Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Con cá, chột nưa

Những năm 1991-1994, Thầy trò mình lang thang Quảng Trị. Hồi đó Thầy mới ở Mỹ về đang chịu nhiều áp lực, an ninh theo dõi từng bước, học trò và nhiều đồng nghiệp lần lượt rời xa, rời xa.
Ở Hà Nội, bức bối và chả có việc để làm. Thầy đưa mấy đứa vào Quảng Trị đi khảo sát theo lời mời (có một không hai trong thời điểm đó) của Sở VH QT. Thành viên của đoàn mỗi năm đều thay đổi, nhưng mình nhớ có anh Chiều, Kiên, Takaia, mấy em sinh viên chuyên ban và đợt cuối có thêm Đông Hà.
Quảng Trị đất của gió Lào, cát trắng mà Thầy trò toàn đi vào những tháng mùa hè, cái nóng làm người hết ướt lại khô. Tuy thế, mặc dù người ai cũng đen bóng (nhất là Thầy) nhưng chả ai sổ mũi, nhức đầu. Có lẽ vì Quảng Trị dù nắng hạn, nước thiếu nhưng rượu bia không bao giờ thiếu (sau hàng chục năm đi làm khảo cổ  mình nghiệm ra rằng phi bia rượu bất thành khảo cổ).    
Duy nhất một lần Thầy bị dị ứng. Đó là vì một món ăn đã trở thành bất hủ nhờ thơ Tố Hữu.

Hôm đó, chỉ có hai Thầy trò mà quá trưa rồi mới về tới chợ Quảng Trị. Vừa đói, vừa khát, Thầy trò quyết định rẽ vào chợ ăn cơm bình dân.
Bia thì không có nhiều để chọn, món ăn thì nhiều nhưng là lạ. Cuối cùng ngoài cơm canh, Thầy trò đồng lòng chọn món cá kho với chột nưa (thế mới biết thơ Tố Hữu có ảnh hưởng mạnh thế nào).
Thực lòng, món cá chột nưa này sẽ qua đi như vô vàn món ăn hàng ngày khác mà những người đi khảo cổ phải đối mặt, nếu không có sự sau đó.
Chiều về Thầy bị dị ứng, ngứa khắp người và vụ ngứa này kéo dài suốt đợt. Thôi thì đủ thứ bôi, uống. Ai mách gì Thầy làm theo thế. Đến cuối đợt ngứa cũng bớt dần và hết.
Có điều Thầy cứ băn khoăn, sao con Dung cũng ăn mà nó không bị, chỉ mình Thầy bị. Thật bất công.
Mình tự lý giải, chắc mình uống ít bia hơn nên phản ứng cá+chột nưa+bia không mạnh hay sức trẻ đã giúp mình chống cự với cá+chột nưa.
Ôi, cái món cá+chột nưa nhớ đời!

Viết nhân ngày giỗ Thầy 3.8.2011

Ảnh Thầy trò mình đi Quảng Trị

 Một quán ăn ven đường lên Khe Sanh. Lần đầu tiên Thầy chỉ cho cả bọn biết cây trâm bầu và kể sự tích bài hát "Rặng trâm bầu"
 Trước cửa hang Dơi, nơi đoàn phát hiện dấu tích văn hóa Hòa Bình xa nhất về phía nam 
 Nước có thể hiếm nhưng bia thì không!
 Trên dòng Thạch Hãn
 Bên dòng Bến Hải
Nhậu với văn nghệ sĩ Quảng Trị

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Chuyện Chủ nhật 18 - Bão ở Cù Lao Chàm


Miệng bình gốm Bãi Ông. Gốm Bãi Ông đẹp không kém gốm Phùng Nguyên
(gốm VHPN được xem là đỉnh cao của gốm tiền sử Việt Nam)




Chuyện những lá quốc kỳ

Đã có rất nhiều entry hay về những lá cờ trong các cuộc “xuống đường” trên các blog.

(Nhà cháu vưỡn thích từ của nhà bác Phạm Quang Nghị.
Dù hôm 24/4 ở Bờ Hồ đã say sưa hát bài “Lên đàng” (bài này có vẻ như hạp với việc tòng quân nhập ngũ hơn), nên bác Tạ Trí Hải khi đặt nhời mới cũng là:”Toàn dân Nam phẫn nộ, toàn dân Nam XUỐNG ĐƯỜNG…”).
Dù bác Nguyễn Quang Lập (đã xóa ‘nhời nguyền’ đăng bài của bác Quê Choa) đã dẫn Điều 69 Hiến pháp 1992 về QUYỀN BIỂU TÌNH).

Nhà cháu đã đọc bác Lê Dũng (Giữ Quốc kỳ trên Gạc Ma và giữa Thủ đô), bác Gocomay (Tản mạn về cờ và lòng người qua các cuộc biểu tình), đều hay hết nhẽ.
Nhưng, nhà cháu có những suy nghĩ LĂN TĂN, BỨC XÚC xung quanh lá cờ đỏ sao vàng- Quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Công hòa (ngôi sao vàng ở giữa có 5 cánh ‘béo’/bầu) và CHXHCN Việt Nam (các cánh sao ‘gầy’, thẳng hơn)

  

1-

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Hiện vật ở Vườn Chuối 2011

Mảnh nồi nấu đồng có vết vỏ trấu (văn hóa Đồng Đậu)


Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

‘XUỐNG ĐƯỜNG’ NGÀY 24/7

Nhà cháu dùng luôn từ của ông ủy viên BCT ĐCSVN Phạm Quang Nghị, cho nó CHUẨN KHÔNG CẦN CHỈNH.

Cứ lo trời lại mưa to, kéo dài giống sáng qua thì gay. Nhưng gần sáng, có một cơn mưa ngắn rồi tạnh ráo. Nằm lo mưa, rồi lại chủ quan hôm nay ‘xuống đường’ gần nhà  nên nhà cháu bị ‘nướng’ mất 15 phút.

Gần 8g, vừa vào quán gọi bát phở thì điện thoại đã đổ tin nhắn liên tục, đành bỏ lại.

Qua quán cà phê Bonbon gặp lốc-gờ Lê Dũng. Lại sốt ruột, cốc đen đá to đùng mà cả hai cùng tu vội, 2 ngụm đã hết. Bàn bên cạnh có 2 bác mặc “áo phông quốc kỳ” cũng chả biết có phải để “xuống đường”? Cẩn thận, nên cũng chả ai hỏi ai. Trước khi rời quán, Lê Dũng dơ máy ‘Chộp’, họ cũng chẳng thèm để ý.


 


Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

Imaging technology throws new light on artefacts

New technology which makes it possible to study the finer details of some of the world’s greatest historical artefacts has been developed by computer scientists and archaeologists at the University of Southampton in conjunction with academics at the University of Oxford. 
Một kỹ nghệ mới tạo cơ hội để nghiên cứu những chi tiết tỉ mỉ nhất của một số di vật lịch sử quan trong nhất thế giới đã được các nhà khoa học máy tính và các nhà khảo cổ học Đại học Southampton kết hợp với những viện sĩ của ĐH Oxford tìm ra và ứng dụng.
Philip Basford watching a Rembrandt painting being imaged by the RTI system
Philip Basford đang xem một bức tranh của Rembrandt được hình tượng bằng hệ thống RTI
[Credit: University of Southampton]

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Phát hiện mộ (hơn) 2000 năm ở Hà Nội


Khu mộ cổ nói trên được phát hiện tại khu đô thị Kim Chung Di Trạch, thuộc huyện Hoài Đức, hiện Bảo tàng Hà Nội kết hợp với Bảo tàng Nhân học đang tiến hành khai quật. Sau nhiều ngày đào,  nhóm khai quật đã tìm được những di tích và di vật được xác định là có niên đại thuộc thời kỳ Văn hóa Đông Sơn cách đây (hơn) 2000 năm, những di vật này nằm trong và trên lớp Văn hóa Đồng Đậu cách đây 3000 năm.

Mộ cổ lộ diện

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011)


Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việc Trung Quốc diễn giải nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời.
Có thể nói, giải thích xuyên tạc công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời.
Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
 

 Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau: "Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”