Thứ Ba, 24 tháng 11, 2009

Văn hóa như là một yếu tố của an ninh quốc gia


FLIER ANDREI JAKOVLEVICH
Tiến sĩ triết học, nhà văn hóa học Nga)




BĂNG ĐẢNG ĐẦU TRỌC- NỖI NHỨC NHỐI CỦA XÃ HỘI NGA


Dựa trên thực tiễn của tình hình phức tạp và không ổn định vốn đang đe dọa nền an ninh quốc gia của nước Nga hiện nay như sự gia tăng và phổ biến những hành vi tội phạm chống xã hội, quy mô của nạn tham nhũng và những tệ nạn khác mang tính chất đại hà, sự vô hiệu lực của bộ máy hành chính nhà nước, sự đổ vỡ của những lý tưởng trước đây và sự mất lòng tin của đại bộ phận dân chúng..., tác giả chỉ rõ rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên những mối hiểm họa này là "sự khiếm khuyết ở trong nước những điều kiện, những kích thích tố và những kỹ năng văn hóa để giúp cho tất cả các công dân có điều kiện tham gia một cách bình đẳng vào việc cạnh tranh xã hội tự do trên thị trường lao động và tài năng" (tr.181).

THÀNH VIÊN ĐẢNG PHÁT-XÍT MỚI Ở NGA

Bởi lẽ cơ sở của xã hội pháp quyền công dân không phải là nền kinh tế thị trường, cũng không phải là bản thân những hình thức quản lý dân chủ mà chính là khuynh hướng cạnh tranh lành mạnh của những cá nhân tự do, ở đó người nào có nghị lực hơn, cần mẫn hơn, có tài hơn, có trình độ nghiệp vụ cao hơn thì hiển nhiên sẽ có nhiều cơ may vượt các đối thủ của mình và thu hoạch được một khối lượng lớn phúc lợi xã hội. Và đó, theo Flier, "cũng chính là cơ sở văn hóa - xã hội của xã hội hiện đại; và ở nơi nào trình độ văn hóa đó cao hơn thì mức độ những hiện tượng tiêu cực xã hội, những mối hiểm họa nội tại đối với an ninh quốc gia sẽ thấp hơn nhiều." (tr.182).Con người ta sinh ra vốn khác nhau về năng khiếu, về trí tuệ, về khả năng lao động và tiếp thu kiến thức... Chính điều đó có ảnh hưởng đôi khi mang tính chất quyết định, đối với trình độ và khả năng cạnh tranh xã hội của mỗi người.Tuyệt đại đa số người hoàn toàn có khả năng cạnh tranh về mặt xã hội, họ không phải là những thiên tài sáng tạo mà chỉ là những người làm tốt công việc họ đang đảm nhận. Thông thường, xã hội không đòi hỏi ở họ điều gì lớn lao hơn là việc tận tâm thực hiện vai trò xã hội của mình. Tất nhiên, mẫu mực lý tưởng về người có khả năng cạnh tranh - đó là con người sáng tạo, đề xuất được những tư tưởng mới, những công nghệ mới, những sản phẩm mới, những tác phẩm mới.Khi nói về những người không có khả năng cạnh tranh thì cần lưu ý rằng đó không phải chỉ là những người mất khả năng này do những nguyên nhân khách quan. (sức khỏe, tuổi tác, chấn thương....) Những người ấy cần phải trở thành đối tượng của sự chăm sóc tại nhà do nhà nước hay xã hội đài thọ với mức độ có thể đảm bảo sự tồn tại cho họ một cách thỏa đáng như điều này được áp dụng ở tất cả các nước văn minh. Song một bộ phận đáng kể của loài người không có khả năng cạnh tranh được tạo ra bởi một lớp người được gọi là những người ở bên lề xã hội tức là những người do các nguyên nhân xã hội chứ không phải do các nguyên nhân y - sinh học (những đặc điểm của việc giáo dục, những điều kiện không thuận lợi trong cuộc sống ở lứa tuổi trẻ thơ, sự khiếm khuyết trình độ học vấn chuyên nghiệp, đôi khi cả phổ thông, ảnh hưởng của môi trường chống xã hội, của tính lười biếng, của thói trác táng v.v....) không muốn tuân thủ lối sống phù hợp với những chuẩn mực xã hội và khao khát có được những phúc lợi xã hội này bằng các thủ đoạn không được xã hội tán thành (tội phạm, ăn xin v.v...). Khi số người ở bên lề xã hội này tăng quá lớn và khi điều kiện sống của họ trở nên không chịu nổi thì trong môi trường đó có thể bùng nổ cuộc nỗi loạn tự phát thậm chí đi tới mưu toan cướp chính quyền ở trong nước, hành động này thường được gọi là "cuộc cách mạng xã hội". Tầng lớp đó do không có hy vọng bằng con đường hợp pháp để nhận được những phúc lợi - xã hội theo số lượng và chất lượng mong muốn nêu trong tình huống khủng hoảng đối với xã hội đã chiếm chính quyền và dùng phương pháp trấn áp để bóc lột sức lao động của bộ phận dân chúng có khả năng cạnh tranh và dùng sức mạnh để phân phối lại một cách có lợi cho mình một phần đáng kể của cải nhà nước và thiết lập nền chuyên chế chính trị của mình. (tr.184) Như vậy là những hình thức đấu tranh của họ mang tính chất tội lỗi.Tính chất lưu manh của tầng lớp đứng bên lề xã hội không chỉ thể hiện ở sự không có khả năng làm giầu về mặt vật chất mà còn thể hiện ở thái độ khinh miệt đối với nhân tố trí tuệ và đạo đức tinh thần ở con người, đối với những chuẩn mực đã định hình về sinh hoạt và ứng xử xã hội, đối với kiến thức và sự uyên bác.Xét cho cùng, sự không có khả năng cạnh tranh về mặt xã hội là kết quả của sự xã hội hóa chưa đủ mức đối với một bộ phận dân chúng trong thời kỳ họ được giáo dục và học tập ở tuổi thơ ấu và niên thiếu cũng như của sự không thích ứng về mặt xã hội của họ (hay những hình thức thích ứng không phù hợp với lợi ích xã hội) ở tuổi trưởng thành (tr.185).Toàn bộ những biện pháp tổ chức sự thích ứng và sự phục hồi xã hội như vậy được gọi là chính sách xã hội của nhà nước. Nó thường bao gồm những chương trình tăng thêm chỗ làm, tạo ra những lãnh vực làm riêng đối với những người có khả năng hạn chế, xây dựng hệ thống dạy nghề, giúp đỡ về mặt vật chất đối với những người không có khả năng lao động một cách khách quan hay tạm thời mất việc làm v.v...Ý nghĩa phổ quát về mặt xã hội - chính trị của tất cả những biện pháp trên là để kìm hãm quá trình lưu manh hóa của những người không có khả năng cạnh tranh do những nguyên nhân xã hội, để đưa ra khỏi môi trường lưu manh hoặc bán lưu manh đối với những người chưa bị mất hẳn nhân tính và kỹ năng lao động. Điều này nằm trong hệ thống của toàn bộ biện pháp nhằm "xã hội hóa cá nhân" tức là lôi kéo con người vào mối quan hệ tương tác xã hội, kích thích và nâng cao khả năng hoạt động của họ trong những hình thức chấp nhận được đối với xã hội, huấn luyện cho họ thích nghi với những chuẩn mực của lối sống phổ biến trong một xã hội nhất định. "Về nguyên tắc, quá trình xã hội hóa cá nhân bao gồm toàn bộ biện pháp nhằm đưa con người vào hệ thống phân công lao động và vào lối sống được chấp nhận" (tr.185).Ngoài việc xã hội hóa cá nhân ra, theo tác giả bài viết, con người còn cần phải có "những định hướng giá trị" (gồm những giá trị tinh thần như tư tưởng, tri thức, niềm tin, tình cảm giai cấp, tình cảm dân tộc...) Những định hướng giá trị này bổ sung cho lối sống của con người để tạo nên bức tranh của anh ta về thế giới (tr.185) tức là toàn bộ quan niệm và cảm giác (một phần mang tính chất duy lý và chủ yếu mang tính chất trực giác) về bản chất của cuộc sống và sự tồn tại tập thể của con người, về những quy luật và chuẩn mực của tồn tại đó, về thang giá trị của những thành tố của nó. Trên cấp độ này của những lợi ích thực dụng và những nhu cầu của cá nhân văn hóa đã trở thành tác nhân điều tiết chủ yếu đối với sự tương ứng xã hội của nó.Văn hóa được các nhà khoa học ngày nay quan niệm như "nội dung mang tính chất ý nghĩa - giá trị, điều tiết - chuẩn mực và thông tin - biểu trưng của bất cứ một lãnh vực nào trong hoạt động có ý nghĩa xã hội của con người" (tr.185).Chính theo quan điểm đó đã được hình thành những khái niệm "Văn hóa kinh tế", "Văn hóa chính trị", "Văn hóa lao động" v.v....Văn hóa không được chuyển giao từ bố mẹ theo kiểu di truyền mà hình thành theo tiến trình của cuộc sống. Xã hội cần phải bồi dưỡng nó ở mỗi người, phải giúp con người làm quen với toàn bộ những chuẩn mực và những quy tắc, với "các luật chơi" của tồn tại văn hóa xã hội, phải phân định rạch ròi ranh giới, nơi địa bàn văn hóa xã hội "bình thường" kết thúc và địa bàn của những cái bên lề xã hội bắt đầu.Theo Flier, để khắc phục những khuynh hướng nguy hại về sự xuống cấp đại trà của nhân dân, không chỉ cần sự xã hội hóa mang tính chất nghề nghiệp của con người mà còn cần phải đưa con người vào hệ thống của những chuẩn mực văn hóa được chấp nhận trong xã hội về sinh hoạt cộng đồng, cần phải khuyến khích ở con người sự mong muốn tuân thủ những chuẩn mực ấy chư không phải vi phạm chúng.Như tác giả khẳng định, một xã hội an ninh thực sự là xã hội mà trong đó tuyệt đại đa số dân chúng biết chấp hành những chuẩn mực sinh hoạt, tức là những người có văn hóa, còn số những kẻ vi phạm không lấy gì làm lớn. Còn khi số những kẻ vi phạm vượt quá tỷ lệ cho phép thì xã hội đó khó lòng được gọi là xã hội văn hóa cũng như xã hội an ninh. Về phương diện này những xã hội truyền thống cổ xưa rõ ràng là an ninh hơn so với những xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp, nơi mà tỷ lệ dân chúng bị đẩy ra ngoài lề xã hội cao hơn nhiều và những chuẩn mực được cho phép về an ninh thấp hơn (chí ít là những chuẩn mực về an ninh cá nhân của các công dân và tài sản của họ).Tất nhiên, trong xã hội hiện đại không thể nào đảm bảo mức độ an ninh có thể chấp nhận chỉ bằng những nỗ lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Để giải quyết nhiệm vụ này cần phải huy động toàn bộ chính sách của nhà nước, trong đó có cả chính sách văn hóa, làm nhiệm vụ phối hợp những nổ lực của tất cả các quy chế về xã hội hóa và nâng cao trình độ văn hóa của con người.Để thực hiện nhiệm vụ đó cần có sự liên kết những nỗ lực của tất cả các ngành văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng): giáo dục, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học, các phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản sách, các hệ thống văn hóa: bảo tàng, thư viện, thời gian nhàn rỗi được tổ chức v.v... trong khuôn khổ một chương trình quốc gia thống nhất về sự tự phát triển văn hóa - xã hội và sự tự vệ của xã hội. Cũng cần phải có một hệ tư tưởng dân tộc mang tính chất quốc gia, và chức năng của bất cứ một hệ tư tưởng dân tộc nào là cơ sở cho sự cạnh tranh xã hội của các công dân, cho sự kết tinh những định hướng giá trị trên phạm vi toàn quốc, kể cả trong lãnh vực an ninh. Ở đây hệ tư tưởng là sự thể hiện một cách tập trung văn hóa của giới cầm quyền, hệ thống giá trị của nó. Điều đó cho phép hình thành một nguyên tắc về an ninh xã hội trên phương diện văn hóa: giới cầm quyền càng ít đầu tư kinh phí cho văn hóa và giáo dục bao nhiêu thì sẽ càng phải đầu tư kinh phí cho bộ máy cảnh sát, bộ máy tư pháp và hệ thống cải huấn ngày mai nhiều bấy nhiêu. (tr.187)LÊ SƠN (Lược thuật (theo tạp chí ONS(Nga) số 3-98) (126/08-99)NGUỒN: http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=0&catid=7&ID=4179&shname=Van-hoa-nhu-la-mot-yeu-to-cua-an-ninh-quoc-gia
Được đăng bởi NGUYỄN HỒNG KIÊN.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009

Những phát hiện mới về Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Những phát hiện mới về Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Hôm nay, 21 tháng 11 năm 2009, UBND huyện Ý Yên (tỉnh Nam Định) và Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: Di tích lịch sử văn hóa phủ Quảng Cung - thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, Nam Định - một trong 3 nơi thờ phụng ghi dấu các lần giáng sinh của Thánh Mẫu Liễu Hạnh – vị thần lạ lùng nhất trong các nữ thần Việt Nam vừa hiện thực, vừa huyền ảo. Cách đây 100 năm, Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (1854 – 1912) đã viết :“Bà là Phật, là Nho, là Tiên, là Thánh. Bà là tất cả!”.
.
Tại hội thảo, trên cơ sở thư tịch cổ các nhà khoa học khẳng định di tích này chính là nơi ghi dấu cuộc giáng sinh đầu tiên của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong Tứ Bất Tử, bà duy nhất là phụ nữ trong bộ tứ uy linh lừng lẫy trong thần điện Việt. Sinh sau đẻ muộn hơn cả nhưng sự giáng sinh của bà khiến cho cả Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không thần thông biến hiện, uy linh lừng lẫy cũng phải bật ra khỏi danh sách Tứ Bất Tử.
.
Bà ra đời sau muộn, nhưng cung điện phủ đệ của bà mọc như nấm khắp nơi. Nào là phủ Dày ghi dấu bà giáng sinh, là đền Bắc Lệ xứ Lạng ghi dấu với họ Phùng, nào là Phủ Tây Hồ ngao du ngày tháng cùng các đạo cô. Nào là đền Sòng Sơn, Phố Cát ở Thạch Thành xứ Thanh ghi chiến công lừng lẫy của bà. Nào chùa Hương một mình bà một biệt điện trang nghiêm…
.
Riêng Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp, Phủ Quảng Nạp), một nơi mà theo thánh tích chính là nơi giáng sinh đầu tiên của Thánh mẫu Liễu Hạnh thì lại ít người biết đến. Mặc dù câu đối ở Phủ Dày có nhắc đến Phủ Quảng Cung, thôn Vỉ Nhuế, huyện Ý Yên, Nam Định rằng: Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn, vu Sòng – Lạng – Tây Hồ, ngũ bách dư niên quang thực lục. Lịch triều ba cổn, vi Đế nữ, vi Đại vương, vi chúng mẫu, vi Thánh – Thần – Tiên Phật, ức niên vạn cổ điện danh bang (Ba kiếp giáng trần, ở Vỉ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn, Sòng (Sơn) – Lạng (Sơn) – Tây Hồ, hơn năm trăm năm ngời sử sách. Các triều phong tặng, là Đế nữ, là Đại vương, là Thánh Mẫu, là Thánh – Thần – Tiên Phật, ngàn năm vạn thưở rạng non sông.
.
Ban tổ chức hội thảo đã nhận được 15 bản báo cáo của các nhà khoa học. Đặc biệt, với sự phát hiện văn bản Cát Thiên tam thế thực lục (nghĩa là bản thực lục về ba lần hiển thế của Thánh Mẫu Liễu Hạnh vị thần được thờ ở phủ Vân Cát, Thiên Bản) được khắc in vào tháng 2 năm Quý Sửu (1913), niên hiệu Duy Tân ngay tại Phủ Quảng Nạp, thôn Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Cuốn sách Hán Nôm này gồm 97 trang được các nhà nghiên cứu Hán Nôm khẳng định: “về mặt văn bản học, không có gì phải nghi ngờ về niên đại của văn bản này”. Cuốn sách có sự tham gia viết tựa, tán, bạt, đề từ của các nhân vật đương thời (tức là thời gian khắc in cuốn sách) như: Đốc học Bắc Ninh Trần Xuân Thiều, Tiến sĩ Đốc học Hải Phòng Nguyễn Văn Tính, Phó bảng Đốc học trí sĩ Đặng Quỹ, Đông La Đỗ Huy Liệu, Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, Tổng đốc Nam Định Đoàn Triển. Trong sách còn có các lời thơ, tựa, tán, phê là những lời giáng bút của Đức Thánh Trần, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và các vị Đệ nhất vị Tiên Hương Thánh Mẫu, Mai Hoa công chúa, Quế Hoa công chúa, Đào Hoa công chúa, Trần Đại vương và Lam Hồng tiên ông.
.
Đặc biệt trong văn bản có phần Cát Thiên tam thế thực lục viết bằng chữ Hán kể lại lai lịch và lần giáng sinh thứ nhất của Liễu Hạnh tại thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên. Và sau đó là bản diễn Nôm ra thơ lục bát Cát Thiên tam thế thực lục quốc âm giúp cho những người không biết chữ cũng có thể học thuộc sự tích Thánh Mẫu.
.
Từ việc tìm thấy văn bản in Cát Thiên tam thế thực lục, các học giả đề nghị tiếp tục tìm bản gỗ ván khắc tại Phủ Dày, phủ Tiên Hương và Phủ Nạp để bảo quản như một văn vật rất có giá trị về Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tuy nhiên, điều này không thể thực hiện được, vì Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã giáng bút chỉ cho phép in 99 bản (không cho phép in nối bản), rồi chẻ các ván khắc ra đốt đi lấy tro than đưa về thờ trong các bát hương ở khắp các nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh.
.
Hội thảo có các bài viết đáng chú ý như: Kho tư liệu Hán Nôm về Quảng Cung linh từ (Th.s Chu Xuân Giao), Quanh những tư liệu Hán Nôm về Phủ Nấp (Nguyễn Xuân Diện), Nhận diện địa chỉ giáng sinh lần thứ nhất ở Phủ Nấp (TS. Bùi Quang Thanh). Tham luận của TS Nguyễn Thị Yên xem xét bối cảnh lịch sử văn hóa vùng đất Ý Yên để cho rằng, có thể hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh được bắt nguồn từ việc thờ Bà cô tổ họ Phạm ở đây; trong khi đó, TS Đỗ Lan Phương đi tìm mối liên hệ giữa Thánh Mẫu Liễu Hạnh và dòng Nội đạo ở Thanh Hóa. Về nghệ thuật xung quanh việc thờ phụng Mẫu Liễu có tham luận của Th.sĩ Trang Thanh Hiền phân tích những nét độc đáo của pho tượng đồng ở Phủ Nấp (tạo năm 1871) và nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền với bài Nghệ nhân hát văn nhìn từ phả hệ cung văn.
.
Mặc dù hội thảo vấn chưa đưa đến một nhận diện chân xác về Thánh Mẫu Liễu Hạnh và bà vẫn còn đầy bí ẩn với chúng ta, nhưng GS. Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam cho biết: “Hội thảo sẽ mở ra một thời kỳ mới trong việc nhận diện về Đạo Mẫu ở Việt Nam nói chung và về Thánh Mẫu Liễu Hạnh nói riêng. Nếu như trước đây, giới nghiên cứu cũng đành phải bó tay trong việc nắm bắt bản lai diện mục của Liễu Hạnh thì từ nay vấn đề này hẳn sẽ có được những kết quả rất khả quan”.
.
Nằm trong chương trình hội thảo, 200 đại biểu và khách mời đã tham dự buổi hầu đồng tổ chức tại Phủ Quảng Cung.Nguyễn Xuân Diện
*Ảnh: Bức tượng đồng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đúc năm 1871 ở Phủ Quảng Cung. Ảnh N.X.Diện

http://nguyenxuandien.blogspot.com/2009/11/nhung-phat-hien-moi-nhat-ve-thanh-mau.html

Không thể không nói

Lời bình của gs Nguyễn Huệ Chi
KTS Trần Thanh Vân là người có đến 55 năm “duyên nợ” với Trung Quốc. Không ngờ chị lại có quê ngoại vốn là quê nội của tôi và trời xui đất khiến thế nào mà ngày đầu kháng chiến toàn quốc, riêng bố lên ATK còn mẹ con cô bé Vân lại dắt díu nhau chạy tuốt về Đức Thọ Hà Tĩnh để hưởng cái không khí “gạo trắng nước trong” thơ mộng những năm đầu và rước lấy tai họa vào mấy năm sau đó, khi Cải cách ruộng đất đợt 5, đợt cuối cùng và cũng là sai lầm kinh hoàng nhất, nổ ra ở đây. Cô bé Vân nhỏ hơn tôi ít nhất cũng đến 5 tuổi và được bố vội vã trở về đưa ra Việt Bắc ngay nên không thể biết gì thêm về những chuyện “long trời lở đất” như tôi, nhưng cũng đã kịp chứng kiến cảnh ông ngoại là một thầy lang hiền lành có uy tín trong vùng và người mẹ, từ tuổi còn rất trẻ đã biến thành tiểu thư Hà Nội nên khi trở về lại quê cha là tất tả lo kêu gọi chị em thành lập tổ may áo rét cho binh sĩ, cả hai người, ông và mẹ đều bị đưa ra đấu trường. Những lởn vởn trong đầu về bàn tay can thiệp của đội quân do Bác Mao phái sang giúp chúng ta, gây ra chết chóc và làm tanh bành đất nước, bắt đầu dấy lên trong chị từ những ngày ấy.
Chị Vân cũng có cả những trải nghiệm về những ngày tháng “hữu nghị Việt Trung Xô” (tuy chị nhớ nhầm diễn ra sau CCRĐ, kỳ thực nó bắt đầu trước cơn bão ấy khá lâu và kéo dài mãi đến sau này) mà về phần tôi, không bị những cuộc đại liên hoan nhảy múa “xồn la xồn” rộn rã – ở bất kỳ nơi đâu ta sinh hoạt – mê hoặc, nhưng thú thực, một ít bài hát thuở ấy còn quyến rũ tôi đến nay về cái giai điệu du dương của chúng, nhất là về cái sức thôi thúc tuổi trẻ đắm vào giấc mơ chiến đấu cho một thế giới đại đồng: “Ai nghe chăng tiếng kèn trên Leningrade / Ai nghe chăng tiếng hát giữa Trung Hoa / Hà Nội ơi ngày chiến thắng không xa và / Khi lúa đơm hoa cờ / Tiến quân ta về Thủ đô / Ai nghe chăng xích xiềng đang tung nơi nơi / Và ngày mai khi súng lặng nơi chiến trường / Là lúc ta lên đường đập tan sóng Thái Bình Dương…”.
Chị Thanh Vân may mắn hơn tôi được sang Thượng Hải theo học ngành kiến trúc từ 1960 đến 1966, tận mắt nhìn thấy bức tranh náo loạn của Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc làm cho hàng mấy trăm triệu con người trở nên hung hăng điên dại. Còn chúng tôi, vào Đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1956, chúng tôi cũng đã nhận được tiếng dội của phong trào Đại tiến vọt từ Trung Quốc dội đến, đã cùng nhau đi thu thập nồi chảo hỏng để chuẩn bị mở lò luyện thép trong trường, may mà cụ Hồ đã kịp có ý kiến để những chuyện đó không xẩy ra ở Việt Nam.
Trong khóa học Ngữ văn đầu tiên sau hòa bình của mình, bên cạnh các chuyên gia Liên Xô, chúng tôi lại cũng có may mắn được học với những chuyên gia lỗi lạc về văn học cổ điển Trung Quốc như GS Trương Trọng Thuần, từ Đại học Bắc Kinh cử sang, tính tình thật đôn hậu, vừa uyên thâm vừa vẽ giỏi, có thể vẽ minh họa thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị bằng phấn ngay trên bảng. Và theo các bạn cùng khóa của tôi sau ngày tốt nghiệp ít năm được chọn sang làm tu nghiệp sinh ở Trung Quốc kể lại, thì trong Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc, một đêm kia, thầy Trương Trọng Thuần đã đánh bạo lần mò đến ký túc xá của đoàn học sinh Việt Nam gõ cửa rất gấp, xin được học trò cũ liên hệ với “bên nhà” chuyển giúp ông 2 lá thư xin được sang Việt Nam lánh nạn. Tiếc thay thư gửi về mà không có hồi âm khiến thầy mong đỏ cả mắt, rồi chuyện gì xẩy ra đã xẩy ra: khoảng vài tuần sau cái đêm liều mạng đến gõ cửa các học trò Việt Nam, thầy đã biến mất tăm dạng, đến nay không ai biết ở đâu…
Phần thứ hai của bài viết của KTS Trần Thanh Vân là một kiến giải có tính chất dự báo về việc áp dụng lý thuyết phong thủy để nhìn xem hình thế địa mạch trái đất như một sợi dây liên thông vô hình không dứt, trong đó Việt Nam là một điểm nhấn quan trọng. Tôi không dám lạm bình vào những điều huyền vi này, bởi phong thủy là một môn học đòi hỏi phải có sự kết hợp xét đoán nhiều mặt, tinh tường, về những gì đã hiện hình trên thế núi, hình sông mạch đất, và cả những gì thuộc phạm vi tâm linh chứ chưa hiện rõ. Tôi tuyệt nhiên không biết một chút sơ đẳng về cái học uyên áo kia trong khi chị đã có đến 19 năm đào sâu về nó. Bởi vậy, chỉ xin được giới thiệu với bạn đọc kiến giải của chị như những giả thuyết không chỉ hấp dẫn về khả năng liên tưởng sâu xa mà phía sau nó còn là một lời cảnh báo nghiêm khắc với những ai có quyền, có tiền, chỉ duy không có trái tim hoặc trái tim đã bị chia ra nhiều phần, phần lớn nhất buộc phải dâng cho kẻ khác, vì thế mắt mở to mà không hề nhìn thấy mọi hiểm họa đang rình rập tứ phía đối với giải đất cong cong hình chữ S ruột thịt của 85 triệu con dân Việt. Chị muốn đưa ra lời cảnh báo: bàn chân lũ cáo ranh mãnh đã mon men đặt lên một vài trong các tử huyệt của đất nước.
Nguyễn Huệ Chi
KTS. Trần Thanh Vân



Không thể không nói
PHẦN I
TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?
Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!
Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”
– “Cái gì? 55 năm?”
– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”.
Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.
Sự thật và trải nghiệm
Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Quốc mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” Trung Quốc hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết.
Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.
Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953
Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.
Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn.
Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tội, có một người bạn thân hồi nhỏ của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông Bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.
Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vội vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vừa đặt chân đến Chợ Chu – Định Hóa – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối với một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay mọi người vẫn còn nhớ.
Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.
Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, mọi người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.
Kỷ niệm thứ hai: Trời phạt
Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hữu nghị Việt – Trung – Xô.
Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Quốc thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường dù chưa quen biết là người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hòa bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Quốc. Còn nhỏ xíu nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gối, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Tòa dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Quốc. Mỗi buổi sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột Cờ.
Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Quốc tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buổi chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do Chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị – Phủ Tây Hồ.
Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn quàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thổi sáo Phùng Tử Tồn và hai người nữa. Mộ của họ mai táng ở nghĩa trang Bất Bạt huyện Ba Vì.
Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít mà vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới cơn lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Quốc và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nổi thứ tình hữu nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tội nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?
Mấy chục năm sau, để giải tỏa tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu / Dấu nhà Trời ai thấu được đâu / Một dải khăn đào kết một cái cầu / Để hồ thẳm nước sâu / Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.
Du học ở Trung Quốc
Tuổ trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hồi nhỏ.
Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Quốc theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dạy dỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.
Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông họa sĩ già hai bàn tay lấm mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà với cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.
Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hỏi: “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ gieo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hỏi như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Quốc ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Quốc phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chội của ký túc xá, bữa cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.
Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nữa ở cùng trong một ngôi nhà dành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một tòa nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một dành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hóa ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan và tiểu đường rất cần bồi dưỡng nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xỉu, thấy vậy tôi hay đi mua thêm các thức ăn mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngồi hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hội, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.
Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các Giáo sư trong trường đã từng giảng dạy chúng tôi tận tình, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tĩu.
Là một đứa con gái xuất thân trong một gia đình có nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và sỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Rất lâu về sau tôi vẫn không thể hàn gắn được vết thương như những nhát chém trong tim mình, về hình ảnh những Giáo sư đáng kính của chúng tôi bị hành hạ lên bờ xuống ruộng bởi chính những người bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy, nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.
Chúng tôi rất sợ bị liên lụy nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”
Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký. Chúng tôi khăn gói vội vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh Trường đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Quốc, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nổi tiếng Lý Đức Hóa, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ Bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu? Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bữa cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.
Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Quốc rất tốt, giới trí thức Trung Quốc cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nổi các nhà cầm quyền và thứ “tình hữu nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.
Chúng tôi rời Thượng Hải buồn bã và vội vàng như ma đuổi.
Thời kỳ đã trưởng thành
Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chịu của những ngày cuối cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi với khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.
Sau đó, mỗi người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.
Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngồi tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.
Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể nói ra với ai. Tôi ở cùng nhà với một chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Quốc giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Mic bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.
Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự quá đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo dõi và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nội bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Quốc thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời Trung cổ của họ mà thôi.
Trung Quốc hôm nay?
Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Quốc đã thay đổi rất nhiều và rất đáng kính nể. Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung Quốc đại nhảy vọt mà họ đang ra sức quảng bá, vẫn còn có một Trung Quốc khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung Hoa đã từng bị chà đạp, bị sỉ nhục và chịu nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.
Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đổi rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng Tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vừa gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng” nói về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi. “Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rồi đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi nói vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”.
Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã dành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đổi của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Quốc hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa nói, còn lớp người Trung Quốc thứ ba đang vừa là chỗ dựa vừa là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung quốc: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thói quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa” để đối phó với các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nữa hoặc không sử dụng được nữa thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.
Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển gần một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp với công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vừa qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả Giám đốc Sở Tư pháp và nhiều sĩ quan công an.
Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Quốc hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Quốc đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tội phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lừa đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nội ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.
Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.



PHẦN II
TÔI HIỂU GÌ VỀ TRUNG QUỐC?
Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nội bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta, tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cứu các lý thuyết về phong thủy địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.
Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc sử dụng chữ gốc La-tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ XVI-XVII như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes (1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ XIX để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ XX là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine. Cám ơn các vị Giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ XX đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong thủy, Địa mạch và Kinh Dịch.
Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ Xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lứa tuổi của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thủy địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Quốc rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền thèm muốn chứ không phải nhân dân, bởi vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Quốc không hề được hưởng lợi.Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich
Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, núi, sông… chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich
Nước Trung Hoa hình quẻ chấn
Theo phân tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của KTS Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gãy có nghĩa là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có mối quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.
Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết quả của một quá trình chiến tranh và đồng hóa lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nội chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao… đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giàu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn áp ở ngay giữa Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.
Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cứu kỹ phong thủy địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được điểm yếu cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya qua cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam, qua đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống vịnh Hạ Long rôì đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở vịnh Mindanao Philippin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nối từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sandwich đó, không cho nó trôi trượt đi, mà họ còn có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.
* Sau hàng ngàn năm với nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán (người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hóa thì nhiều).
* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung Hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và hủy diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước Trung Quốc sẽ không thể đạt được cái họ muốn (Tây Tạng).

Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bởi vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền… Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?
Địa mạch Việt Nam: Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu
Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dãy núi cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này (đọc Đại địa mạch quốc gia). Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, tỏa ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NÚI CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng Kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền tấu thư kiểu tự là một trong những kết quả tìm kiếm công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài giỏi gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hội rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đường Y Tông yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La, mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tội. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.
Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phía Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.
Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á
Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có vịnh Bái Tử Long, và ngoài khơi xa của Hải Phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thừa của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước Trung Quốc không thay đổi. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bởi vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu Á và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không ?
Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh
Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu / Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.
Núi chầu sông tụ Thăng Long theo hình thế Âm Dương
Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ XVI trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần mũi thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bởi vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác định thái độ và hành động của mình.
LỜI CUỐI BÀI
Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong mối quan hệ vơí Trung Quốc hiện nay. Bởi vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khỏi cõi u mê của sự hoang tưởng trong mối quan hệ với Trung Quốc. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dạy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dạy bảo của cha ông.
Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở họ và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?
Đông dân là một sức mạnh
Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Quốc mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào nói rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.
Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động Tổ Chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.
Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để dọa nạt chúng ta và các nước trong vùng.

Có điều, một thảm họa đông dân mà Nhà nước không vì dân thì Nhà nước sẽ khốn đốn. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.
Vậy thì mọi nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không?
TTV
(Nguồn: Bauxite VN)

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2009

NHỮNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC VEN SÔNG ĐUỐNG

NHỮNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC VEN SÔNG ĐUỐNG TRONG BỐI CẢNH THĂNG LONG THỜI LÝ
PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung
ThS. Đặng Hồng Sơn, ThS. Bùi Hữu Tiến
(Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội)

Đông Anh nằm ở vị trí khá đặc biệt, nếu phân chia tam giác châu sông Hồng thành 3 vùng với giới hạn một bên là dãy Ba Vì, một bên là dãy Tam Đảo và trục chính là sông Hồng: vùng cao (thượng), vùng giữa (trung), vùng thấp (hạ) ứng với 3 đỉnh tam giác châu thì Vĩnh Phú là vùng đỉnh xưa nhất của tam giác châu sông Hồng; ngã ba sông Hồng, sông Đuống gần Cổ Loa là đỉnh thứ hai và thị xã Hưng Yên là đỉnh thứ ba mà cạnh đáy nằm ven biển từ Yên Lập (Quảng Ninh) tới Nho Quan rìa Ninh Bình. Như vậy Đông Anh gần như nằm trên trục chính của tam giác châu sông Hồng, là miền giáp ranh trung du - đồng bằng[1]. Do nằm trong vùng đất cao Tây Bắc nên Đông Anh có địa hình nghiêng từ Tây Bắc (Cổ Loa: cốt 11-12m) xuống Đông Nam (Liên Hà: cốt 5-6m).
Đông Anh là cái gạch nối giữa miền trung du và miền đồng bằng Bắc bộ nên tính chất giáp ranh này thể hiện rõ về mặt thổ nhưỡng: từ một vùng đất feralitic vàng đỏ phát triển trên nền phù sa cổ đến một vùng bãi và phù sa trên bãi ngoài đê, từ một vùng đất bạc màu đến một vùng cát pha, đất thịt. Đông Anh là gờ cuối cùng của một miền Bắc thềm cổ nhìn ra một vùng lõm võng của đồng bằng
[2].
Về mặt địa chất, do Đông Anh nằm gọn trong tam giác châu sông Hồng nên hầu như bị phủ bởi trầm tích Đệ Tứ, chủ yếu là bồi tích của sông Hồng. Nằm dưới chúng là các trầm tích Nêôgen, chiều dày chung mặt cắt Kainôzôi thuộc đới này lên tới 3.500m. Các lỗ khoan thăm dò địa chất cho biết đây là vùng địa hình đá gốc có bề mặt mấp mô kiểu đồi gò sót, nhưng do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng đã làm cho địa hình bằng phẳng hơn. Ngoài các đồi gò, thềm cổ, Đông Anh còn là vùng đất bồi cao của sông suối. Như vậy, do vị trí nằm ở rìa đồng bằng, nên khu vực Đông Anh mang cả hai chế độ phù sa khác nhau, phù sa cổ và phù sa hiện đại.
Về khí hậu, Đông Anh cũng như các tỉnh đồng bằng Bắc bộ mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, khô nhưng cuối mùa khá ẩm ướt với hiện tượng thời tiết nồm và mưa phùn. Mùa hạ nắng nóng, nhiều mưa. Nhiệt độ bình quân từ 23-24­­0C. Lượng mưa trung bình khoảng 1.600-1.800mm/năm, độ ẩm trung bình 82%
[3].
Về sông ngòi, Đông Anh có 2 hệ thống sông chính: sông Cà Lồ ở phía Bắc, sông Hồng ở phía Tây Nam. Sông Cà Lồ là 1 nhánh của sông Hồng, tách ra từ xã Trung Hà (Yên Lạc, Phú Thọ), là ranh giới tự nhiên giữa huyện Sóc Sơn và huyện Mê Linh, Đông Anh. Sông Hồng bắt nguồn từ dãy Nguy Sơn (Vân Nam - Trung Quốc), dài 1.160km, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, vào nước ta từ Hồ Khẩu (Lào Cai). Lưu lượng nước bình quân là 3.630m3/s, thấp nhất về mùa cạn là 840m3/s, mùa lũ là 7.020m3/s. Sông Hồng qua địa phận Hà Nội từ xã Phong Vân (Ba Vì) đến xã Trung Châu (Đan Phượng). Đoạn từ xã Trung Châu đến xã Liên Trung (Đan Phượng) là ranh giới giữa 2 huyện Từ Liêm và Đông Anh.
Ngoài hệ thống sông chính, giang phận Đông Anh còn có sông Đuống ở phía Đông Nam, sông Thiếp ở phía Đông Bắc, sông Ngũ Huyện Khê ở phía Đông. Rải rác khắp nơi là hệ thống đầm, hồ, ao chuôm cổ từ chân núi Sóc đến vùng thềm phù sa cổ. Đáng chú ý là dọc đôi bờ Ngũ Huyện Khê là địa bàn tập trung dày đặc các di chỉ khảo cổ học thời đại Kim khí như Đồng Vông, Bãi Mèn, Đường Mây (Cổ Loa), Xuân Kiều (Dục Nội), Tiên Hội (Đông Hội), Đình Tràng (Dục Tú), Lỗ Giao (Liên Hà), Đình Chiền (Lỗ Khê)… mà nền tảng trước đó là những dấu tích văn hóa hậu kỳ đá cũ Sơn Vi được phát hiện xung quanh khu vực Cổ Loa.
Về hành chính, huyện Đông Anh hiện có diện tích 182,3km2 với 257.400 người phân bố ở 23 xã và 1 thị trấn. Phía đông giáp huyện Yên Phong và Từ Sơn (Bắc Ninh), phía bắc giáp huyện Sóc Sơn, phía nam giáp huyện Từ Liêm, Gia Lâm và quân Tây Hồ, phía Tây giáp huyện Đan Phượng và Mê Linh
[4].
Quá trình phát hiện khảo cổ học trên địa bàn huyện Đông Anh đã có từ rất lâu bằng các phát hiện tại khu vực Cổ Loa từ khảo cổ học tiền sơ sử đến khảo cổ học lịch sử. Tuy nhiên những phát hiện khảo cổ học lịch sử ở khu vực ven sông Đuống thì mới được thực hiện trong 10 năm trở lại đây theo chương trình “Nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn Thành phố Hà Nội” của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Qua đó phát hiện hàng loạt di tích và di vật có niên đại từ thời tiền-sơ sử đến lịch sử. Trong đó, đặc biệt là những di tích, di vật liên quan đến quá trình tụ cư và triển nở của những cộng đồng cư dân thời Tiền Thăng Long tiếp nối lên thời đại Lý-Trần tại những vùng đất bồi tụ phù sa sông Hồng và sông Đuống.
1. Những di tích khảo cổ học thời Lý ven sông Đuống
Cho đến nay, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tiến hành điều tra, thám sát và khai quật 9 di tích khảo cổ học khu vực ven sông Đuống thuộc huyện Đông Anh và một phần thuộc quận Long Biên. Trong số đó có 3 di tích đã tiến hành khai quật là Hoa Lâm Viên, Bến Long Tửu và Đầu Vè.
1.1. Di tích Hoa Lâm Viên: còn có tên gọi là Bãi Sập, thuộc thôn Du Nội, xã Mai Lâm.



Hố khai quật Hoa Lâm Viên



Di tích hiện nay là bãi trồng màu ngoài đê sông Đuống của dân thôn Du Nội và thôn Thái Bình. Trong các năm 2002-2004, Bộ môn Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều di vật thời Lý-Trần nằm rác trên các cánh đồng này. Kết quả khai quật trong 2 mùa điền dã 2005 và 2007 đã cho thấy các dấu tích văn hóa của con người để lại thuộc nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau: Đường (thế kỷ VII-X), Lý-Trần (thế kỷ XI-XIV) và Lê-Nguyễn (thế kỷ XV-XX). Trong toàn bộ các di tích, di vật khảo cổ ấy, dấu ấn Lý-Trần là ổn định nhất và đậm đặc nhất với sự phong phú về loại hình và đa dạng về chủng loại di vật. Tuyệt đại đa số các di vật thuộc thời Lý-Trần là đồ gốm sứ gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ Hoa Lâm Viên. Theo chúng tôi, các loại gốm men như bát, đĩa, âu, bình, vò... các loại đồ sành như nồi, lon, vại... và các loại đồ đất nung chính là những vật dụng thiết yếu trong đời sống thường nhật của người dân Hoa Lâm Viên thời Lý-Trần. Còn các loại gạch, ngói, lan can chạm sấu đá có thể có liên hệ tới công trình kiến trúc phủ đệ (hành cung) hoặc tôn giáo (Thái Đường) nào đó của họ.
1.2. Phế tích đình Thái Đường cũ: thuộc thôn Thái Bình, xã Mai Lâm. Theo nhân dân địa phương thì vị trí đầu tiên của đình là ở địa điểm giữa dòng sông Đuống ngày nay, sau đó đình mới dời vào ven sông như dấu tích đình cũ. Sau trận vỡ đê năm 1905 đền bị lụt tràn lấp và ngập sâu dưới phù sa. Trên móng nền cũ, dân xã đã tôn đình cao hơn lên. Năm 1990 sông Đuống đổi dòng, đình có nguy cơ sụt lở xuống sông, dân làng đã chuyển từ ngoài đê vào trong đê và dựng lại ngôi đình với tên gọi là đình Thái Đường. Trong trong đình mới hiện có đôi câu đối "Lý triều quốc mẫu cố hương tại; Trần đại Chiêu Hoàng bảo hộ thiên" như là một gợi mở về nơi thờ-quê hương bà mẹ Lý Công Uẩn.
Trong các năm 2004-2008 chúng tôi đã đi khảo sát nhiều lần vết tích nền móng của ngôi đền bên ngoài đê mà phần lớn đã bị lở xuống sông Đuống. Tại đây, đoàn đã chụp ảnh, quay phim và thu lượm một số viên gạch, ngói, mảnh trang trí kiến trúc bằng đất nung cùng nhiều mảnh sành, sứ... có niên đại chủ yếu thế kỷ XVII-XVIII. Song rải rác đó đây cũng có những hiện vật có niên đại thế kỷ XII-XIV và XV-XVI
[5]
1.3. Di tích Đầu Vè: phân bố trên một diện tích khoảng 100.000m2, kéo dài từ chân đê sông Đuống tới khu Trại Chuối thuộc thôn Lại Đà, xã Đông Hội. Tại khu vực này mảnh sành sứ, gốm men, gạch ngói... xuất lộ dày đặc trên bề mặt. Hiện vật có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVIII, trong đó hiện vật có niên đại VII-X và thế kỷ XI-XIV chiếm đa số. Qua 2 cuộc khai quật (đầu và cuối năm 2008) đã xác định hai tầng cư trú đậm đặc nhất là thời Bắc thuộc (thế kỷ IX-X) và thời Lý-Trần (thế kỷ XI-XIV). Đây chính là điểm khác biệt giữa Đầu Vè với hai di tích gần đó là Hoa Lâm Viên và Bến Long Tửu. Hai di tích này di vật thời Bắc thuộc ít hơn và tầng cư trú thời Tiền Thăng Long không rõ ràng như ở Đầu Vè. Tuy nhiên những điểm giống nhau về di vật đặc biệt là nhóm gốm sứ và vật liệu kiến trúc có niên đại thế kỷ XI-XIV đã cho thấy mối quan hệ qua lại giữa các làng cổ này vào thời Lý-Trần. Người Đầu Vè có thể đã mua đồ gốm sứ của (lò gốm/bến bãi) Bến Long Tửu? Sự liên kết của các cộng đồng cư dân lớn ấy cho phép chúng ta khẳng định phần nào vị thế của khu vực tả ngạn sông Đuống trong bối cảnh Thăng Long thời kỳ này.
1.4. Di tích Bến Long Tửu: thuộc thôn Đông Ngàn, xã Đông Hội. Di tích hiện nay là dẻo đất ven sông Đuống (nằm ngoài đê), có diện tích khoảng 2.000m2. Bến Long Tửu nằm bên bờ sông Đuống, cách ngã ba sông Đống và sông Hồng khoảng 3-4km. Kết quả khảo sát và khai quật bước đầu (2007) cho thấy Bến Long Tửu là một di chỉ cư trú đồng thời là nơi sản xuất gốm sứ thời Lý-Trần . Ở khu vực di tích, bờ sông bị sạt lở mạnh, hiện vật xuất lộ dày đặc, nhiều hiện vật còn dáng và mảnh của gốm men, sành, đồ đất nung, vật liệu kiến trúc, tiền đồng thuộc nhiều thời kỳ khác nhau, đa số có niên đại thế kỷ XI-XIV. Qua nghiên cứu di vật cho thấy, Bến Long Tửu có khả năng là một di tích có liên quan đến hoạt động sản xuất
[6] buôn bán đồ gốm sành sứ phục vụ khu vực Thăng Long thời Lý-Trần.
1.5. Di tích Vườn Quan: thuộc thôn Đông Ngàn, xã Đông Hội nằm sau Đền Thượng. Về không gian, đây có thể là phần kéo dài của di tích Bến Long Tửu, con đê Sông Đuống hiện tại đã chia di tích Bến Long Tửu làm hai phần trong đê (di tích Vườn Quan) và ngoài đê (di tích Bến Long Tửu). Về hiện vật, sưu tập gạch ngói, sành, gốm men… sưu tầm được ở di tích Vườn Quan cho thấy mối tương đồng về niên đại cũng như kỹ thuật sản xuất với di vật của Bến Long Tửu.
1.6. Di tích gò Cống Sứ: thuộc thôn Đông Ngàn, xã Đông Hội. Theo người dân kể lại khu vực này trước kia có cống nước chảy ra sông Đuống, nay đã bị đê sông Đuống lấp. Tuy nhiên tại khu vực này, vẫn còn dấu tích của vực nước (mới bị lấp cát làm nhà), có lẽ là vực nước nối liền gò Cống Sứ và dòng nước chảy ra sông Đuống. Hiện tại khu vực này được nhân dân dùng làm nghĩa địa. Hiện vật sưu tầm ở ở Gò Cống Sứ gồm nhiều loại: gạch, ngói, tháp đất nung, bát, đĩa, vò, vại… có niên đại từ thế kỷ IX đến thế kỷ XVIII. Có nhiều khả năng đây là nơi cư trú của cư dân thời Lý-Trần-Lê.
Ngoài ra trong cuộc khai quật Đầu Vè năm 2008, đoàn khai quật còn được nhân dân trong vùng cung cấp một số hiện vật gốm sứ có niên đại 10 thế kỷ đầu Công nguyên do nhân dân đào được trong quá trình xây mộ. Những hiện vật này có thể là đồ tùy táng trong các mộ thời Bắc thuộc. Điều này càng xác định cụ thể hơn về một lớp cư dân thời Bắc thuộc và sau Bắc thuộc đã tụ cư tại khu vực ven sông Thiên Đức và sông Ngũ Huyện của vùng Đông Ngàn. Lớp cư dân ấy chính là sự nối tiếp của cộng đồng cư dân thời Đông Sơn trước đó và nó trở thành cơ sở nền tảng cho sự phát triển thịnh vượng của các làng xã Đại Việt dưới thời Lý-Trần như chúng ta thấy tại các địa điểm Hoa Lâm Viên, Bến Long Tửu và Đầu Vè...
1.7. Di tích gò Ngõ Mít: thuộc thôn Đông Ngàn, xã Đông Hội nằm liền kề với Gò Cống Sứ. Tại di tích này chúng tôi đã phát hiện được nhiều mảnh sành, gốm men, ngói có niên đại thế kỷ XII-XIV.
1.8. Di tích gò Mả Thậm: thuộc thôn Lại Đà, xã Đông Hội hiện đã bị san ủi để làm đường dẫn lên cầu Đông Trù. Tại một góc nhỏ còn sót lại của khu gò, chúng tôi đã thu thập được nhiều mảnh sành, gốm men, mảnh đất nung gia dụng có niên đại Lý, Trần, Lê. Trên cơ sở những di vật có được và theo lời kể của nhân dân về địa thế của khu vực này, chúng tôi cho rằng khu vực nghè Lại Đà, khu vực Nghĩa Trang, khu vực Gò Mả Thậm là những gò đất cao nằm gần nhau và từ thời Lý, Trần, Lê đã có cư dân sinh sống tại khu vực này. Đây có thể là vết tích của những làng cổ thời Lý, Trần, Lê giống như địa điểm Bến Long Tửu và Đầu Vè đã nói ở trên.
1.9. Di tích xóm 3 thôn Bắc Cầu: thuộc xóm 3 thôn Bắc Cầu, phường Ngọc Thuỵ, quận Long Biên. Di tích nằm tại khu vực hữu ngạn sông Đuống, đối diện với khu vực Bến Long Tửu. Tại đây, đoàn khảo sát đã phát hiện được nhiều mảnh gạch ngói, gốm men, sành, đất nung có niên đại từ thế kỷ VII đến XVIII, trong đó tập trung chủ yếu trong khung niên đại thế kỷ XIII-XIV và thế kỷ XVII-XVIII. Theo người dân địa phương, khi dòng sông Đuống chưa khơi đào rộng, khu vực hai bên bờ sông Đuống trước đây là một làng. Hiện tại, nhiều ngôi mộ của người dân thôn Đông Ngàn vẫn ở nằm trên nghĩa địa thuộc thôn Bắc Cầu.

2. Diễn biến tầng văn hóa thời Lý qua các di tích khảo cổ học ven sông Đuống
Qua gần 1 thập niên điền dã khảo sát với nhiều hố đào khai quật, thám sát ở các nhiều địa điểm ven dòng sông Đuống đoạn từ ngã ba sông Đuống với sông Hồng đến khu vực Cầu Đuống, chúng tôi nhận thấy địa tầng khu vực này có mấy điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất, các hố khai quật đều cho thấy nhiều lớp cư dân tiếp nối liên tục sinh sống đậm đặc tại khu vực này kéo dài từ thời Tiền Thăng Long (chủ yếu giai đoạn thế kỷ VIII-X - thời Tiền Lý) cho đến tận thế kỷ XVIII-XIX (giai đoạn thế kỷ XI-XIV- thời Lý-Trần).
Thứ hai, trong các hố khai quật và thám sát, chúng tôi phát hiện nhiều dấu tích bếp lửa, hố rác, cụm gạch ngói… cùng nhiều loại hình di vật cho thấy đời sống cộng đồng đa dạng và phức tạp của cư dân nơi đây.
Thứ ba, nhiều sử liệu thành văn được sự bổ sung bằng nhiều loại vật liệu kiến trúc phát hiện trong các hố khai quật đang dần hé mở phần nào về những công trình kiến trúc liên quan đến hành cung, Thái Đường… nhưng cho đến nay, khảo cổ học ở khu vực này vẫn chưa tìm thấy bất kỳ dấu tích kiến trúc nào.
Thứ tư, do nhiều biến thiên của lịch sử, nhất là những biến cố ngay sau giai đoạn chuyển giao quyền lực Lý-Trần cho đến những tác động của dòng sông Đuống… làm cho diệm mạo các di tích khu vực này đã thay đổi quá nhiều, đôi chỗ còn có những xáo trộn nhất định dẫn đến nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu địa tầng cũng như xác định đặc trưng di vật.

3. Đặc trưng di vật thời Lý trong các di tích khảo cổ học ven sông Đuống
Các bộ sưu tập hiện vật phát hiện và khai quật được tại các địa điểm Hoa Lâm Viên, Bến Long Tửu, Đầu Vè cùng các địa điểm khác có khung niên đại rất dài, từ những năm đầu Công nguyên đến đầu thế kỷ XX. Trên đại thể có thể phân chia làm 5 nhóm: đồ sứ, đồ sành, đồ đất nung, vật liệu kiến trúc và tiền đồng... có nguồn gốc xuất xứ chủ yếu ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, một số khác có nguồn gốc từ Trung Quốc (chủ yếu là đồ Nam Trung Quốc).
Đồ sứ: phong phú và đa dạng về kiểu dáng thuộc nhiều dòng men khác nhau, trong đó có những hiện vật được xem là sản xuất tại chỗ (Bến Long Tửu) và cũng có nhiều hiện vật là sản phẩm thuộc các lò gốm khác. Về dòng men, có thể nhận thấy các dòng men sau: men trắng, men ngọc, men nâu, gốm hoa nâu, hai màu men, men trắng xanh vẽ lam... Về kiểu loại, có các loại sau: bát, đĩa, cốc, đĩa đèn, âu, chậu, vò, hộp đựng... về niên đại, có thể chia làm 3 nhóm: nhóm đồ sứ có niên đại thế kỷ VII-X; nhóm đồ sứ có niên đại Lý-Trần, thế kỷ XI-XIV; nhóm đồ sứ có niên đại Hậu Lê, thế kỷ XV-XVIII. Đồ sứ ở các địa điểm tả và hữu ngạn sông Đuống mang nhiều đặc trưng chung của đồ sứ phát hiện được trong các di tích khảo cổ học có niên đại tương tự ở miền Bắc Việt Nam nhất là khu vực xung quanh Hà Nội.
Đồ sành: có hai nhóm chính là sành thô và sành mịn thuộc các loại hình đồ gia dụng, như nồi, nắp vung, bát, lon, vò, chậu, dọi xe chỉ, bàn xay thuốc... Về niên đại, nhóm đồ sành cũng có các nhóm hiện vật mang niên đại tương tự như đồ sứ. Nhóm hiện vật này thường có số lượng nhiều nhất trong các sưu tập hiện vật và thường có nhiều hiện vật nguyên hoặc nguyên dáng nhất.
Đồ đất nung: có số lượng khá nhiều với các loại hình thuộc đồ gia dung là chính, như nồi, nắp vung, bát, đĩa đèn...
Vật liệu kiến trúc: tuy không phát hiện được dấu tích kiến trúc, nhưng qua các chuyến điều tra khảo sát và nhất là trong các hố khai quật, chúng tôi đã phát hiện được khá nhiều loại vật liệu kiến trúc thuộc nhiều thời khác nhau, với các loại hình chính: gạch, ngói, lan can đá, miệng giếng đá... Gạch, có các loại gạch Bắc thuộc, như: Giang Tây Quân, gạch múi bưởi, gạch có hoa văn ô trám ở cạnh viên gạch...; có các loại gạch thời Lý-Trần, kể cả loại gạch có in dấu ghi chữ Hán trên gạch; và cả gạch thời Lê-Nguyễn. Ngói, có các loại ngói ống, ngói mũi lá, ngói mũi sen... cùng các loại trang trí trên ngói như đầu ngói ống, lá đề tráng men xanh lục, đầu đao đất nung...
Đặc biệt, tại khu vực Hoa Lâm Viên đã phát hiện lan can đá, nay đang lưu giữ tại chùa Phúc Lâm. Lan can bên trái thành bậc trang trí hình con sấu, được chế tác từ đá cát màu nâu xám, một phần đầu đã bị chặt vỡ. Kích thước hiện trạng: cao cả bệ: 42cm, dài 104cm. Phần đầu còn dấu vết của hai chân, mỗi chân có ba vuốt. Phía trên chân trang trí vân mây. Phần đuôi còn khá nguyên vẹn. ở mặt bên phải hoa văn trang trí không đều khắp như mặt bên trái ngoảnh ra bên ngoài. Mặt này để gắn vào bậc tam cấp do vậy có những chỗ để trống không trang trí. Mặt ngoài trang trí còn được bảo tồn khá nguyên vẹn. Còn hai chân nguyên, mỗi chân có ba móng. Con Sấu này được tạc liền khối với bệ trang trí văn cúc dây hình chữ S xen kẽ bông cúc mãn khai cạnh bông cúc giữa có hoa sen. Thân uốn lượn mềm mại. Toàn bộ thành bậc này mang phong cách nghệ thuật Lý và khá giống với hiện vật hiện để ở sân của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành bậc hình nghê đá triều Lý tìm thấy ở Hà Nội và với những mảnh thân rồng trên lan can thành bậc đá thời Lý mới tìm thấy trong cuộc khai quật tại 18 Hoàng Diệu (Hà Nội). Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu PGS.TS. Tống Trung Tín và TS. Nguyễn Hồng Kiên, tấm lan can có điêu khắc hình sấu đá ở chùa Phúc Lâm có niên đại cuối thời Lý và có liên quan đến di tích kiến trúc có thể là hành cung của nhà Lý ở Hoa Lâm Viên.
Miệng giếng đá: có niên đại thời Lý-Trần, vốn nằm trong khu vực làng Du Nội cũ, hiện nay đang tái sử dụng tại chùa Phúc Lâm.
Tiền đồng: có loại tiền đồng khác nhau, chủ yếu là tiền Trung Quốc đã được phát hiện trong các hố khai quật cũng như được nhân dân trong vùng cung cấp cho đoàn khảo sát. Những đồng tiền có niên đại xưa nhất là tiền Bán lạng (thế kỷ III trước Công nguyên), rồi đến tiền Khai Nguyên thông bảo thời Đường (thế kỷ VII-IX) nhiều nhất là tiền Bắc Tống (thế kỷ X-XII). Những đồng tiền này càng khẳng định hơn về địa tầng Tiền Lý và Lý-Trần cũng như bổ sung cho niên đại sưu tập hiện vật khu vực này.

4. Nhóm di tích khảo cổ học ven sông Đuống trong bối cảnh Thăng Long thời Lý
Trong 10 năm trở lại đây, cùng các hoạt động kinh tế xã hội của thu đô, cũng như trong chương trình hướng tới kỷ niệm 1000 năm vương triều Lý và 100 năm Thăng Long-Hà Nội, giới khảo cổ học Việt Nam được tham gia và chứng kiến nhiều phát hiện lớn từ lòng đất ngàn năm văn vật. Các kết quả khai quật tại số 18 Hoàng Diệu, số 62-64 Trần Phú, khu di tích Thành cổ Hà Nội (Đoan Môn, Bắc Môn, Hậu Lâu), số 11 Lê Hồng Phong, khu di tích Văn Miếu, khu di tích đàn Xã Tắc, khu di tích đàn Nam Giao, khu di tích Cổ Loa, cụm di tích đền chùa Bà Tấm…
Tất cả các địa điểm trên đã minh chứng cho một Thăng Long bề dày lích sử không chỉ từ thời Lý mà còn từ thời Đại La. Những đặc trưng di vật của nhóm di tích ven sông Đuống phần nào thể hiện sự tương đồng với di vật trong các địa điểm trên.

5. Bảo tồn và nghiên cứu các di tích khảo cổ học thời Lý ven sông Đuống
Hiện nay hầu hết các di tích khảo cổ học thời Lý ven dòng sông Đuống đã và đang bị hủy hoại nghiêm trọng do hoạt động của sông Đuống (như di tích Hoa Lâm Viên, Đình Thái Đường, Bến Long Tửu) và các hoạt động kinh tế xã hội (như di tích Gò Mả Thậm đã gần như bị xóa sổ hoàn toàn do việc xây đường dẫn cho cầu Đông Trù, hay di tích Bến Long Tửu bị phá đi gần hết để làm kè đá cho sông Đuống)…
Trong tương lai gần, cần tiến hành khảo sát lại, khảo sát thật kỹ để xây dựng kế hoạch khai quật, nghiên cứu và bảo tồn hiện trạng các di tích này. Nhất là công tác khảo sát, điều tra, nghiên cứu và bảo tồn những di tích dưới mặt đất. Nhiều năm trở lại đây, định hướng công tác bảo tồn các di tích dưới mặt đất dường như chưa được quan tâm đúng mức và chưa được đầu tư thích hợp như các di tích trên mặt đất mà chúng ta vẫn làm. Đặc biệt, với bề dày ngàn năm lịch sử, trải bao thăng trầm của thời gian, thiên tai và con người, những di tích kiến trúc thời Lý đâu thể vững bền mãi.

6. Kết luận
Trên đây là những phát hiện mới về khảo cổ học ở khu vực ven sông Đuống. Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy có một dòng chảy mạnh mẽ và liên tục bên cạnh dòng sông Đuống-dòng chảy xã hội. Dòng chảy đó thể hiện một sức sống mãnh liệt của cư dân trên mảnh đất Đông Anh nói riêng và Thăng Long nói chung. Những di tích khảo cổ học ven sông Đuống, nhất là các di tích Lý-Trần mới được phát hiện là hệ thống tư liệu quý giá trong nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển 1000 năm văn vật đất Thăng Long - Hà Nội. Sức sống ấy luôn thể hiện như là một vị thế của vùng Hoa Lâm trong bối cảnh Thăng Long thời Đại Việt, nhất là trong giai đoạn Tiền Lý-Lý-Trần. Nhìn vào bản đồ khảo cổ học lịch sử Thăng Long mấy năm gần đây, chúng ta nhận thấy rất rõ điều này, dường như có sự trượt dần theo dòng sông Hồng của hệ thống cung ứng gốm sứ cho kinh đô từ phía Bắc Thăng Long (Bến Long Tửu, Đầu Vè, Hoa Lâm Viên) trong thời Tiền Lý-Lý-Trần xuống khu vực phía Nam Thăng Long (Kim Lan, Bát Tràng) thời Lý-Trần.
Theo các kết quả nghiên cứu trên, có thể thời Lý-Trần là thời điểm con người sinh sống đậm đặc nhất ở khu vực ven sông Đuống. Tuy nhiên, dấu vết hiện vật cho thấy thời Tiền Lý đã có cư dân tập trung khá đông đúc nơi đây. Đó chính là cơ sở để thời Lý-Trần, các làng cổ ấy càng ngày càng đông đúc hơn. Trong một chừng mực nào đó, các làng này có mối quan hệ qua lại với nhau. Đặc biệt trên việc phân tích hiện vật khai quật được cho thấy, đồ gốm sứ, sành và vật liệu kiến trúc của các làng này có rất nhiều điểm tương đồng, thậm chí có những đồ sứ ở Đầu Vè, Hoa Lâm Viên có thể được trao đổi từ các lò/bãi bến của Bến Long Tửu. Hệ thống di vật của các di tích này còn cho thấy mối quan hệ sâu sắc của chúng với các di tích khác trong khu vực lân cận Thăng Long như Đương Xá, Kim Lan, Bát Tràng...
Chính sự liên kết các làng này, cho thấy khu vực Hoa Lâm (nay là vùng tả ngạn sông Đuống) là một vùng có vị thế khá quan trọng với Thăng Long. Vị trí gần ngã ba sông, thuận đường thủy, bộ. Vai trò của khu vực này đối với Thăng Long thể hiện trên các khía cạnh kinh tế giao thương đường sông, và vị thế địa chính trị, nơi tụ cư của tôn thất nhà Lý, đồng thời là cửa ngõ của Thăng Long nối liền với xứ Kinh Bắc. Khu vực có kiến trúc cung đình tông giáo... Một trong những đóng góp của khu vực Hoa Lâm xưa chính là con đường cung cấp đồ gốm sứ gia dụng cho cư dân trong thành Thăng Long bằng nhiều con đường trong đó quan trọng nhất là đường sông từ sông Đuống qua sông Hồng để vào nội thành.
Những nghiên cứu bước đầu có thể cho chúng ta một cách nhìn nhận khách quan về các sự kiện, địa danh thời Lý-Trần mà sử cũ đã biên chép tới: Bãi Sập, Hoa Lâm, quê hương nhà Lý...
Trong thời gian sắp tới cần có một chiến lược nghiên cứu liên ngành tại khu vực tả và hữu ngạn sông Đuống để sớm có một cách nhìn nhận tiệm cận về khu vực này cũng như về các vấn đề lịch sử liên quan như sự kiện Bãi Sập, địa danh Hoa Lâm Viên, Thái Đường, vấn đề quê hương nhà Lý... nhất là những gợi mở gần đây về quê hương của người mẹ đã sinh ra Lý Công Uẩn
[7].
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Mạnh Cường, Hà Văn Cẩn và Bùi Minh Trí: “Đào thăm dò khảo cổ khu Văn Miếu (Hà Nội)”, KCH số 3 năm 2000, tr. 57-73.
2. Nguyễn Thị Dơn: Sưu tập vũ khí thời Lê ở Ngọc Khánh (Hà Nội), luận án Tiến sĩ lịch sử, Hà Nội, 2004, tư liệu Viện Khảo cổ học.
3. Nguyễn Thị Dơn: “Những di tích kiến trúc và di vật thời Lê phát phát hiện tại hồ Ngọc Khánh - Hà Nội năm 1983”, KCH số 4 năm 1998, tr. 86-92.
4. Nguyễn Khắc Đạm: Thành luỹ, phố phường và con người Hà Nội trong lịch sử, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999.
5. Nguyễn Văn Đoàn: “Đào thám sát hệ thống thành (năm 2001) và một số nhận thức mới về di tích Lam Kinh (Thanh Hoá)”, KCH số 6 năm 2003, tr. 72-96.
6. Đoàn Khảo sát Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội: "Khảo sát xã Mai Lâm, huyện Đông Anh - Hà Nội", trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2005, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006, tr. 408-411.
7. Lâm Thị Mỹ Dung, Bùi Hữu Tiến, Hoàng Thuý Quỳnh, Nguyễn Thị Thao Giang: Báo cáo khai quật lần thứ nhất di tích Bến Long Tửu (xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội), tư liệu thư viện Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2008.
8. Lâm Thị Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn: Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu khảo cổ học huyện Đông Anh, Sóc Sơn thực hiện đề án "Nghiên cứu Khảo cổ học trên địa bàn thành Thành phố Hà Nội năm 2004" của Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tư liệu thư viện Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2005.
9. Lâm Thị Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn, Bùi Hữu Tiến: Báo cáo tổng hợp kết quả khai quật di tích Hoa Lâm Viên thực hiện đề án "Nghiên cứu Khảo cổ học trên địa bàn thành Thành phố Hà Nội năm 2005" của Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tư liệu thư viện Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2006.
10. Lâm Thị Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn, Bùi Hữu Tiến: Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề án "Nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2006" của Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, tư liệu thư viện Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2007.
11. Lâm Thị Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn, Bùi Hữu Tiến: Báo cáo tổng hợp kết quả khai quật di tích Hoa Lâm Viên lần thứ hai thực hiện đề án "Nghiên cứu Khảo cổ học trên địa bàn thành Thành phố Hà Nội" của Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tư liệu thư viện Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2007.
12. Lâm Thị Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn, Bùi Hữu Tiến: “Các di tích khảo cổ học thời Lý-Trần khu vực tả và hữu ngạn sông Đuống (Đông Anh, Hà Nội)”, trong Về quê hương nhà Lý, Kỷ yếu Toạ đàm khoa học: Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý, Hội Sử học Hà Nội, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2009, tr. 121-131.
13. Lâm Thị Mỹ Dung, Hoàng Thúy Quỳnh và Đoàn Khai quật: "Kết quả khai quật di chỉ Hoa Lâm Viên xã Mai Lâm - huyện Đông Anh - Hà Nội năm 2005", trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2006, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007, tr. 308-311.
14. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: Hoàng thành Thăng Long - Phát hiện khảo cổ học, đặc san Xưa & Nay.
15. Phạm Như Hồ, Hà Văn Cẩn, Bùi Minh Trí, Nguyễn Văn Đoàn và Nguyễn Thị Dơn: “Khai quật di chỉ khảo cổ học Lý - Trần 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội”, KCH số 3 năm 2000, tr. 74-93.
16. Hán Văn Khẩn, Đặng Hồng Sơn: "Kết quả khai quật lần thứ hai di tích Hoa Lâm Viên (Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội)", trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2007, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2008, tr. 325-328.
17. Hán Văn Khẩn, Đặng Hồng Sơn: “Kết quả điều tra và khai quật di tích Hoa Lâm Viên (Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội)”, trong Về quê hương nhà Lý, Kỷ yếu Toạ đàm khoa học: Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý, Hội Sử học Hà Nội, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2009, tr. 22-58.
18. Hán Văn Khẩn, Đặng Hồng Sơn: “Kết quả khảo sát, khai quật di tích Đầu Vè (Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội)”, trong Về quê hương nhà Lý, Kỷ yếu Toạ đàm khoa học: Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý, Hội Sử học Hà Nội, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2009, tr. 88-120.
19. Hán Văn Khẩn, Đặng Hồng Sơn, Bùi Hữu Tiến: Báo cáo khai quật lần thứ nhất di tích Đầu Vè (xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội), tư liệu thư viện Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2008.
20. Nishimura Masanari, Bùi Minh Trí: "Excavation of the Duong Xa site in Bac Ninh Provice, Vietnam", trong Journal of Southeast Asian Archaeology số 24, tr. 91-131, 2004.
21. Nishimura Masanari, Bùi Minh Trí, Trịnh Hoàng Hiệp: "Kết quả khai quật di chỉ lò gốm Đương Xá, nhận xét mới về niên đại các đồ gốm", trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2001, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 301-305.
22. Nishimura Masanari, Nishino Noriko: Báo cáo khai quật chữa cháy lần thứ 2 ở Bãi Hàm Rồng, Kim Lan (TP Hà Nội), tư liệu thư viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, 2004.
23. Đặng Hồng Sơn và Đoàn Khai quật: "Sưu tập tiền cổ tại di tích Hoa Lâm Viên (Hà Nội)", trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2006, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2008, tr. 685-689.
24. Hà Văn Tấn: “Khảo cổ học với Thăng Long”, KCH số 3 năm 2000, tr. 2-8.
25. Hà Văn Tấn: “Lịch sử, sự thật và sử học”, trong Đến với lịch sử-văn hoá Việt Nam, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005, tr. 9-18.
26. Tập bản đồ hành chính Việt Nam, Nxb Bản đồ, Hà Nội, 2004.
27. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra), Bản dịch và biên soạn của Dương Thị The và Phạm Thị Thoa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.
28. Tống Trung Tín (chủ biên): Hoàng thành Thăng Long, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2006.
29. Tống Trung Tín, Hà Văn Cẩn, Nguyễn Văn Hùng: “Khai quật địa điểm Hậu Lâu năm 1998”, KCH số 2 năm 2000, tr. 104-124.
30. Tống Trung Tín, Trần Anh Dũng, Hà Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Cường và Nguyễn Văn Hùng: “Khai quật địa điểm Đoan Môn (Hà Nội) năm 1999”, KCH số 3 năm 2000, tr. 11-32.
31. Tống Trung Tín, Trần Anh Dũng, Hà Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Cường, Nguyễn Thị Dơn và Nguyễn Văn Hùng: “Khai quật địa điểm Bắc Môn (Hà Nội)”, KCH số 3 năm 2000, tr. 33-41.
32. Tống Trung Tín, Trần Anh Dũng, Hà Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Cường, Nguyễn Thị Dơn và Nguyễn Văn Hùng: “Một số loại hình gốm men ở kinh đô Thăng Long qua các đợt khai quật Đoan Môn, Bắc Môn và Hậu Lâu”, KCH số 4 năm 2000, tr. 5-26.
33. Tống Trung Tín, Trần Anh Dũng, Hà Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Cường, Nguyễn Thị Dơn và Nguyễn Văn Hùng: “Hệ thống vật liệu xây dựng ở kinh đô Thăng Long qua các đợt khai quật Đoan Môn, Bắc Môn và Hậu Lâu”, KCH số 4 năm 2000, tr. 27-52.
34. Bùi Hữu Tiến: "Nhận thức bước đầu về di tích Bến Long Tửu qua kết quả khảo sát và khai quật lần I", trong Về quê hương nhà Lý, Kỷ yếu Toạ đàm khoa học: Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý, Hội Sử học Hà Nội, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2009, tr. 59-87.
35. Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc: Khí hậu Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1993.
36. Nguyễn Trãi: “Dư địa chí”, trong Nguyễn Trãi toàn tập, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học xuất bản, Hà Nội, 2001, tr. 383-591.
37. Bùi Minh Trí, Trịnh Hoàng Hiệp, Nishimura Masanari, Noriko Noshino, Lê Viết Nga, Nguyễn Văn Đáp: "Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khu lò gốm cổ Đương Xá (Bắc Ninh)", trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2001, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 296-300.
38. Viện Khảo cổ học: Báo cáo tóm tắt bước đầu kết quả khai quật khảo cổ học khu vực xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình (mới), Hà Nội, 2003.
39. Trần Quốc Vượng: “Đôi điểm về quy hoạch Thăng Long”, trong Thông báo Khoa học của BTLS Việt Nam số 1 năm 1983, Hà Nội, tr. 65-70.
40. Trần Quốc Vượng: “Đông Anh truyền thống và cách mạng”, trong Theo dòng lịch sử, Nxb VHTT, Hà Nội, 1996.
41. Trần Quốc Vượng: Việt Nam cái nhìn địa - văn hoá, Nxb Văn hoá Dân tộc và Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội, 1998.
42. Trần Quốc Vượng: “Cổ Loa - Âu Lạc”, trong Hà Nội như tôi hiểu, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2005.
43. Trần Quốc Vượng: Thăng Long - Hà Nội tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hoá Thông tin & Viện Văn hoá, Hà Nội, 2006.

[1] Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc: Khí hậu Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1993, tr. 168-175.
[2] Trần Quốc Vượng: “Đông Anh truyền thống và cách mạng”, trong Theo dòng lịch sử, Nxb VHTT, Hà Nội, 1996.
Trần Quốc Vượng: “Cổ Loa - Âu Lạc”, trong Hà Nội như tôi hiểu, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2005.
[3] Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc: Khí hậu Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1993, tr. 168-175.
[4] Tập bản đồ hành chính Việt Nam, Nxb Bản đồ, Hà Nội, 2004, tr. 18.
[5] Đoàn Khảo sát Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội: "Khảo sát xã Mai Lâm, huyện Đông Anh - Hà Nội", trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2005, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 408-411.
[6] Mặc dù đã phát hiện được nhiều loại hình con kê với số lượng khá lớn cùng một số đồ phế phẩm, thứ phẩm bằng sứ, mảnh bao nung, các cụm tro than… nhưng do chưa tìm thấy dấu tích của lò nên chúng tôi vẫn chỉ dừng lại ở giả thuyết về nghề sản xuất gốm ở địa điểm ven sông này.
[7] Hội Sử học Hà Nội: Về quê hương nhà Lý, Kỷ yếu Toạ đàm khoa học: Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2009.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2009

Những ca khúc về thày cô và trường lớp

1. "Bụi phấn" (nhạc: Vũ Hoàng, thơ: Lê Văn Lộc)
"... Khi thầy viết bảng, bụi phấn rơi rơi
Có hạt bụi nào, rơi trên bục giảngCó hạt bụi nào, vương trên tóc thầy
Em yêu phút giây này, thầy em tóc như bạc thêm
Bạc thêm vì bụi phấn, cho em bài học hay..."
Bụi phấn có lẽ là ca khúc kinh điển nhất về người thầy mà bất kỳ ai khi còn đi học cũng đều thuộc lòng. Được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của Lê Văn Lộc, Bụi phấn nhanh chóng trở thành một trong những ca khúc thiếu nhi nổi tiếng nhất của nền âm nhạc Việt Nam. Lời ca tuy ngắn ngủi nhưng mỗi khi những giai điệu da diết ấy vang lên, người nghe như cảm thấy bùi ngùi, xúc động khi nhớ về người thầy, người cô - những người đã tận tâm dạy dỗ và đem đến cho chúng ta những bài học tri thức lẫn cuộc sống vô cùng quý giá từ "tuổi còn thơ". Hình ảnh bụi phấn vương trên mái tóc người thầy là một hình ảnh đẹp mà không một người học trò nào có thể quên được. (
Nghe bài hát)
2. "Nhớ ơn thầy cô" (nhạc và lời: Nguyễn Ngọc Thiện)
"... Về lại trường xưa với bao kỷ niệm
Bóng dáng cô thầy vấn vương không rời
Một thời tuổi thơ trôi theo cánh phượng
Lời thầy cô vọng mãi..."
Một ca khúc sôi động, trẻ trung mang đậm phong cách tuổi học trò của nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện. Nhớ ơn thầy cô kể về chuyến thăm lại trường xưa với biết bao ký ức, kỷ niệm về hình bóng thầy cô giáo của những thế hệ học trò cũ. Sau này khi đã lớn khôn và bay đi khắp phương trời, nhiều người trong chúng ta mới thực sự cảm thấy thía thía những lời dạy bảo của thầy cô năm xưa. Những lời dạy ấy chính là hành trang theo mỗi người học trò trên chặng đường đi tìm kiếm sự trưởng thành trong cuộc đời. Mang những giai điệu trong sáng, rộn ràng, Nhớ ơn thầy cô được lứa tuổi học trò qua rất nhiều thế hệ yêu mến và thường xuyên được ngân vang trong các buổi biểu diễn văn nghệ. (
Nghe bài hát)

Thầy cô dìu dắt học trò từ những nét chữ đầu tiên.
3. "Đi học" (nhạc: Bùi Đình Thảo, thơ: Minh Chính)
"... Trường của em be bé, nằm lặng giữa rừng cây
Cô giáo em tre trẻ, dạy em hát rất hay
Hương rừng thơm đồi vắng, nước suối trong thầm thì
Cọ xòe ô che nắng, râm mát đường em đi..."
Những ai từng có quãng thời gian cắp sách đến trường chắc hẳn đều quen thuộc với bài thơ nổi tiếng có tên Đi học được trích trong sách giáo khoa lớp 1. Đi học được nhạc sĩ Bùi Đình Thảo phổ nhạc với giai điệu rất đầm ấm và tình cảm. Ca khúc này đã in sâu trong ký ức của rất nhiều thế hệ học trò Việt Nam.
Đi học - hai từ thân thương biết nhường nào gợi nhớ về khoảng thời gian ngọt ngào và tuyệt vời nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Giờ đây cho dù vẫn còn được đi học hay đã rời xa mái trường nhưng mỗi khi câu hát "cọ xòe ô che nắng, râm mát đường em đi" vang lên, mỗi chúng ta đều cảm thấy trong lòng trào dâng một nỗi nghẹn ngào, xúc động. (
Nghe bài hát)
4. "Kỷ niệm mái trường" (nhạc và lời: Minh Phương)
"... Ngày bé thơ còn nhớ

Ta dắt tay nhau tới trường
Vào trong lớp học mến thương bạn bè
Thầy cô thân yêu bao kỷ niệm, giờ đã qua..."
Là một sáng tác của nhạc sĩ trẻ Minh Phương, Kỷ niệm mái trường từng giành giải nhất trong cuộc thi Tuổi đời mênh mông vào năm 2001. Lời ca của bài hát này là tâm sự của học sinh cuối cấp trong những năm tháng cuối cùng khi còn bên nhau dưới một mái trường. Bao kỷ niệm từ ngày đầu tiên tới lớp với những tình cảm thân thương của bạn bè, thầy cô giờ đã sắp trở thành quá khứ. Mai đây tất cả rồi sẽ trưởng thành và có những cuộc sống khác nhau, nhưng những ký ức tươi đẹp về mái trường, về thầy cô, về bạn bè sẽ mãi không thể phai nhòa. Kỷ niệm mái trường do chính tác giả trẻ Minh Phương thể hiện cùng Thùy Chi - nữ ca sĩ trẻ rất được yêu thích trên Internet. (
Nghe bài hát)
5. "Khi tóc thầy bạc trắng" (nhạc và lời: Trần Đức)
"... Khi tóc thầy bạc, tóc em vẫn còn xanh

Khi tóc thầy bạc trắng, chúng em đã khôn lớn rồi
Thời gian trôi mau, Cầu Kiều thầy đưa qua sông
Tuổi ấu thơ như hoa nở dưới mái trường..."
Hình ảnh người thầy giáo đã xuất hiện trong vô vàn bài hát trữ tình của Việt Nam biết bao nhiêu năm qua, từ Bụi phấn (Vũ Hoàng), Người thầy (Nguyễn Nhất Huy) đến Khoảng lặng phía sau thầy (Nguyễn Ngọc Thiện), Những điều thầy chưa kể (Trần Thanh Sơn)... Nhưng có lẽ hình ảnh người thầy hiện lên chân nhật nhất, thân thương nhất là trong Khi tóc thầy bạc trắng của nhạc sĩ Trần Đức.
Không gì có thể sánh bằng công lao vất vả của những người thầy giáo, cô giáo trong sự nghiệp trồng người. Bao nhiêu lứa học sinh đi qua, mái tóc thầy càng trở nên bạc trắng theo năm tháng, nhưng sự tâm huyết muốn đem đến tri thức và những bài học quý giá cho các học trò của mình thì mãi sẽ không thay đổi trong mỗi người thầy. (
Nghe bài hát)
6. "Những nụ cười trở lại" (nhạc và lời: Xuân Nghĩa)
"... Trường yêu hỡi chúng tôi về đây

Nhìn tôi xem giờ nay khác xưa rồi
Ngày nào rời trường mặc thêm áo mới
Mà gặp lại trường vẫn như xưa..."
Hầu như ai cũng có một thời cắp sách đến trường với bao mộng mơ, tinh nghịch và ngây ngô của tuổi học trò. Đến khi ra trường, những kỷ niệm về thầy cô, bạn bè và trường lớp mãi in sâu trong tâm trí của mỗi người. Thời gian trôi qua, 10 năm sau, vào một ngày tình cờ, những người học trò cũ quay trở lại mái trường xưa yêu dấu. Biết bao ký ức thân thuộc bỗng tràn về: những lần quên bút, quên bài, những tiếng bạn bè gọi nhau khi tan học, lời thầy cô giảng bài năm xưa... Với những ca từ hồn nhiên, dễ thương và giai điệu nồng nàn, Những nụ cười trở lại của nhạc sĩ Xuân Nghĩa đã đem đến cho người nghe những hình ảnh, những xúc cảm thân thương nhất về lứa tuổi học trò. (
Nghe bài hát)

7. "Mái trường mến yêu" (nhạc và lời: Lê Quốc Thắng)
"... Ôi hàng cây xanh thắm dưới mái trường mến yêu

Có loài chim đang hót âm thầm tựa như nóiVì hạnh phúc tuổi thơ, cho đời thêm sức sống
Thầy dìu dắt chúng em với tấm lòng thiết tha..."
Mái trường mến yêu là một ca khúc dành cho lứa tuổi học trò đã quá quen thuộc với nhiều thế hệ Việt Nam. Con người ai cũng có những kỷ niệm, dù là vui hay buồn, nhưng có lẽ những kỷ niệm về mái trường, về thầy cô, bạn bè luôn luôn êm đềm và khó quên nhất. Những tháng ngày ngây thơ, hồn nhiên với bao ước mơ, hoài bão của một thời tuổi trẻ luôn để lại trong mỗi người ấn tượng sâu đậm. Ca khúc Mái trường mến yêu đã vẽ nên một bức tranh ký ức với "hàng cây xanh thắm dưới mái trường", "giọt sương long lanh vẫn còn đọng trên lá", "khúc nhạc dịu êm" và đặc biệt là ở đó có một người thầy giáo tận tâm luôn trìu mến và hết lòng với những người học trò tinh nghịch. (
Nghe bài hát)
8. "Con đường đến trường" (nhạc và lời: Phạm Đăng Khương)
"... Một chiều đi trên con đường này

Hoa điệp vàng trải dưới chân tôi
Ngập ngừng trong tôi như thầm hỏi
Đường về trường ôi sao lạ quá..."
Nỗi niềm được thể hiện trong ca khúc Con đường đến trường của nhạc sĩ Phạm Đăng Khương là nỗi nhớ da diết về mái trường xưa trong tâm trí một người học trò đã trưởng thành. Một lần tình cờ, người học trò ấy đi trên con đường quen thuộc đến trường năm xưa và những kỷ niệm cũ bỗng dưng ùa về. Đó là nỗi nhớ về những người bạn cũ, là nỗi nhớ về những lời dạy bảo của thầy cô, là nỗi nhớ về những mùa thi "ghi dấu trong cuộc đời". Cuộc sống là không ngừng phấn đấu và vươn tới tương lai, nhưng cũng có lúc chúng ta cần dành những khoảng thời gian dù chỉ là ngắn ngủi để hoài niệm về quá khứ, về những kỷ niệm êm đẹp của một thời tuổi trẻ mà sẽ chẳng bao giờ có lại được. (
Nghe bài hát)
9. "Ngày đầu tiên đi học" (nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện, thơ: Viễn Phương)
"... Ngày đầu tiên đi học, mẹ dắt tay đến trường

Em vừa đi vừa khóc, mẹ dỗ dành yêu thương
Ngày đầu tiên đi học, em mắt ướt nhạt nhòa
Cô vỗ về an ủi. Chao ôi! Sao thiết tha!..."
Ai cũng từng trải qua "ngày đầu tiên đi học" với rất nhiều xúc cảm khác nhau, từ háo hức, vui mừng đến lo lắng, hồi hộp. Đi học - đó là lúc những đứa trẻ được tiếp cận một thế giới mới mà ở đó có những thứ gọi là kiến thức, có những người bạn cùng lớp vui vẻ và đặc biệt là có cô giáo với nụ cười hiền từ. Ngày đầu tiên được đi học là khoảnh khắc đặc biệt, thiêng liêng đối với riêng mỗi người mà không ai có thể quên được. Đó cũng là những giây phút để lại ấn tượng sâu sắc với những ông bố, bà mẹ khi chứng kiến đứa con bé bỏng của mình tự đi những bước đầu tiên trong cuộc sống. Thời khắc ấy đã được diễn tả thật ý nghĩa qua những ca từ của bài hát Ngày đầu tiên đi học do nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Viễn Phương. (
Nghe bài hát)
10. "Mong ước kỷ niệm xưa" (nhạc và lời: Xuân Phương)
"... Thời gian trôi qua mau, chỉ còn lại những kỷ niệm

Kỷ niệm thân yêu ơi, sẽ còn nhớ mãi tiếng thầy cô
Bạn bè mến thương ơi, sẽ còn nhớ những lúc giận hờn
Để rồi mai chia xa, lòng chợt dâng niềm thiết tha
Nhớ bạn bè, nhớ mái trường xưa..."
Xuất hiện lần đầu tiên trong bộ phim Xin hãy tin em của đạo diễn Đỗ Thanh Hải, Mong ước kỷ niệm xưa nhanh chóng được đông đảo khán giả yêu nhạc Việt Nam đón nhận. Cho đến nay, Mong ước kỷ niệm xưa đã trở thành nhạc phẩm bất hủ và nổi tiếng nhất dành cho giới học sinh sinh viên Việt Nam. Lời ca đầy ý nghĩa về những năm tháng cắp sách đến trường luôn đem đến cho người nghe sự xúc động mạnh mẽ và cảm giác bồi hồi, nghẹn ngào mỗi khi câu hát "Nếu có ước muốn trong cuộc đời này, hãy nhớ ước muốn cho thời gian trở lại" được ngân vang.
Hãy biết trân trọng những tháng ngày được sống cùng bạn bè, thầy cô dưới mái trường bởi đó là khoảng thời gian đẹp nhất, thân thương nhất mà khi trưởng thành, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể tìm lại được. Mong ước kỷ niệm xưa là một trong những sáng tác đầu tay của nhạc sĩ Xuân Phương và là ca khúc gắn liền với tên tuổi của Tam ca 3A. (
Nghe bài hát)
http://vnexpress.net/GL/Van-hoa/2009/11/3BA15CBF/