuyện chia tách tỉnh To trở về tỉnh nhỏ như cũ đã để lại không biết bao nhiêu hậu quả, hệ lụy đau đớn. Đỉnh cao có nhẽ là chuyện lực lượng vũ trang 2 địa phương Phú Yên và Khánh Hòa (tái tách từ Phú Khánh ra) đã dàn trận, suýt đánh nhau to trên đèo Cả. Mỉa mia là ngay gần đó là Vũng Rô – một di tích “đường Hồ Chí Minh trên biển” hồi miền Bắc chi viện cho miền Nam đánh Mỹ.
Nhưng rất gần đây, chuyện “khắc xuất” đó lại bỗng trở thành nguyên nhân của một TRÀO LƯU “kỷ niệm” khác: Kỷ niệm tái lập tỉnh.
Thật là KỲ QUÁI, một việc làm SAI, phải sửa, lại trở thành lý do để người ta TIÊU TIỀN. Cho dù ngay từ khi sửa sai, Nghị quyết Quốc hội đã có yêu cầu:
8. Giao cho Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này của Quốc hội theo tinh thần tiết kiệm, không tăng biên chế, không để thất thoát tài sản xã hội chủ nghĩa; nhanh chóng ổn định tổ chức và phát triển sản xuất.
Vậy NGƯỜI TA kỷ niệm cái gì ?

CHUYỆN Ở LÀO CAI:

Sau ồn ã về việc nhân dịp kỷ niệm tái lập tỉnh TP Lào Cai: Cưỡng bức dân treo cao đèn lồng đỏ?, lại là sự kiện về NGÀY tái lập tỉnh này.
Đã có nhiều chứng minh chuyện trang thông tin điện tử UBND tỉnh Lào Cai xóa chứng tích đánh tráo lịch sử Âm mưu Hán hóa – Sửa lịch sử để kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh cùng ngày Quốc Khánh Trung Quốc.  Ở đây không bàn đến nữa.  Chỉ nói chuyện VÔ LÝ “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông…”
Thực tế, các cơ quan chức năng của tỉnh này đã được thành lập NGAY SAU khi kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết:
- “Tháng 8/1991, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 9 đã ban hành Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Hoàng Liên Sơn thành lập hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao ban hành quyết định số 96/QĐ-TC ngày 22/8/1991 thành lập Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai và bổ nhiệm đồng chí Triệu Viết Hanh làm Viện trưởng với chỉ tiêu biên chế là 104 đồng chí (tỉnh 40, huyện 60).”
- “Bước vào năm 1991, tỉnh Lào Cai được tái lập, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký Quyết định số 115/TCHQ-TCCB ngày 30/9/1991 đổi tên Hải quan Hoàng Liên Sơn thành Hải quan Lào Cai trực thuộc Tổng cục Hải quan, có trụ sở tại thị xã phố Lu tỉnh Lào Cai.”
Cái ngày 01/10 (hay 10/10) kia là từ đâu ra???
Tra toàn bộ danh mục văn bản pháp quy năm 1991 trên Cổng TTĐT Chính phủ, KHÔNG CÓ VĂN BẢN NÀO LIÊN QUAN ĐẾN CHUYỆN THÀNH LẬP LẠI CÁC TỈNH theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII. Chỉ có “Quyết định về việc điều chỉnh địa giới thị xã Đông Hà và thành lập lại huyện Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị”.
Nếu Hội đồng Bộ trưởng không có Quyết định thì phải lấy ngày Quốc hội ra Nghị quyết làm MỐC. Nghĩa là ngày TÁI LẬP tỉnh này phải lấy mốc ngày Quốc hội ra Nghị quyết là ngày 12/8/1991.

CHUYỆN Ở HÒA BÌNH:

Dư luận xôn xao chuyện ở Lào Cai nhưng lại không để ý chuyện 1 tỉnh khác cũng vừa kỷ niệm THÀNH LẬP và TÁI LẬP. Nhân dịp đó, tỉnh này còn tổ chức lễ hội cồng chiêng để đón rước Huân chương Hồ Chí Minh.
Hòa Bình kỷ niệm 125 năm thành lập tỉnh
Buồn cười là, hầu hết các báo đều “giật tít” Hòa Bình kỷ niệm 125 năm thành lập tỉnh
Trước đó, “Ngày 13 tháng 7 năm 2011, tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình, Ban tổ chức, Ban giám khảo cuộc thi đọc sách báo tìm hiểu 125 năm thành lập tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội nghị triển khai phát động cuộc thi trong toàn tỉnh, “Với mục đích ôn lại những trặng đường lịch sử vẻ vang, những truyền thống cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình qua 125 năm đấu tranh giành độc lập tự do, xây dựng và trưởng thành.” “
Tức là từ khi được thành lập, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã phải đấu tranh. Vậy sao phải kỷ niệm cái MỐC THỜI GIAN BỊ NÔ LỆ đó? Đọc mà buồn.
“Khắc nhập, khắc xuất” chắc chắn còn là câu chuyện chưa có hồi kết.
Với từng người dân, chuyện đó CHẲNG CÓ Ý NGHĨA GÌ. Họ vẫn sinh sống ở đó, trong ngôi nhà đó, trên mảnh đất đó… chẳng có gì khác. Người muốn ăn mừng chỉ là những ông “có ghế” ngồi thôi !
Chuyện tách ra nhập vào đã là DUY Ý CHÍ. Chuyện kỷ niệm cái NGÀY SỬA SAI thì càng rõ là Phi lý và Lãng phí.

Mình cực kỳ tâm đắc câu "Ô hay, thế trước khi người Việt đến ở thì đó là đất hoang chắc. Những cư dân của các vương quốc Champa, Phù Nam- Chân Lạp là hổ báo, rắn rết chăng?"

Iron Age ‘pub’ found in Scotland – “Quán rượu” thời đại sắt ở Scotland

Theo các nhà nghiên cứu, một địa điểm lịch sử có niên đại thời đại đồ sắt ở miền Bắc Scotland có thể vốn là quán nhậu – đây là quán nhậu có niên đại xưa nhất được phát hiện từ trước đến nay.
Các chuyên gia tin rằng cách đây khoảng 4500 năm, những người địa phương khô khát đã cùng nhau nhậu nhẹt ở Shetland gần Sumburgh Head.

Hàng tá bàn nghiền – nghiền lúa mạch – cho thấy nơi này có thể vừa từng là quán nhậu vừa từng là lò bánh.
Jarlshof đã mô tả địa điềm này như một “trong những địa điểm khảo cổ học ấn tượng nhất đã được khai quật ở British Isles” mà sự xuất lộ ban đầu là do một cơn bão năm 1980.
Địa điểm này chứa những tàn tích từ năm 2500 năm TCN đến thế kỷ 17.
Một số chuyên gia trong đó có nhà khảo cổ học Val Turner đã không nghi ngờ rằng – dù có phải là quán rượu hay không – thì bia đã được ủ ở Jarlshof từ thời đại Sắt.
“Chúng ta biết những hội hè cộng đồng, và có lẽ uống (rượu) đã là một đặc điểm của đời sống thời đại Sắt. Lòng hiếu khách hào phóng là một cách quan trọng để thiết lập vị thế xã hội,”, tờ Daily Record đã trích lời của TS. Noel Fojut, tác giả của cuốn Prehistoric And Viking Shetland.
“Mặc dù vậy, không hề dễ dàng để nhận diện một quán trọ hay quán rượu – nơi mà người ta phải trả tiền với một công trình công cộng nơi mọi người cùng nhau ăn, uống.  
“Sẽ là ý tưởng thú vị khi người ta có thể được chào đón đến “quán rượu ở  miền đất nam Shetland và chắc điều đó là có thể.
“Nhưng có vẻ đây là sự hiếu khách của một gia đình địa phương hơn là của một chủ đất thương nhân điều mà ngày nay chúng ta thường nghĩ đến” ông bổ sung.
Author: Charlie Gall | Source: Daily Record [September 05, 2011]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2011/09/iron-age-pub-found-in-scotland.html

Dọc đường khảo cổ (6) Ăn xơ mướp

Ngày thứ hai của HNTBKCH, bão về, mưa gió đầy đường, mấy đứa rủ nhau đi ăn hàng Nhật. Gần tan cuộc, chị Thủy và anh Thắng đến. Lan man ẩm thực ngày mưa gió, mình chợt nhớ ẩm thực Huế. Cụ Từ Chi nói món ăn Huế là sự đế vương hóa món ăn Việt – Mường. Cụ đã nói thì phải đúng, cái sự nhận xét này của cụ được đúc kết từ hàng chục năm dấn thân nghiên cứu lý thuyết và th…ực hành.
(Có phải trong khoa học đang có hiện tượng “phú quý giật lùi ” không? nhưng có vẻ ngày càng ít những học giả vừa có cơ sở lý luận uyên thâm vừa có kiến thức thực tế dãi dầu năm tháng. Bây giờ, nhiều người mới học, mới đọc được tí đã nổ tung giời và càng ngày càng nhiều nhà nghiên cứu, cái gì cũng biết, cái gì cũng phán).
Mình chỉ băn khoăn một điều không biết những sự cầu kỳ, tỉ mỉ trong việc biến những nguyên liệu vô cùng bình thường thành những món vương giả ấy có phải cũng là kết quả của những ngày mưa rỗi việc chả có gì để làm bên cạnh lý do đã là quý tộc, đã là thần kinh thì ăn muối cũng phải khác, không thể giống dân đen!
Đang uống sake với món nướng không khói, nàng Liên chợt ước: “Giời đất này có lạc rang nhắm rượu thì hết ý”, chị Thủy xuýt xoa: “Công nhận người Huế giỏi, xơ mướp cũng làm thành món ăn”!
Cả hội ớ ra, bà chị cười bẽn lẽn: “À, xơ mít”!
Ôi giời ơi, khảo cổ lẫn khảo cả trên và dưới cổ thi thoảng cứ tẩu hỏa nhập ma thế đấy.
Riêng mình, mình thích các món ăn Miền Trung (trừ các món ăn Huế). Ôi những món khoái khẩu Mì Quảng (Quảng Nam), Cao Lầu (Hội An); Chè (Duy Xuyên); Bún tôm (Bình Định)…
Đúng là “Yêu nhau yêu cả đường đi…”!
Lâm Thị Mỹ Dung

Kết quả khai quật Truông Xe năm 2011

Kết quả khai quật Truông Xe năm 2011[1]
Bài tham gia HNTBKCH năm 2011, Hà Nội tháng 9 năm 2011.
 Lâm Thị Mỹ Dung, Hoàng Văn Diệp (Bộ môn Khảo cổ học)
Hoàng Thúy Quỳnh (Viện Khảo cổ học)
Bùi Tĩnh, Lê Thị Vân và Lê Văn Lào (Bảo tàng Bình Định)

Địa điểm Truông Xe thuộc thôn Tư, xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, Bình Định(tọa độ: 14017.575’N; 109008.439’E, cao từ 4,3 đến 5,1m so với mặt nước biển).
Dấu tích cư trú của người xưa phân bố không đều trên cồn cát chạy men theo đầm Trà Ổ[2] . Do những hoạt động khai thác cát nhanh mạnh từ những năm 90 của thế kỷ trước, tầng văn hóa ở các sườn đông, đông bắc và tây bắc của cồn đã bị phá hủy hầu hết, trên cồn xuất lộ những vạt cát màu thẫm và nhiều mảnh gốm, đá, vỏ sò… phân bố dày đặc trên bề mặt cho thấy mức độ của sự phá hủy này.

Khai quật tháng 8 và tháng 9 năm 2011
7 hố khai quật với tổng diện tích 200m2 đã được mở dựa trên vết tích tầng văn hóa lộ ra trên sườn đông bắc và tây bắc, đây có lẽ là cuộc khai quật cuối cùng tại di tích này, do phần lớn diện tích của di tích đã bị xúc ủi.
Địa tầng
Địa tầng khá đơn giản, di tích chỉ có một tầng văn hóa có độ dày trung bình khoảng 40cm, chỗ dày nhất khoảng 80cm lớp cát phủ trên có màu xám trắng, dày khoảng 10-20cm. Sinh thổ là cát vàng mịn.
 Di tích xuất lộ
Do rất nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, vết tích nhà ở trên cồn cát hầu như không thể phát hiện, ngoại trừ một số hố nhỏ dạng lỗ cột còn in dấu trong lớp cát vàng – sinh thổ nhưng phân bố không có quy luật.
Dấu tích bếp
Tại hố 3 và hố 5 phát hiện dấu tích của 03 bếp, bếp thường có hình tròn đáy hình lòng chảo[3], cát trong bếp lẫn nhiều than tro nên có màu đen sẫm, trong phạm vi bếp ở trung tâm thường có tích tụ vỏ sò, ốc, xương động vật, xương, răng cá, mảnh gốm vỡ, cát xung quanh bếp nhiễm than tro thành từng mảng màu sẫm.  
Có thể hình dung như sau: người xưa đã đào những hố hình lòng chảo vào sườn cồn cát[4], củi là những cây bụi (dựa vào những mẩu than củi còn lại), nồi nấu thức ăn có hai loại chính, loại miệng khum và loại miệng loe, có lẽ người xưa thường ngồi ăn gần bếp và tiện tay vứt vào bếp tất cả xương xẩu, vỏ ốc, trai, hến… (rất nhiều vỏ sò bị nung, xương động vật, xương cá bị đốt cháy…đã được phát hiện trong những khu bếp).
“Sống trên cát, chết vùi trong cát”, địa điểm Truông Xe cho thấy mô hình sinh thái Cồn – Bàu điển hình, đầm – bàu là nơi cung cấp nước, cá, tôm, ốc, rừng cho thú lớn, thú nhỏ và cồn cát là nơi trú ngụ và chôn cất người chết[5].
Di vật: Đồ đá và đồ gốm
Đồ đá tập trung ở các hố khai quật mở ở sườn Tây Bắc của cồn cát, số lượng đồ đá phát hiện so với diện tích khai quật khá khiêm tốn và loại hình đơn điệu. Ở hố khai quật sườn Đông Bắc, đồ đá và cả đá nguyên liệu ít hơn rất nhiều so với những hố sườn Tây Bắc.
Công cụ có rìu, bôn tứ giác, rìu bôn vai xuôi, rìu bôn có đốc thu nhỏ, bôn dạng răng trâu nhỏ, khá nhiều công cụ được “thanh xuân hóa”, chất liệu chủ yếu từ đá Basalt màu trắng mịn. Nhìn chung rìu, bôn đá Truông Xe khá giống với bộ công cụ đá Tiền sử Nam Trung Bộ.
01 rìu chỉ được mài ở lưỡi (hình dạng tương tự rìu mài lưỡi Hòa Bình)
Dụng cụ đá gồm hòn ghè, bàn mài, hòn đập, bàn kê.
Đồ gốm: Đồ gốm phân bố dày và đều ở cả 7 hố khai quật, đa phần là mảnh vỡ, không có hiện vật nguyên.
Loại hình gốm chính
Phổ biến nhất là loại nồi miệng thẳng hay hơi khum, văn thừng nhiều loại trang trí toàn thân sát lên miệng, loại nồi này đã tìm thấy trong văn hóa Bàu Tró, trong các địa điểm Tiền Sa Huỳnh ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Nồi miệng loe cong, thân hình cầu, phần mép miệng và cổ thường để trơn và áo miết láng, thân trang trí văn thừng nhiều loại.
Nồi miệng loe gẫy, thân hình cầu, mép miệng trang trí in mép vỏ sò, răng sói, khắc vạch hình hình học, in cuống rạ…thân trang trí văn thừng, in mép sò, in răng sói…
Lọ hoa, đồ gốm có chân hình ống cao, nắp hình lồng bàn nhỏ…
Một số mảnh chum lớn và dày trang trí văn thừng
Gốm minh khí: Một số mảnh nồi của loại đồ gốm kích thước rất nhỏ, gióng gốm minh khí địa điểm Long Thạnh
Trang trí:
Kỹ thuật trang trí có in ấn (in mép sò, in răng sói, ấn móng tay, ấn cuống rạ), in đập thừng, chải bằng que nhiều răng, khắc vạch, đắp nổi, trổ lỗ, tô màu đen, đỏ và tím đỏ và miết bóng.
Họa tiết và đồ án: Răng sói độc lập, in mép sò độc lập, in cuống rạ độc lập, ấn móng tay độc lập hay kết hợp những họa tiết này  trang trí trên thân, chân đồ gốm hay khuôn trong băng ngang, băng uốn lượn xen kẽ băng miết láng trên thân.
Trong hố khai quật có khá nhiều đá son màu tím có vết mài, có lẽ những loại bột mài từ son được cư dân dùng để tô màu gốm hay pha vào đất sét tạo áo gốm.
Về loại hình, kỹ thuật chế tác, tạo hoa văn, đồ gốm Truông Xe có mối quan hệ gần gũi với gốm Bàu Trám, Bãi Ông (Quảng Nam); Vườn Đình- Khuê Bắc (Tp. Đà Nẵng); Long Thạnh (Quảng Ngãi). Một số loại hình đồ gốm như chum, nồi miệng loe cong, nắp hình lồng bàn, lọ hoa và đồ án hoa văn khắc vạch kết hợp băng miết láng và tô màu cho thấy sự phát triển liên tục từ Tiền Sa Huỳnh sang Sa Huỳnh.
Niên đại: Khoảng từ 3000 đến 2500 năm cách ngày nay.  

[1] Đoàn khai quật của Bảo tàng Tổng hợp Bình Định kết hợp với Bộ môn Khảo cổ học, Trường ĐHKHXH & NV Hà Nội. Thành phần đoàn gồm: TS. Đinh Bá Hòa, Bùi Tĩnh, Lê Thị Vân, Lê Văn Lào (Bảo tàng Bình Định), PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung, Hoàng Văn Diệp (Bộ môn Khảo cổ học) và Th.s. Hoàng Thúy Quỳnh (Viện Khảo cổ học). Chủ trì khai quật Lâm Thị Mỹ Dung.
[2] Đầm Trà Ổ nằm ở giữa hai xã Mỹ Lợi, Mỹ Thắng (Phù Mỹ), Trà Ổ nhận nước từ các sông nhỏ xung quanh và có cửa đổ ra biển (cửa Hà Ra), đầm có hai mùa nước, mùa đông nước ngọt từ các con sông chảy về, mùa nắng nước biển hòa nước đầm trở nên mặn, đầm có nhiều loại tôm cá lớn và ngon, độc đáo nhất là cá chình mun (chình thâm). Tuy nhiên do khai thác nhiều và sử dụng phương pháp đánh bắt tận diệt nên loại cá này giờ rất hiếm.
[3] Kiểu bếp này cũng được phát hiện ở di chỉ Gò Duối (Hòa Diêm), Cam Ranh, Khánh Hòa.
[4] Hiện nay trẻ em vẫn khoét những bếp kiểu này trên sườn cồn cát để nướng củ hay tôm cá kiếm được.
[5] Đợt thám sát và khai quật trước đây ở địa điểm này cho thấy đây là di tích kết hợp cư trú với mộ táng, chum mai táng giống chum Long Thạnh, Quảng Ngãi
Truông Xe: Núi – Cồn – Bàu
 
Hiện vật đá

Mảnh gốm tô màu và đá son có vết mài

Nghiên cứu đồ gốm Champa 10 thế kỷ đầu Công nguyên – Kết quả và vấn đề

Nghiên cứu đồ gốm Champa 10 thế kỷ đầu Công nguyên – Kết quả và vấn đề[1]
 
                                     Nguyễn Hồng Kiên, Nguyễn Anh Thư và Lâm Thị Mỹ Dung
 
(Bài tham gia Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 2011, Hà Nội)
 
Đồ gốm do những đặc điểm cơ học và văn hóa độc đáo của mình luôn luôn là nguồn tài liệu hữu dụng và quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học bất kể giới hạn nào về không gian và thời gian, hiện nay đã có nhiều phương pháp và cách tiếp cận mới trong nghiên cứu đồ gốm giúp khai thác tối đa và nhiều chiều lượng thông tin.
Nói đến gốm Champa, đa phần người nghiên cứu và công chúng thường nghĩ đến gốm Gò Sành hay gốm Bàu Trúc. Trong khi đó một khối lượng đồ sộ đồ gốm từ các địa điểm khảo cổ học Champa niên đại 10 thế kỷ đầu Công nguyên chưa được nghiên cứu và công bố một cách đầy đủ, khoa học và hệ thống.
Áp dụng một số phương pháp và cách tiếp cận mới trong nghiên cứu đồ gốm, đề tài nghiên cứu đồ gốm Champa 10 thế kỷ đầu Công nguyên cố gắng đưa ra những kiến giải hợp lý về kỹ thuật sản xuất, tổ chức sản xuất, phân phối… và BỔ SUNG những hiểu biết mới về niên đại, loại hình và chức năng của đồ gốm giai đoạn này.
Kết quả nghiên cứu
1. Áp dụng các lý thuyết và phương pháp của khảo cổ học kỹ thuật và khảo cổ học xã hội đặc biệt là so sánh kết quả phân tích kỹ thuật (định tính) với các phương pháp khảo cổ học truền thống (loại hình học định lượng, định tính) để nhận biết và đánh giá một số vấn đề về nguồn gốc, tiếp nối văn hóa, cấu trúc, tổ chức xã hội (ví dụ mối quan hệ Sa Huỳnh – Champa; vấn đề Lâm Ấp và những tiểu vương quốc sớm dạng Lâm Ấp…). Việc áp dụng những phương pháp khoa học tự nhiên và kỹ thuật trong phân tích mẫu gốm khảo cổ và mẫu đất nguyên liệu lấy cùng chố kết hợp với thông kê định tính, định lượng và nghiên cứu so sánh dân tộc học… cần phải được mở rộng và được tiến hành thường xuyên và hệ thống
2. Xác định các yếu tố cấu thành và tác động đến sự hình thành và phát triển của gốm Champa theo thời gian
Gốm Champa là dòng gốm có nguồn gốc phức hợp, cùng với sự tự thân trong quá trình phát triển dòng gốm này chịu sự ảnh hưởng của dòng gốm trước và tiếp thu một số yếu tố từ các dòng gốm khu vực, đặc biệt là tiếp nhận kỹ thuật sản xuất gốm tinh mịn từ phía Bắc. Điều này cho thấy văn hóa Champa là một nền văn hóa mở, tự thân và hội nhập để phát triển theo suốt chiều dài lịch sử.
3. Xác định mối quan hệ và vị thế của gốm Champa ở Đông Nam Á cùng thời
•         Lượng đồ gốm khổng lồ tìm thấy trong các địa điểm lịch sử sớm ở Đông Nam Á minh chứng sự phát triển và tầm quan trọng của kỹ nghệ sản xuất gốm trong đời sống của cư dân, càng ngày càng có nhiều nghiên cứu áp dụng phương pháp mới, đặc biệt những nghiên cứu về gốm ở Philippines và Thái Lan.
•         Gốm lịch sử sớm Đông Nam Á kế thừa và phát triển nhiều cổ típ từ giai đoạn tiền, sơ sử, có thể nói gốm là loại di vật in đậm dấu ấn của cơ tầng văn hóa bản địa.
•         Quá trình tiến hóa của tính phức hợp xã hội và gia tăng quan hệ tiếp xúc với văn hóa bên ngoài được phản ánh một cách đầy đủ trong các lĩnh vực tổ chức, quản lý, kỹ thuật và phân phối đồ gốm, tuy nhiên quy trình này khác nhau về thời gian và mức độ ở các nước Đông Nam Á khác nhau.
•         Những đặc điểm chung trong loại hình và kỹ thuật sản xuất đồ gốm Đông Nam Á giai đoạn lịch sử sớm có nguyên nhân chủ yếu do cùng tiếp xúc và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố ngoại sinh Trung Hoa, Ấn Độ… –> Quá trình khu vực hóa.
•         Mỗi tổ hợp gốm đều có những đặc điểm riêng –> Quá trình địa phương hóa. 
 
4. Mối quan hệ giữa tổ hợp gốm Champa, gốm miền Bắc Việt Nam và gốm Óc Eo: Mối liên hệ giữa Champa và Óc Eo gần gũi và chặt chẽ hơn rất nhiều so với mối quan hệ giữa gốm Champa và gốm miền Bắc Việt Nam (chính xác là giai đoạn Lâm Ấp (Champa sớm) gốm có nhiều loại hình giống gốm miền Bắc Việt Nam nhưng từ sau TK 3, 4 gốm Champa giống với gốm Óc Eo nhiều hơn. Nguyên nhân: Tôn giáo, Chính trị…[2]
Nhận xét và vấn đề
•         Những đặc điểm văn hóa-lịch sử của vương quốc Champa có tác động trực tiếp tới sự hình thành và biến đổi của các ngành thủ công, đặc biệt là nghề làm gốm
•         Kết quả phân tích các sưu tập mẫu gốm thô, hơi thô và mịn của nhiều địa điểm cho thấy, đa phần sản phẩm gốm được sản xuất tại chỗ bằng cách khai thác nguyên liệu sẵn có ở địa phương. Sản phẩm sản xuất tại chỗ không chỉ thuộc dòng gốm thô, hơi thô mà cả dòng gốm mịn với độ nung dưới 10000 C.
•         Kết quả phân tích cho thấy có sự thay đổi cơ bản trong khai thác và xử lý chất liệu đất trong hai giai đoạn Sa Huỳnh và Champa.
•         Đồ gốm (loại hình/chức năng, kích cỡ, chất lượng…) có liên quan chặt chẽ và phản ánh những thay đổi kinh tế xã hội
•         Dòng gốm có men không phát triển, chưa có chứng cứ về Champa sản xuất gốm men trong 10 thế kỷ đầu Công nguyên. Có thể lý giải điều này bằng tập quán của cư dân vương quốc trong sử dụng đồ nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng. Những ghi chép trong sử, những sưu tập tư nhân và tài liệu khảo cổ cho thấy, đồ nghi lễ và đồ cung đình Champa chủ yếu bằng bạc, vàng và đồng. Trong tang lễ cũng có truyền thống tương tự (ví dụ về việc sử dụng những đồ đựng khác nhau về chất liệu trong hỏa táng phụ thuộc vào thân phận, địa vị trong xã hội: vua: hũ vàng, quan –hũ bạc, dân-hũ đất/sành).
•         Trong bối cảnh Đông Nam Á gốm Champa cho thấy có chung quá trình diễn biến văn hóa từ sớm đến muộn, việc tiếp thu kỹ thuật và loại hình từ bên ngoài trong sản xuất gốm phát triển nhanh mạnh và có tính bước ngoặt từ sau thế kỷ 3.
 

[1] Trích từ đề tài NCKH “Đồ gốm Champa 10 thế kỷ đầu Công nguyên từ tiếp cận khảo cổ học xã hội và khảo cổ học kỹ thuật” do PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung, Ths. Nguyễn Anh Thư, TS. Nguyễn Hồng Kiên, Ths. Hoàng Thúy Quỳnh và cộng sự thực hiện với sự tài trợ của TT Hỗ trợ Nghiên cứu châu Á, ĐHQG Hà Nội. Báo cáo tổng kết của đề tài lưu tại Bảo tàng Nhân học, Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội
[2] Sự diễn tiến trong đồ gốm phản ánh một cách trung thực bối cảnh lịch sử văn hóa, từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 2, 3 SCN mối quan hệ giữa Lâm Ấp và những tiểu vương quốc dạng Lâm Ấp với phía Bắc chặt chẽ do những nguyên nhân chính trị – kinh tế và từ sau thế kỷ 3 những xã hội này chuyển sang tiếp thu mạnh mẽ hơn những yếu tố văn hoá Ấn Độ và về phương diện chính trị đây cũng là thời gian chuyển biến sang mô hình Nam (Ấn Độ) mandala thực sự, quá trình chuyển hướng chính trị và tôn giáo này đã dẫn đến sự nổi lên của Chămpa trên chính trường Đông Nam Á vào thế kỷ 5,6.

Nghiên cứu DNA cho thấy châu Á được định cư bởi nhiều làn sóng di chuyển dân cư

Một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế nghiên cứu các mẫu hình DNA của người hiện đại và người cổ, kết quả cho thấy những chứng cứ mới về di cư và sự hòa huyết giữa các dân cư vào thời điểm cách đây 40.000 năm ở châu Á.
Hình này chỉ dẫn những cư dân ở ĐNÁ và châu Đại Dương cùng với và không cùng với tổ tiên Denisova. Những vòng tròn màu đen (người New Guineans, thổ dân Úc, …) tạo thành một nhóm với nhiều dự trữ di truyền Denisova nhất phát hiện cho tới nay; khoảng 4-6% dự trữ di truyền của họ là từ người Denisova cổ. Biểu đồ miếng bánh chỉ dẫn những nhóm dân cư khác liên quan với họ. Gene Denisova chỉ được nhận thấy ở miền đông của ĐNÁ và châu Đại Dương và không thấy ở châu Á lục địa (Nguồn: Harvard Medical School)  
Sử dụng phương pháp phân tích bộ gene state-of-the-art, các nhà khoa học của  Harvard Medical School và the Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology in Leipzig, Germany đã phát hiện rằng người Denisova – một nhóm người cổ đại mới được xác định mà DNA của họ được chiết xuất năm ngoái từ một xương ngón khai quật ở Siberia – cung cấp DNA không chỉ đối với người New Guineans hiện đại mà cả thổ dân Úc và cư dân Philippines.
Điều này cho thấy ngược lại với những phát hiện của những nghiên cứu gene trước đây, người hiện đại đến sinh sống ở châu Á không chỉ qua một lần di cư. Theo GS Di truyền David Reich của Harvard Medical School, “DNA Denisova giống như màu nhuộm y tế vạch ra mạch máu cá nhân. Nó rõ ràng đến nỗi người ta có thể nhận ra nó từ một lượng vô cùng nhỏ trong một cá thể. Bằng cách tương tự, chúng ta có thể tìm ra DNA Denisova trong những đợt di chuyển dân cư. Điều đó chứng minh sức mạnh của chuỗi DNA cổ như công cụ để tìm hiểu lịch sử con người”. 
Những mẫu hình mà các nhà nghiên cứu phát hiện chỉ có thể được giải thích bằng ít nhất hay đợt di cư: đợt thứ nhất liên quan đến thổ dân hiện đang sống ở ĐNÁ và châu Đại dương, và đợt sau liên quan đến người Đông Á hiện là cư dân chính của Đông Nam Á.
Nghiên cứu cũng cung cấp những tia sáng mới về nơi người Denisova cổ sinh sống. Theo Mark Stoneking, giáo sư  của Max Planck Institute, đồng tác giả của bài nghiên cứu, người Denisova sinh sống ở một chuỗi sinh thái và địa lý rộng từ Siberia đến Đông Nam Á nhiệt đới. ” Sự kiện DNA của người Denisova chỉ hiện diện ở một số cư dân bản địa của ĐNÁ chứ không phải ở tất cả cho thấy đã có một bàn cờ đam (xen kẽ) cư dân có hay không có chất liệu Denisova cách đây trên 44.000 năm”, Mark nói. “Sự hiện diện của dữ liệu gene Denisova chỉ trong một số chứ không phải trong tất cả các nhóm có thể lý giải một cách dễ dàng nếu người Denisova tự thân họ đã sống ở ĐNÁ”.
Những khám phá này đăng trên American Journal of Human Genetics. ngày 22 tháng Chín.
Nghiên cứu này dựa trên công trình trước đây của Reich và các đồng nghiệp ở Max Planck Institute, tại đây họ phân tích xương ngón út cổ do các nhà khảo cổ học người Nga phát hiện ở Hang Denisova, Siberia năm 2008. Nhóm của Max Planck Institute do Svante Paabo lãnh đạo đã phân tích tổ hợp gene hạt nhân và Reich tiến hành phân tích gene của dân cư bằng cách sử dụng thuật toán mà ông và đồng nghiệp của ông phát triển.
Khám phá này được đăng tháng 12 năm 2010 trên Nature, nhóm xác định người Denisova là một nhóm người cổ (hominins) riêng, sống cách đây trên 30.000 năm và cung cấp gene cho người New Guine hiện nay. Họ kết luận rằng người Denisova không phải là người Neandertal cũng như không phải là người hiện đại sớm, mặc dù họ có chung tổ tiên.
This paper helped fill in some empty pieces in the evolutionary puzzle that began after early humans left Africa and reinforces the view that humans have intermixed throughout history. 
Bài báo này giúp lấp đầy một số khoảng trống trong chuỗi tiến hóa bắt đầu từ khi người hiện đại sớm rời châu Phi và củng cố quan điểm rằng loài người hòa huyết suốt quá trình lịch sử.
Dấu vết di truyền
Nghiên cứu mới của Stoneking, chuyên gia về đa dạng di truyền ở ĐNÁ và châu Đại dương, người cũng có những sưu tập đa dạng mẫu từ khu vực. Nghiên cứu đã xem xét những dấu vết di truyền của người Denisova. Các nhà nghiên cứu phân tích DNA từ hơn một tá những nhóm cư dân ngày nay ở ĐNÁ và châu Đại Dương, bao gồm Borneo, Fiji, Indonesia, Malaysia, Australia, the Philippines, Papua New Guinea và Polynesia. Một số dữ liệu đã có từ trước, một số khác mới được thu thập.
Những phân tích của họ cho thấy, bên cạnh người New Guine, người Denisova còn cung cấp dữ liệu di truyền cho thổ dân Úc, người Philippine “Negrito”, nhóm có tên Mamanwa và một số cư dân khác ở miền đông ĐNÁ và châu Đại Dương. Còn những nhóm ở phía tây hay tây bắn, gồm những nhóm Negrito khác như  the Onge ở the Andaman Islands và the Jehai ở Malaysia, cũng như  Đông Á lục địa không lai giống với người Denisova.
The researchers concluded that: 
Các nhà nghiên cứu kết luận:
  • Người Denisova lai giống với người hiện đại ở ĐNÁ ít nhất cách ngày nay 44.000 năm trước thời gian tách ra khỏi người Úc và New Guine . 
  • ĐNÁ đầu tiên được chiếm cư bở người hiện đại không liên quan đến người TQ hiện nay  và người Indonessia, và rằng những người này và những người Đông Á khác đến đây bở những đợt di cư muộn hơn .  Giả thiết về “con đường phía nam” trước đây đã được ủng hộ bằng chứng cứ khảo cổ học, nhưng chưa bao giờ có sự hỗ trợ mạnh mẽ về di truyền.
Author: Debra Ruder | Source: Harvard Medical School [September 22, 2011]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2011/09/dna-study-suggests-asia-was-settled-in.html
Lâm Thị Mỹ Dung dịch

BẢO QUẢN VÀ LƯU GIỮ HIỆN VẬT KIM LOẠI

HAZEL NEWEY
Phần lớn những hiện vật kim loại trong các sưu tập ở bảo tàng được chia làm hai loại chính: hiện vật sử học và khảo cổ học. Hiện vật sử học tồn tại trên mặt đất liên quan đến hầu hết mọi khía cạnh trong cuộc sống, còn hiện vật khảo cổ học là đã được chôn giấu trong một thời gian dài rồi mới được khai quật lên.
Những vấn đề liên quan đến những loại hình đặc biệt của hiện vật làm bằng kim loại như các cánh tay và áo giáp sắt, đồng hồ treo tường và đồng hồ đeo tay sẽ không nhắc đến ở đây, nhưng phải đề ra những nguyên tắc chung của việc bảo quản và chăm sóc hiện vật. Thái độ của các chuyên viên bảo quản đối với những hiện vật kim loại thuộc về sử học đã thay đổi theo khuynh hướng rộng mở hơn trong vài năm gần đây trong chính sách chung về việc vệ sinh tối thiểu và phục chế thích hợp.
I. TÌNH TRẠNG HƯ HẠI:
Có hai hình thức hư hại xảy ra trong bảo tàng: hư hại về mặt hóa học và hư hại về vật lý. Cả hai đều có thể được giảm thiểu bằng cách dựa trên một số chỉ dẫn có giải thích dưới đây. Những thông tin này cũng bao gồm các nhận biết về hiện tượng ăn mòn trên kim loại.
1. Hư hại về hóa học:
Những hư hại về hóa học, chẳng hạn như sự ăn mòn, xảy ra do tình trạng của kim loại không ổn định. Phần lớn kim loại đều chiết xuất từ các loại quặng khoáng sản bằng cách nấu chảy, tạo thành một chất có năng lượng cao, chất này phản ứng với môi trường hình thành nên các loại oxide, carbonate và các hợp chất khác. Có những kim loại tương ứng với quặng nguyên chất. Việc ước lượng giá trị kim loại mà phản ứng xảy ra dựa trên từng loại kim loại riêng và lượng hơi ẩm, các chất hóa học và các khí trong khí quyển.
Các kim loại có thể được sắp xếp theo thứ tự tính chất của kim loại nhằm đưa ra một loạt kim loại điện hóa học, đầu tiên là platinum và vàng, bền vững nhất, rồi đến thiếc và aluminium, thuộc loại phản ứng nhanh nhất trong các kim loại thường. Sự sắp xếp này sẽ cho chúng ta một chỉ dẫn về phản ứng của kim loại ra sao khi tiếp xúc với các chất khác. Khi hai kim loại được đặt gần nhau với sự có mặt của hơi ẩm có thể gây ra một phản ứng tạo thành kiềm, đây chính là nguyên nhân của sự ăn mòn.
Khi hiểu biết và kinh nghiệm về chế tác kim loại tăng lên, rõ ràng những đặc tính của mỗi kim loại riêng biệt có thể được làm mạnh thêm hay được thay đổi bằng cách thêm vào một hay nhiều kim loại khác để hình thành một hợp kim. Những kim loại cơ bản có thể được trang trí với kim loại quý và trong một số trường hợp, có thể làm giảm tốc độ hư hại bằng cách thêm vào một lớp kim loại ổn định hơn ở bên ngoài, hay một chất giống như chất dẻo nhân tạo ở bên trong.
Ở một vài trưòng hợp, phương pháp sản xuất có thể dẫn đến một số rắc rối. Ví dụ, chất pha trộn trong hợp kim hay chất trợ dung hàn bị giây ra do tay nghề chất lượng kém có thể trở thành những trung tâm của sự ăn mòn. Những vết nứt trên lớp sơn mài, sơn thường hay lớp bề mặt sẽ hút hơi ẩm và khí vào bề mặt kim loại.
Trong bảo tàng, sự hủy hoại về hóa học có thể tăng nhanh do tác động với hơi ẩm và ô nhiễm trong không khí hay do môi trường bảo quản trung gian và môi trường trưng bày. Trong lúc việc loại bỏ mọi thành phần hóa học có hại trong không khí rất khó khăn và tốn kém thì bên cạnh đó, đơn giản hơn, ta chỉ việc đảm bảo các chất dùng trong thiết kế trưng bày và bảo quản là an toàn đối với hiện vật kim loại và không mang lại bụi hay hơi ẩm.
Sự ăn mòn cũng có thể xảy ra nếu chọn phương pháp bảo quản sai hoặc nếu không vệ sinh kỹ hiện vật. Dầu mỡ hay acid từ da tay người có thể gây ra những vết xước acid trên bề mặt đã được đánh bóng của hiện vật kim loại nếu chúng ta chạm vào hiện vật mà không mang găng tay. Những dấu tay để lại trên bề mặt chỉ có thể loại bỏ bằng cách đánh bóng lại cho sạch.
2. Việc bảo quản và làm vệ sinh:
Đúng ra, mọi công việc vệ sinh hiện vật bảo tàng đều phải do người phụ trách tiến hành. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm sạch bụi bẩn bằng cách chải cẩn thận, hay rửa bằng nước hoặc chất tẩy không có ion, tiếp đó là súc lại cho sạch rồi lau khô. Trong một số trường hợp, những người không phải chuyên viên bảo quản có thể tiến hành làm vệ sinh đối với những hiện vật dày và nặng sau khi đã giám định để kiểm tra khả năng thích nghi của chúng. Việc loại bỏ sự ăn mòn thường là sử dụng chất hóa học và chỉ do chuyên viên bảo quản đã qua huấn luyện tiến hành.
3. Những hư hại về vật lý:
Những hư hại về vật lý thường do kỹ thuật xử lý hiện vật kém hay do điều kiện bảo quản tồi gây ra. Mặc dù hiện vật kim loại rõ ràng là không dễ vỡ như đồ thủy tinh hay đồ gốm, nhưng một số hợp kim cũng có thể bị hủy hoại nặng nề khi bị rơi vỡ xuống nền nhà. Ngay cả khi trong trường hợp này, hiện vật không bị vỡ nhưng cũng sẽ trở nên méo mó hay có những bộ phận sẽ bị rơi ra khỏi thân hiện vật.
 Để xử lý về mặt vật lý nên giảm tối thiểu hoặc thậm chí không nên động tay vào những bộ phận dễ bị rơi rụng, nếu không những chỗ nối sẽ bị yếu đi. Hiện vật luôn luôn phải được cầm vào qua một lớp lót tay và phải dùng cả hai tay để nâng toàn bộ hiện vật. Không bao giờ được nâng hiện vật lên ở chỗ tay cầm hay ở cổ vì đây thường là những chỗ nối rất yếu ở những hiện vật cổ xưa.
Một trong những nguyên nhân lớn khác gây hư hại về mặt vật lý là việc đánh bóng và làm vệ sinh một cách thái quá. Bất kỳ một phương pháp làm vệ sinh nào cũng sẽ lấy đi một số kim loại trên bề mặt khi phải loại bỏ chỗ bị ăn mòn, dẫn đến làm mờ những chi tiết trang trí ở trên đó. Trong trường hợp là chiếc đĩa Sheffield mạ bạc, hay mạ điện, lớp kim loại bên trong sẽ bị lộ ra.
II. PHỤC CHẾ:
Người ta dùng thuật ngữ “phục chế” cho những hiện vật kim loại, có nghĩa là sửa chữa và phục hồi lại hình dạng của hiện vật để trả lại cho chúng hình dạng càng gần với hình dạng nguyên bản càng tốt. Điều này có thể bao gồm việc nung nóng hiện vật, hoặc là ở chỗ hàn hay chỗ tán lại, cũng có thể là giúp thêm cho quá trình phục hồi lại hình dạng của hiện vật. Nó cũng có nghĩa là đánh bóng lại bề mặt bằng hợp chất hóa học để có màu sắc nguyên bản hay có thể thay thế những chỗ đã bị sứt bằng một miếng vá mới hơn làm bằng loại hợp kim tương tự với kim loại nguyên bản.
Việc phục chế hiện vật bảo tàng chỉ nên để chuyên viên bảo quản đã có kinh nghiệm trong công việc này trực tiếp tiến hành. Hơn nữa, chỉ nên tiến hành phục chế sau khi đã có thảo luận và sự đồng ý giữa người quản lý và chuyên viên bảo quản để những người có phận sự hiểu rõ ý nghĩa về mặt đạo đức. Phải giữ lại những bản ghi chép chính xác về hiện vật trước và sau khi xử lý.
* Những thuộc tính riêng của các hiện vật kim loại thường thấy trong các bảo tàng:
Phần này sẽ đưa ra danh sách các kim loại thường có trong các sưu tập bảo tàng cùng với những thông tin về các hợp kim của chúng và các kim loại này sẽ bị ăn mòn ra sao trong môi trường bảo tàng. Những sưu tập chuyên ngành công nghiệp hay khoa học có thể bao gồm những kim loại khác, nhưng những sưu tập không nhắc đến ở đây. Trừ vàng, đồng và các hợp kim của chúng, kim loại khi ở trong tình trạng nguyên chất, được đánh bóng có thể xem như chúng có màu trắng hay màu bạc. Có thể phân biệt giữa các kim loại qua giám định bằng mắt thường một cách kỹ lưỡng vì mỗi kim loại có một cách định hình và âm thanh với màu sắc riêng. Khả năng nhận biết được điều này có được từ những kinh nghiệm nghiên cứu trên một loạt hiện vật. Tuy vậy, cần nhấn mạnh tầm quan trọng của giai đoạn này rằng chỉ có cách xác định chính xác cấu tạo của một hiện vật là thông qua phân tích hóa học.
1. Vàng:
Trừ phi bảo tàng có hiện vật làm bằng platinum, vàng là kim loại bền nhất và quý nhất trong các sưu tập. Vàng có màu vàng, mềm và dễ gia công, thường kết hợp với đồng hay bạc thành hợp kim để tăng độ cứng. Nó có thể được dát thành những tấm mỏng và dùng để trang trí các kim loại và các chất liệu khác. Lần lượt, những kim loại kiềm có thể được mạ vàng hay mạ điện, thành chất gắn hóa học giữa chúng và vàng. Ở trạng thái nguyên chất, vàng không bị ăn mòn, nhưng sẽ bị ảnh hưởng bởi những chất ăn mòn của kim loại kết hợp khác.
2. Bạc:
Bạc là kim loại có màu trắng và bóng, có thể được đánh bóng tới mức phản quang cao. Giống như vàng, bạc là kim loại mềm, dễ gia công và thường có hợp kim với đồng để có độ cứng hơn tạo thành loại bạc Sterling (92,5%bạc) hay bạc Anh (95,8% bạc). Ở Anh, điều này có thể xác định bằng dấu xác nhận tiêu chuẩn đóng trên một sản phẩm bằng bạc đã hoàn chỉnh. Bạc kết hợp với kim loại kiềm để làm đĩa Sheffield (một tấm kim loại xen kẽ bạc – đồng – bạc do sức nóng và áp lực tạo thành), và từ những năm 1840 trở đi, đồ mạ điện đã phổ biến hơn. Đồ mạ có thể được xác định bằng dấu hiệu ghi trên nhãn đồ vật.
Bạc rất nhạy cảm với sulphur trong không khí. Một lượng nhỏ nhất cũng sẽ phản ứng với kim loại tạo thành sunphur bạc hay bị ố bẩn, lúc đầu là một lớp óng ánh màu nâu vàng mỏng phủ lên bề mặt và nếu bám lại, nó sẽ dần dần biến thành màu đen và che lấp mọi chi tiết trang trí. Đó không phải là quá trình hư hại về hóa học đối với hiện vật mà chỉ là sự biến dạng về mặt thẩm mỹ. Đối với những hiện vật làm bằng bạc và mạ bạc, cần đặc biệt chú ý đến phương pháp đánh bóng và cách làm vệ sinh đúng mức.
Để tránh sự hình thành lớp hoen ố, mọi chất dùng trong bảo quản và trưng bày phải được kiểm tra trước khi sử dụng. Cũng có thể phủ một lớp bảo vệ bề mặt hiện vật bằng sơn mạ tổng hợp màu sáng. Tuy nhiên, nếu lớp sơn mạ vẫn bị hư hại thì chỗ hoen ố sẽ bắt đầu ở những chỗ này.
3. Đồng đỏ:
Ở trạng thái nguyên chất, đồng là kim loại có màu hồng đỏ và dễ gia công. Nó kết hợp với vàng và bạc để tạo thành các hợp kim bền hơn, nếu pha trộn hợp kim này với các kim loại khác sẽ làm thay đổi những đặc tính của nó. Đồng có đặc tính chống được sự ăn mòn, nhưng giống như bạc, nó phản ứng với khí sulphide trong không khí để hình thành một lớp ố mỏng. Nó cũng phản ứng với khí acid acetic từ các loại sơn và gỗ, tạo ra lớp gỉ đồng (loại muối hay este từ acid acetic trên đồng). Giống như mọi hợp chất đồng, chất có màu vàng sáp ngả sang màu xanh này rất độc, vì thế cần phải rất cẩn thận khi xử lý hiện vật trong trạng thái này.
4. Đồng thau:
Kẽm, phần lớn được kết hợp thêm với đồng để tạo thành một loạt hợp kim đồng thau. Những hợp kim màu vàng này có thể được mạ bên ngoài để làm đồng thiếp dùng cho mục đích trang trí. Không theo quy ước, người ta có thể sơn mạ bên ngoài bằng nhựa cánh kiến để giả làm đồ mạ vàng và để tránh bị ăn mòn.
5. Đồng thanh:
Đồng thanh là một hợp kim của đồng và thiếc cùng một lượng nhỏ kim loại khác. Những vật làm bằng đồng thường được đúc và được xử lý hóa học trên bề mặt để có lớp gỉ đồng nhân tạo màu xanh hay nâu hoặc một lớp đồng bị ăn mòn để trang trí. Nếu những chất hóa học dùng để tạo lớp gỉ đồng nhân tạo không được loại bỏ hoàn toàn, chúng có thể phản ứng tiếp với hơi ẩm trong không khí tạo thành một lớp đồng thực sự bị ăn mòn.
6. Bạc nickel:
Màu sắc của loại hợp kim giữa đồng, nickel và thiếc này có thể thay đổi từ màu trắng bạc sang màu vàng. Người ta thường dùng hợp kim này để thay thế cho bạc và xem như chất cơ bản dùng trong quá trình mạ bạc.
7. Chì:
Một vật có thể nhận biết là làm bằng chì do trọng lượng của nó. Chì nguyên chất làm một kim loại có màu xám, mềm và dễ dát mỏng, có thể chuyển sang màu xám bùn khi bị phơi bày trong không khí và đánh dấu giấy tờ bằng một đường màu xám. Nó thường kết hợp với thiếc để tạo thành kim loại hoặc hợp kim thiếc, cứng hơn. Chì dễ dàng phản ứng với dioxid carbon có trong khí acid hữu cơ để tạo thành carbonat chì cơ bản xuất hiện dưới dạng bột màu trắng bám trên bề mặt kim loại. Nếu được phát hiện, cần đưa hiện vật ra khỏi khu vực có khí acid, có thể có trong gỗ chưa khô, để tránh xảy ra hiện tượng kim loại bị ăn mòn. Cần lưu ý rằng chì và các hợp chất của nó rất độc nên phải hết sức thận trọng khi xử lý hiện vật. Hiện tượng ăn mòn chì chỉ có thể giao cho chuyên viên bảo quản tiến hành xử lý.
8. Thiếc:
Người ta ít khi dùng thiếc để làm đồ vật nhưng thường kết hợp với chì thành hợp kim thiếc, hoặc với antimoan thành loại hợp kim Britania Metal (hợp kim gồm thiếc, antimoan và đồng). Người ta cũng thường dùng thiếc để làm lớp phủ bên ngoài, bảo vệ những tấm thiếc hoặc những lá sắt.
Thỉnh thoảng, người ta thấy hiện tượng ăn mòn kiểu “mụn cóc” xuất hiện ở hợp kim thiếc, đây là kiểu ăn mòn điển hình trên hợp kim thiếc. Khi loại bỏ những “mụn cóc” này, hoặc là bằng phương pháp hóa học, hoặc là bằng phương pháp cơ học, cũng sẽ để lại những đám rỗ hay lỗ sẹo trên kim loại.
9. Sắt:
Sắt kết hợp với carbon để tạo thành một trong ba loại hợp kim khác nhau: gang (4% carbon), sắt tôi (0,5%) và thép (0,1-1,3%) với độ cứng và khả năng khai thác khác nhau tùy theo từng loại.
Sắt và thép dễ bị ăn mòn khi có hơi nước, hình thành một lớp gỉ màu đỏ – cam – nâu trên bề mặt kim loại. Nếu hiện vật không được bảo quản chống ăn mòn, bề mặt hiện vật sẽ có hiện tượng rỗ hoặc bị phân rã.
Trước đây, bề mặt của kim loại được mạ thiếc, được sơn phủ hay mạ kẽm để tránh bị gỉ sét dẫn đến hư hỏng. Thép “xanh” (do nung ở một nhiệt độ nhất định) hay thép “nâu” là nói về tính chất hóa học, cả hai đều là những phương pháp dùng để trang trí và bảo vệ. Tuy nhiên, với mọi lớp bao phủ bề mặt này vẫn có hiện tượng ăn mòn xảy ra, vì thế với bất kỳ hiện vật nào có chứa sắt hay thép đều phải được đặt trong môi trường khô ráo.
10. Kẽm:
Kẽm thường được kết hợp với quá trình mạ kẽm, đó là sự tạo thành lớp bảo vệ bên ngoài sắt, hay là một thành phần trong hợp kim đồng/kẽm, đồng thau. Kẽm cũng có thể được coi là kim loại cơ bản trong quá trình làm bidri, một sản phẩm làm từ kim loại có tính chất trang trí ở Ấn độ có khảm bạc. Khi bị phơi bày ở ngoài không khí, lớp bề mặt của oxid kẽm trông giống như oxid chì, nhưng khi phân tích thì biết chắc chắn có kẽm bên trong.
Tóm lại, cần có ý kiến cố vấn của những chuyên viên bảo quản có kinh nghiệm và đã qua huấn luyện trước khi cố gắng làm sạch hoặc phục chế bất kỳ hiện vật nào được làm từ kim loại. Chuyên viên bảo quản có thể đánh giá tình trạng của hiện vật và đưa ra giải pháp xử lý thích hợp. Hơn nữa, quá trình bảo quản là vấn đề mới đây đã được tổ chức Kiểm soát các chất có hại cho sức khỏe (Control of Substances Hazardous to Health – COSHH) quy định bất cứ một quá trình xử lý nào cũng phải được đánh giá và thường xuyên tiến hành trong phạm vi cho phép.
     (Anh Vân dịch từ Manual of Curatorship – A Guide to museum practice,
John M.A. Thompson (editor), Butterworth – Heinemann, Oxford, 1992, pp. 353-363)
http://vn.360plus.yahoo.com/quoctamdo/article?mid=160