Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009

Hội nghị Thông báo Khảo cổ học Toàn quốc lần thứ 44 tháng 9.2009



Hàng năm theo thông lệ vào cuối tháng 9 những người làm khảo cổ ở Việt Nam lại tụ tập tại Hà Nội để nói cho nhau nghe những phát hiện "mới, hơi mới, cũ người mới ta...". Bức xúc, tâm tư của hàng chục năm làm khảo cổ của những người làm khảo cổ được lưu truyền từ năm này sang năm khác nhờ có hội nghị thông báo này!

Từ hội nghị này mới thấy có mấy dạng người khảo cổ khác nhau

1. Làm Khảo cổ học

2. Vì Khảo cổ học

3. Nhờ Khảo cổ học

Cũng chả biết tự phân loại bản thân vào dạng nào nữa. Hoang mang quá!


Hội nghị này hay nhất là Nghị thì ít, Hội mới quan trọng!

Dù sao làm khảo cổ cũng như làm mọi thứ khác cái khó nhất vẫn là:

"Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu"!

(Thơ Phùng Quán).


Đông người lạ quá!
Mà hình như có cả bác đến tiếp thị máy Laser Scanner!



Thời buổi này vẫn có người chăm chỉ làm poster ghê!


Cuộc gặp gỡ những mầm non khảo cổ của hai trường ĐHKHXHNV Sài Gòn, Hà Nội!
Vui nhất là có các đại gia khảo cổ tài trợ!


Dù sao thì nghề khảo cổ vẫn là nghề Cực & Hay!

Lâm Thị Mỹ Dung







Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009

Tính đặc sắc Nam Bộ và truyền thống văn hóa Việt Nam qua một dòng tôn giáo

Ðặng Thế Ðại
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13178&rb=0303

I. Nam Bộ - miền đất của tiếp xúc văn hóa, động lực đổi mới văn hóa cả nước
Khi nghiên cứu về Nam Bộ, dễ nhận thấy diện mạo văn hóa hết sức đặc sắc của Nam Bộ biểu hiện ra ở chỗ, một mặt, xuất hiện những hiện tượng, những đặc điểm riêng có ở Nam Bộ, không thấy ở bất cứ vùng miền nào, nhưng mặt khác, những hiện tượng, những đặc điểm ấy vẫn là sự tiếp nối, hơn nữa, còn là một sự tiếp nối làm sâu sắc, làm phong phú thêm truyền thống văn hoá Việt. Cái đặc sắc ấy là do Nam Bộ đi đầu trong tiếp xúc văn hóa, xét trong tương quan với cả nước. Ngay từ thời kỳ khai phá vùng đất mới này ở các thế kỷ XVII-XVIII, những truyền thống văn hoá Việt, Khmer, Hoa, Chăm, Ấn... đã gặp gỡ nhau, đan xen và hòa trộn nhau. Trong công cuộc tiếp xúc với văn hóa phương Tây ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nam Bộ cũng đi trước cả nước. Nhờ dẫn đầu về tiếp xúc văn hóa, Nam Bộ trở thành đầu tàu cho cả nước trong đổi mới văn hóa.
[1] Chính từ miền đất này, những cuộc cách tân đã khởi phát, sau đó lan ra cả nước: sản xuất hàng hóa lớn và thương mại quốc tế, văn học quốc ngữ, ăn uống (đồ Tây), mặc (âu phục), âm nhạc (tân nhạc, cải lương), nghề in và xuất bản, nghề báo... Đó là những lĩnh vực quan trọng làm thay đổi cách nghĩ, cách cảm của cả dân tộc. Ngày nay, Nam Bộ cũng đang dẫn đầu công cuộc Đổi mới và tái hội nhập của đất nước với thế giới. Đánh giá về ý nghĩa to lớn của công cuộc khai phá Nam Bộ đối với sự phát triển của Việt Nam, Li Tana, một nhà Việt Nam học nổi tiếng, Giáo sư Đại học Quốc gia Australia, viết:
“Những trải nghiệm của việc mở rộng biên giới về phía nam này có vẻ như đặt vấn đề về hình ảnh của một Việt Nam rất khác so với vùng lãnh thổ phía bắc khi đó, mở ra cánh cửa đến một thế giới khác, thế giới mà trong đó sự đa dạng được chấp nhận và tận dụng cho sự phát triển của chính Việt Nam”; “Đàng Trong trở thành đầu tàu thay đổi mang tính lịch sử, và kéo trọng tâm quốc gia – dù là được nhìn theo nghĩa chính trị, kinh tế hay thậm chí văn hoá – về hướng nam từ thế kỷ 17 cho đến khi người Pháp áp đặt sự cai trị”; “Thử nghiệm của nhà Nguyễn đã mở ra một cánh cửa phát triển khác cho Việt Nam... Cuối cùng cánh cửa này bị đóng lại khi mà trật tự trở thành một quan ngại xã hội to lớn của triều Nguyễn sau năm 1802”
[2] .
Như vậy, công cuộc khai phá Nam Bộ xét về mặt văn hóa đã mở cho cả dân tộc con đường trở về với Đông Nam Á cội nguồn, đồng thời cũng là con đường đến với thế giới. Ðiều này vô cùng quan trọng, vì nhiều thế kỷ trước đấy, thế giới với người Việt Nam chỉ là Trung Hoa. Và Nam Bộ lẽ ra đã có thể đưa cả nước vào con đường cách tân và hiện đại hóa sớm hơn rất nhiều nếu không ít cơ hội lịch sử không bị bỏ qua chỉ vì triều đình nhà Nguyễn khư khư ôm giữ những giáo điều cổ hủ, sợ sự thay đổi có thể đe dọa đến địa vị thống trị của một nhóm nhỏ chóp bu. Ngày nay, Nam Bộ đang đi tiên phong trong tiếp xúc văn hóa hẳn sẽ đóng vai trò to lớn xứng đáng của nó trong công cuộc hiện đại hóa của dân tộc. Về mặt tôn giáo cũng không phải ngoại lệ, Nam Bộ trở thành nơi khởi phát của phong trào chấn hưng Phật giáo nửa đầu thế kỷ XX, là nơi nảy sinh và phát triển các phong trào tôn giáo lớn theo xu hướng cách tân và mang đậm dấu ấn địa phương như Bửu Sơn Kỳ Hương, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo. Các hiện tượng này chính là những đối tượng thích hợp nhất cho những phân tích nhằm lý giải vì sao những truyền thống văn hóa có gốc gác khác nhau có thể kết hợp được với nhau nhuần nhuyễn đến như vậy. Công việc đó chẳng những góp phần giúp ta hiểu thêm về con người và văn hóa Nam Bộ, hiểu thêm sức mạnh của truyền thống văn hóa Việt, đồng thời còn gợi cho chúng ta suy nghĩ thêm về con đường hội nhập với thế giới hôm nay.
II. Dòng tôn giáo đạo lý Nam Bộ Một trong các hiện tượng tôn giáo đặc sắc ở Nam Bộ là sự xuất hiện của các ông đạo: liên tục ít ra là từ đầu thế kỷ XIX đến nay, trên khắp miền đất này, đặc biệt là vùng biên giới tây nam giáp Campuchia, nơi có dãy Thất Sơn huyền bí, người ta thấy đây đó có những tu sĩ với cách tu khác lạ, lối hành xử kỳ quái, vừa chữa bệnh vừa giảng đạo. Mỗi ông có ít thì vài chục, nhiều thì vài trăm tín đồ. Dân chúng thường gọi họ là “ông đạo” - một cách gọi có tính địa phương độc đáo như bản thân hiện tượng này. Nhưng phải từ 1849, với sự xuất hiện của một ông đạo có tầm ảnh hưởng vượt trội, Phật Thày Tây An, tên thật Đoàn Văn Huyên, pháp danh Minh Huyên (1807-1856), người ta mới thấy định hình một dòng tôn giáo riêng biệt, một sản phẩm Nam Bộ đặc sắc. Giáo phái Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông lập ra đã được các đại đệ tử của ông như Đạo Thành (Đức Cố Quản), Đạo Xuyến, Đạo Sang, Đạo Lập, Đạo Chợ, Đạo Sĩ, Đạo Ớt, Đạo Ngoạn, Đạo Kiết, Đạo Đọt, Tăng Chủ, Đình Tây, Ba Thới, Bà Năm Chòm Dầu, Hai Lãnh... duy trì và phát triển sâu rộng ở miền tây Nam Bộ, trở thành cơ sở xã hội cho nhiều phong trào tôn giáo sau này. Ngày nay, Bửu Sơn Kỳ Hương vẫn có sức sống bền bỉ trong một bộ phận nhỏ dân chúng Nam Bộ và tôn giáo này đã được Nhà nước chính thức cho đăng ký hoạt động. Đặc biệt, có những ông đạo được tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn sùng như Phật sống, coi là hậu thân của Phật Thày Tây An như Phật Trùm, Đức Bổn Sư, Sư Vãi Bán Khoai. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo cũng tin rằng Đức Huỳnh Giáo chủ của họ là hậu thân của Ngài. Phật Trùm (được dân chúng gọi như vậy vì ông tuyên bố mình là Trùm - người đứng đầu, được Phật cử xuống trần giáo hoá dân chúng), vốn là người Khmer, sau lần ốm chết đi sống lại, bỗng biết nói tiếng Việt thành thạo, biết chữa bệnh (bằng cách đốt sáp ong cho người bệnh ngửi nên còn được gọi là ông Đạo Đèn), hành đạo tại núi Cấm khoảng những năm 1868-1875, cấp lòng phái (giấy chứng nhận tín đồ) có in chữ son Bửu Sơn Kỳ Hương. Đức Bổn Sư là danh hiệu dân chúng tôn sùng Ngô Lợi (hành đạo từ 1867, mất 1890). Ông lập ra giáo phái Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, dẫn tín đồ lên vùng núi Tượng (Tịnh Biên, An Giang) khai hoang lập làng. Ở nơi đây, giáo phái của ông vẫn được duy trì cho đến nay và cũng đã được Nhà nước chính thức công nhận. Sư Vãi Bán Khoai (không rõ họ tên), với vẻ ngoài nửa đàn ông, nửa đàn bà nên được gọi là “sư vãi”, thường lang thang trên một con thuyền nhỏ, vừa bán khoai vừa giảng đạo. Người ta cho rằng ông hành đạo chỉ trong khoảng 2 năm 1901-1902, nhưng cuốn Sấm giảng người đời ông để lại đã có ảnh hưởng lâu dài trong tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Bước sang nửa đầu thế kỷ 20, dòng chảy tôn giáo này vẫn không bị gián đoạn với Đạo Trần ở Long Hải (Bà Rịa – Vũng tàu), Đạo Dừa (Nguyễn Thành Nam) ở Cồn Phụng (Bến Tre), Đạo Khùng ở Cao Lãnh (Đồng Tháp), Đạo Nổi (Trần Văn Thế), Đạo Sáu (Mai Văn Ba), Đạo Tưởng (Lâm Văn Quốc), Đạo Đèn (Mai Văn Hương) cùng ở An Giang... Và đỉnh cao của chuỗi các ông đạo ở thế kỷ XX là ông Huỳnh Phú Sổ (1920-1947), còn gọi là Đạo Tư hay Đạo Xển. Phật giáo Hòa Hảo do ông khởi xướng năm 1939 đã phát triển thành một tôn giáo lớn có hàng triệu tín đồ trên khắp miền biên giới Tây Nam, nhất là ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp. Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo trước 1975 từng có lúc có ảnh hưởng nhất định trên chính trường Miền Nam. Từ 1999, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tái lập đã được Nhà nước chính thức công nhận. Sau năm 1975 vẫn tiếp tục xuất hiện những nhân vật muốn lập đạo (Đạo Vạc ở Bến Tre là một ví dụ). Nhưng cách chữa bệnh bằng bùa phép, bằng chân nhang, giấy vàng… là bất hợp pháp, chính quyền buộc họ phải trở về với đời sống bình thường. Mặc dầu vậy, ngày nay về miền Tây, đôi khi ta vẫn nghe nói đến những ông (hay bà) nào đó làm một vài cái cốc (chòi, lều) trong núi, trong đầm lầy để sống biệt lập, vừa tu tập vừa làm thuốc chữa bệnh. Trên đây mới chỉ nhắc đến một số nhỏ các ông đạo, còn rất nhiều ông (hay bà) khác, hành đạo lặng lẽ, hòa vào đời sống dân chúng, để rồi bị quên lãng theo thời gian, nhưng tất cả đã cùng nhau tạo thành một dòng tôn giáo đặc sắc ở Nam Bộ mà Tạ Chí Đại Trường có lẽ là người đầu tiên định danh cho nó là dòng tiên tri Nam Bộ.
III. Bản chất: sự tiếp tục của truyền thống Việt
1. Trước tiên có thể nói rằng không khó để nhận ra những nét chung của các ông đạo: đa số là những người thuộc tầng lớp bình dân - “điều ghi nhận trước nhất của ta là một ông đạo phải ở vào vị thế bình dân, gần gũi với xóm làng”
[3] , nhưng có hiểu biết, có học ít nhiều, một vài trường hợp thuộc tầng lớp cao nhưng có đời sống gắn bó với những người nghèo khổ. Hầu hết các ông có vai trò lớn trong việc chiêu dân lập ấp, khai hoang mở đất. Tất thảy các ông đều có cách sống kỳ quặc, đều biết chữa bệnh (bằng thuốc nam hay bằng phù chú), đều kết hợp chữa bệnh với răn dạy đạo đức, khuyến thiện. Hơn nữa, các ông nói chung đều thích giảng đạo bằng cách nói thơ (nói có vần). Nói thơ đem lại một hình thức khác thường cho lời nói. Chẳng hạn, nếu nói “người tu hành cần phải sống hiền lành, giữ hoà thuận vợ chồng, chăm bố thí” thì người ta không chú ý, nhưng nếu nói “tu là tâm trí nhu mì, tào khang chồng vợ ấy thì là tu” hay “chuyện tu chẳng khó ở đâu, lấy câu bố thí làm đầu rất nên”, lại thoát ra từ miệng một người được kính trọng, có dáng vẻ kỳ bí, cách sống lập dị, cử chỉ khó hiểu thì hiệu quả khác hẳn, và rất dễ nhập tâm, đọc lại cho nhau nghe.
2. Điều bộc lộ rõ ở dòng các tôn giáo này là tính chất địa phương cũng như màu sắc Phật giáo. Tuy nhiên, cũng không khó nhận thấy trong tư tưởng giáo lý và cách thực hành của chúng có cả các yếu tố Đạo giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng dân gian. Vậy bản chất của dòng tôn giáo này là gì? Đề cập đến điều này, các nhà nghiên cứu cho đến nay đã sử dụng những khái niệm như tôn giáo cứu thế, Phật giáo cách tân, Phật giáo địa phương hoá, Phật giáo dân tộc hóa, tính trội Đạo giáo/Phật giáo... Trần Văn Quế, Giáo sư Ðại học Văn khoa Sài Gòn trước 1975, cho rằng “Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương và hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa quả thực là một hình thức của phái Thiền tông đem áp dụng cho dân tộc Việt”
[4] (các đoạn in nghiêng trong tiểu mục này do người trích nhấn mạnh). Nói về tứ ân (ân cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào và nhân loại), khái niệm căn bản trong giáo lý của dòng các tôn giáo này, bà Quách Thanh Tâm, Giáo sư Đại học Paris V, viết: “Bốn trọng ân này nguyên là khái niệm tứ ân của Phật giáo: ân phụ mẫu, ân quốc vương, ân Tam bảo, ân chúng sinh, đã được cụ thể hoá, Việt hoá, và còn có thể nói gần gũi hoá với quần chúng bằng cách đặt ân đất nước và ân cha mẹ ở hàng đầu” [5] . Một tác giả khác, Tiến sĩ Trần Hồng Liên, nhận định: “Về cơ bản, Bửu Sơn Kỳ Hương là một giáo phái Phật giáo, hay cũng có thể gọi là một đạo giáo gốc từ Phật giáo”; “qua giáo lý, Đoàn Văn Huyên đã có công lớn trong việc mang lại cho Phật giáo Nam Bộ một bản sắc riêng biệt mới mẻ, đầy sáng tạo, mang tính dân tộc cũng như đậm màu sắc địa phương”; “đã kế thừa được tinh hoa của Trúc lâm Yên Tử... đã phát triển tinh hoa đó lên đến đỉnh cao của tinh thần ‘Khế lý, Khế cơ’ trong Phật giáo và đã làm cho nó trở nên riêng biệt, đặc thù đến mức có ý kiến đã cho rằng đấy là một đạo giáo, một tôn giáo cứu thế” [6] . Nhận định trên của chị cho thấy tính chất không đơn giản của vấn đề: bản chất dòng tôn giáo này có thể là một hình thức phát triển rất cao của Phật giáo đến mức thành... một tôn giáo cứu thế (?). Tạ Chí Đại Trường, như trên đã nói, là người đầu tiên xem đây là một dòng tín ngưỡng riêng biệt:
“Không phải tất cả đều là Bửu Sơn Kỳ Hương nhưng danh xưng đó đã trở thành chính thức cho một dòng tín ngưỡng có căn cớ sâu xa của con người, có sắc thái địa phương sâu đậm, và truyền thống chống đối người Pháp của nó đã chuyển hướng một phần tính chất phi trần thế - vô chính phủ của nó vào một cứu cánh cao đẹp, cho nên nhiều tập họp, nhiều cá nhân hãnh diện mượn cái lý thuyết phức tạp được coi là của nó một cách mặc nhiên hay có ý thức... Còn ở mức độ ‘tuyên truyền’ thì thỉnh thoảng nơi này nơi nọ có những con người kỳ quái rao giảng về một thứ Long Hoa hội có khi không thành tên mà đủ sức gây xáo trộn một thời gian, một vùng, mang lại sự thành công cho họ từ cái tầm thường là miếng ăn miếng uống cho người này đến danh vọng giáo chủ lớn nhỏ cho người khác”
[7] .
Ông cũng đưa ra một nhận định như là một cách nhìn về bản chất của dòng tín ngưỡng này: “Cơ sở tư tưởng của ông đạo là Phật giáo có pha trộn, còn phương tiện hành đạo thường là của thày pháp”
[8] . Tôi nghĩ rằng nhận định ấy không phản ánh đặc điểm riêng của các ông đạo Nam Bộ vì nó còn có ở số đông các nhà sư Việt Nam mà nguyên cớ là tâm linh người Việt chịu ảnh hưởng pha trộn cả Phật, Lão, Nho. Vậy đâu là cái làm nên tính chất riêng biệt của của các ông đạo Nam Bộ, và sự pha trộn trong cơ sở tư tưởng của các ông đạo được thực hiện theo cách nào, nói cụ thể hơn là cái gì làm chất keo kết dính cho những thứ khác nhau ấy? Về khái niệm then chốt của dòng tôn giáo này – tứ ân, Tạ Chí Đại Trường viết:
“Chúng ta không nghĩ rằng Đoàn Minh Huyên đã rao giảng một thứ tứ ân như về sau người ta hiểu, nhưng dù được hiểu hợp lý là tứ ân như suy diễn từ kinh điển đạo Phật (?): ân phụ mẫu, ân quân vương, ân tam bảo, ân chúng sinh, thì nền tảng đạo được rao giảng nhấn mạnh vào đó cũng lưu giữ mầm mống quốc gia chủ nghĩa. Có điều tính chất này chỉ vượt khuôn khổ lý thuyết, trở thành sức mạnh hành động khi người Pháp có mặt ở Nam Kỳ và toàn Việt Nam sau đó”
[9] .
Rõ ràng, tính chất yêu nước là một khác biệt quan trọng nhất và nổi bật nhất của tứ ân trong Bửu Sơn Kỳ Hương với tứ ân của Phật giáo. Liên hệ với thời đại khủng hoảng và trào lưu tiên tri trên thế giới, Tạ Chí Đại Trường gọi hiện tượng các ông đạo Nam Bộ là “những hệ phái tôn giáo mang tính chất tiên tri ở Nam Kỳ” hay “dòng tiên tri tản mạn”, mà điểm khác biệt của nó là “khoác cái áo của một thứ Phật giáo đại thừa đã bị chuyển hoá” do những tiếp xúc Việt - Hoa lưu vong - Khmer bình dân
[10] . Trong Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt Nam Bộ (1867-1975), tác giả Đinh Văn Hạnh cho rằng đạo này là “một tôn giáo địa phương”, “tổng hợp, hoà đồng các hệ thống quan niệm cũng như các đối tượng thờ cúng của Phật, Nho, Lão, tín ngưỡng dân gian, truyền thống tạo nên sự phong phú, thăng bằng trong đời sống tinh thần và tâm linh của nông dân người Việt Nam Bộ” [11] . Tôi hiểu ông quan niệm đây là một loại tôn giáo tổng hợp (synthétique), chứ không phải hỗn hợp (syncrétique), và vì vậy, lẽ ra ông cần phải giải thích sự tổng hợp ấy được thực hiện theo cách như thế nào. 3. Mặc dù có những khác biệt, chủ yếu về mặt tổ chức đạo, cách thờ phụng, nhưng tinh thần giáo lý các tôn giáo này thực sự là một. Đó có lẽ là điều các nhà nghiên cứu đều đồng ý. Nguyễn Văn Hầu là người đầu tiên đã làm một sự đối chiếu những điểm căn bản giữa Sấm truyền (của Phật Thày Tây An) và Sấm giảng (của ông Huỳnh Phú Sổ, Giáo chủ đạo Hòa Hảo) để khẳng định một sự đồng nhất: “Đề cập đến trong Sấm truyền về tu quốc vương thủy thổ, tu hiếu hạnh, tu huệ và tu phước: Làm người tự giác tự minh Phật tiên mến tưởng thiên đình cũng thương Tu tâm tu tánh giữ thường Tu trong kinh giáo Phật đường truyền ra Tu tánh tu hạnh nết na Tu câu lục tự di-đà đừng quên Tu hiền hiếu nghĩa đôi bên, Tu cang tu kỉ gắng bền hiếu trung, Tu nhơn tu đức để lòng, Tu trao vóc ngọc lắm bùn đừng mang... Tu công bồi đắp miếu đàng Tu tài bố thí việc gian thì đừng Tu cầu thánh thọ thiên xuân Dân khương vật phụ khỏi oan cơ hàn Tu cầu vạn hải thiên san Hà thanh hưng vượng vạn bang thái bình Thần hôn lạy Phật đọc kinh Lạy thầy đức hóa tái sanh đạo màu Được Đức Huỳnh Giáo chủ cũng giảng giải tương tợ trong Sấm giảng quyển ba: Ai mà tu tỉnh chuyên cần Thương đời hết dạ cần lo Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì. Tu là tâm trí nhu mì, Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong. Tu cầu cứu vớt tổ tông Với cho bá tánh máu hồng bớt rơi Tu cầu cha mẹ thảnh thơi Quốc vương thuỷ thổ chiều mơi phản hồi Tu đền nợ thế cho rồi, Thì sau mới được đứng ngồi toà sen. Người tu phải lánh hơi men, Đừng ham sắc lịch lắm phen luỵ mình. Tu là sửa trọn ân tình Tào khang chồng vợ bố kình đừng phai... Tu cầu Đức Phật Như Lai, Cứu dân ra khỏi nạn tai buổi này Chữ tu chớ khá trễ chầy Phải trau, phải sửa nghe thầy dạy khuyên” [12] . Như vậy, Nguyễn Văn Hầu đã cho thấy định nghĩa về tu ở hai bậc thày sáng lập đạo ấy hoàn toàn giống nhau: tu là làm tròn trách nhiệm ở cuộc đời hiện tại, trước hết là trách nhiệm với người thân, với đất nước, đồng bào. Trong cuốn Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền, Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ viết:
“Toàn thể trong đạo chúng ta thuộc hạng tại gia cư sĩ học Phật tu nhân vậy. Sách xưa có câu: ‘Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên’ (muôn vạn quyển kinh của Phật Thánh Tiên đều dạy sự hiếu nghĩa làm đầu). Hôm nay, đã quy y đầu Phật tu niệm tại gia, ta hãy cố gắng vưng lời Thày Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu nghĩa. Đức Thày Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhân đệ tử rằng: muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân ta phải hi sinh gắng gổ mới mong làm trọn:
1. Ân tổ tiên cha mẹ;
2. Ân đất nước;
3. Ân tam bảo;
4. Ân đồng bào và nhân .loại”.
[13]
Đây thực sự là định nghĩa tín đồ cũng như con đường tu hành ở đạo Hoà Hảo nói riêng, ở cả dòng tôn giáo này nói chung. Trước hết, điểm độc đáo của nó là tách cư sĩ, một bộ phận của tăng già (gồm tăng ni và cư sĩ) thành một tôn giáo độc lập, và quan trọng hơn, thành một con đường tu hành riêng: “Học Phật tu nhân”. Học Phật tu nhân không phải là người cư sĩ tu tại gia trong khi vẫn sống như người bình thường, hàng ngày dành một thời gian để tụng kinh niệm Phật. Học Phật tu nhân ở đây là học Phật để mà tu nhân, là tu nhân theo con đường Phật dạy, là thực hành đạo làm người theo tinh thần Phật giáo. Tu nhân là mục đích. Người cư sĩ trong khi vẫn làm ăn sinh sống, có gia đình con cái... như những người bình thường, nhưng có một điều khác: họ coi chính sự sinh hoạt bình thường ấy là tu hành, lấy ngay đời sống bình thường làm đời sống tu hành, và vì vậy, mọi hành xử trong đời sống đều là tu, phải hành xử theo tinh thần của đạo Phật. Đây là sự phát triển một quan niệm rất tích cực vốn có trong nhân dân ta, là tu tại gia và tu chợ: “Thứ nhất là tu tại gia, Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa”. Quần chúng không thể dễ dàng tiếp nhận phần giáo lý cao siêu của Phật giáo được, nhưng ai cũng có thể thực hành theo tinh thần giáo lý Phật giáo ngay trong đời thường của mình: trong làm ăn sinh hoạt, trong ứng xử hàng ngày, trong quan hệ với mọi người gần gụi quanh mình, đó là tu nhân đạo (thực hành đạo lý làm người): “Hồng trần biển khổ thấy rồi, Rán tu nhơn đạo cho tròn mới hay”
[14] . Như vậy, linh hồn của “Học phật tu nhân” là tu nhân, biểu hiện tập trung nhất ở tứ ân. Nói như Phật Thày Tây An, tứ ân là tông môn: “Kính Trời, kính Đất, Thần minh, Tông môn phụng sự giữ toàn Tứ ân” [15] . Ân nghĩa vốn vẫn là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam. Do đó, tinh thần của pháp môn “học Phật tu nhân” thể hiện tính nhập thế rất rõ ràng. Khi người ta lấy việc trả tứ ân làm đầu, lấy thực hành đạo lý làm phương thức tu hành thì điều đó là tất nhiên: “Tu đền nợ thế cho rồi, Thì sau mới được đứng ngồi toà sen” [16] . Cần phân biệt tứ ân ở dòng các tôn giáo này với tứ ân của Phật giáo: Trước hết, thái độ đối với đất nước là điều hoàn toàn không có trong tứ ân Phật giáo. Đối với Phật giáo, không có sự phân biệt Tổ quốc, dân tộc, nòi giống, thậm chí, không có sự phân biệt chúng sinh. Các tín đồ Phật giáo Việt Nam yêu nước vì họ là người Việt Nam chứ không phải vì là tín đồ Phật giáo. Nghĩa vụ với đất nước, với dân tộc vốn là một trong những đạo lý sống hàng đầu của con người Việt Nam. Đưa nó thành nội dung cơ bản của giáo lý là điều chỉ có ở dòng tôn giáo này, đó cũng chính là cái làm nên bản chất khác biệt của nó. Thứ hai, tứ ân không có vai trò quyết định trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Tương tự, các yêu cầu về đạo đức, về lối sống trong các tôn giáo khác cũng vậy. Nhưng ở dòng các tôn giáo Nam Bộ thì đạo lý trở thành linh hồn của giáo lý, tứ ân là trung tâm, trở thành Tông môn. Như vậy, về thực chất, tư tưởng và ngôn từ của Phật giáo (và cả Nho giáo, Đạo giáo) ở đây chỉ là còn là thân xác chứa đựng một nội dung tinh thần khác, đó là đạo lý sống của con người Việt Nam đã hình thành qua lịch sử hàng ngàn năm. Do vậy, ta thấy tu nhân chính là sự thống nhất ở tất cả các ông đạo. Không thấy điều này, sẽ dẫn đến tách học Phật tu nhân thành hai phần, hay hai nguyên lý học Phật riêng, tu nhân riêng, rồi nhận thấy các tôn giáo trong dòng này đều chỉ coi trọng tu nhân, nên cho rằng vì học Phật khó quá nên tu nhân càng về sau càng trở thành chính yếu (chẳng hạn, Đinh Văn Hạnh nói về Đạo Trần: “Nếu như nguyên lý tu nhân của Tứ Ân Hiếu Nghĩa được cụ thể hoá và chứng minh bằng những câu chuyện ca ngợi tấm gương trung nghĩa thì trái lại nguyên lý học Phật không được ông Trần truyền dạy đầy đủ cho tín đồ” [17] , và giải thích điều đó là vì ông Đạo Trần ít chữ. Tác giả còn đi đến một khẳng định không có căn cứ: “Tất nhiên, giữa hai nguyên lý tu nhân và học Phật thì Đức Bổn Sư yêu cầu bắt buộc đối với tu nhân, còn đối với học Phật thì ông chỉ khuyên tín đồ nên làm” [18] ). Chỉ có hiểu “học Phật tu nhân” là một nguyên lý, trong đó tu nhân là cái đích, là bản chất, thì mới hiểu được vì sao nhiều ông đạo, không chỉ ông Đạo Trần như Đinh Văn Hạnh nhận xét, hầu như không nhắc đến những giáo lý của Phật giáo mà chỉ rao giảng về tu nhân, về đạo đức, và quan trọng hơn, mới hiểu được vì sao giáo lý của các tôn giáo này chứa đựng cả những nhân tố của Phật, Lão, Nho, cả những quan niệm dân gian, khi mà tất cả những thứ khác nhau này đều có thể gặp gỡ nhau trong việc giáo huấn con người. Trở lại với quan điểm của Tạ Chí Đại Trường, tuy ông nhấn mạnh tính chất tiên tri của dòng tôn giáo này, nhưng ông cũng phải thừa nhận, chính đạo đức mới là đặc điểm nổi bật nhất:
“Một ông đạo tuy có ứng xử kỳ quái riêng biệt, nhưng bao trùm hơn hết phải là một khuôn mặt đạo đức (người trích nhấn mạnh) - hay có dáng hiền lành đạo đức. Cho nên, tuy một thày pháp có đem lý thuyết độ người của Phật giáo ra làm cho bùa phép kiến hiệu hơn thì cũng chưa trở thành ông đạo nếu không tách dần bùa phép để thay thế bằng ngôn từ đạo đức dẫn dụ”
[19] .
Cái mà ông gọi là Phật giáo pha trộn ấy, có nghĩa là nó không phải là Phật giáo đích thực, hay nếu xét dưới tiêu chí Phật giáo thì nó không thành một hệ thống thống nhất. Nhưng nếu ta xét nó dưới tiêu chí đạo lý, lấy tu nhân - tứ ân làm cốt lõi, thì sẽ thấy dưới cái vẻ ngoài pha trộn ấy thực sự có một nền tảng thống nhất trong toàn bộ giáo lý cũng như sự thực hành tôn giáo của nó. Tư tưởng và ngôn từ Phật giáo (và cả Lão giáo, Nho giáo) được vận dụng để diễn đạt cái đạo lý làm người của người Việt và khuyến cáo người ta thực hành nó. Ma thuật cùng hành động kỳ quặc hay lối nói thơ đều chỉ là phương tiện truyền bá của nó. Tính chất chống Pháp của nó bắt nguồn từ bản thân đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam chứ không phải vì bản chất của nó là vô chính phủ - chống đối như Tạ Chí Đại Trường nhận định. Tính chất tiên tri hay cứu thế của nó chẳng qua thể hiện khát vọng về một đời sống trần tục tốt đẹp hài hòa, cảnh báo và nhắc nhở con người phải sống theo đạo lý. Tính chất tiên tri ấy có ở mọi tôn giáo, không phải đặc điểm riêng của dòng tôn giáo này, chẳng qua, ở Nam Bộ, do những điều kiện địa phương nhất định, trước hết là những tiếp xúc Hoa - Việt, nó khoác cái áo Long Hoa hội mà thôi. Tóm lại, cái làm nên sắc thái độc đáo ở dòng tôn giáo này, tạo thành chất keo kết dính cho sự tổng hợp những nguồn tư tưởng khác nhau, chính là đạo lý làm người truyền thống của người Việt. Với suy nghĩ như vậy, tôi gọi đấy là dòng tôn giáo đạo lý Nam Bộ. 4. Trong một bài viết trước đây, chúng tôi đã nêu một cách lý giải về hiện tượng đề cao đạo lý ở Nam Bộ, mà theo tôi, có gốc gác từ nhu cầu tổ chức đời sống cộng đồng lưu dân Việt buổi đầu khai phá Nam Bộ:
“Công cuộc khai phá đồng bằng Nam Bộ buổi đầu mang tính chất tự phát, thiếu luật lệ, thiếu sự tổ chức và quản lý của triều đình trung ương, trong những điều kiện gian khổ chống chọi với thiên nhiên, đã xác lập vai trò của những cá nhân mạnh, những thủ lĩnh vùng, những anh Hai, những người có khả năng chiêu dân lập ấp, tổ chức sản xuất, tổ chức cuộc sống cộng đồng, giải quyết các tranh chấp... Trong điều kiện không có luật lệ và tự phát thì đạo lý làm người và uy tín của cá nhân là cái thay thế (phải chăng đây là một trong các lý do giải thích tính cách con người Nam Bộ thẳng thắn, trọng nghĩa khinh tài, cũng như vai trò rất lớn của các cá nhân trong các phong trào quần chúng ở Nam Bộ sau này)...”
[20] .
Theo chúng tôi, chính cái hoàn cảnh, trong đó đạo lý làm người có một vị trí đặc biệt, có ý nghĩa quyết định sự sinh tồn của những người đi khai hoang mở đất, đã làm xuất hiện một dòng tôn giáo độc đáo, mà đặc trưng nổi bật làm nó khác với tất cả các tôn giáo khác, là ở chỗ đã nâng đạo lý làm người truyền thống của người Việt lên thành nội dung chủ yếu của giáo lý, thành pháp môn, thành phương thức tu hành, hay cũng có thể nói, đạo lý làm người đã được tôn giáo hóa. Và do vậy, là một hiện tượng đặc sắc riêng có của miền đất Nam Bộ, nhưng dòng các tôn giáo này vẫn là sự tiếp tục của truyền thống văn hoá Việt, hơn nữa, góp phần phát triển và làm phong phú truyền thống ấy trong sự tiếp xúc với các truyền thống văn hóa khác. Trên bình diện văn hóa dân gian Nam Bộ nói chung, nhiều nhà nghiên cứu, từ các cách lý giải khác, cũng đã chỉ ra đặc điểm ấy, xin mượn một trong các ý kiến của họ để kết thúc bài viết này:
“Từ đầu thế kỷ XVII, nhiều đoàn lưu dân đã đến vùng này để mở đất, khai hoang, lập nghiệp. Hành trang vật chất của họ khá đơn giản: cuốc, rựa và một vài món vũ khí, một ít lương thực và đồ dùng. Thậm chí không ít người chỉ có hai bàn tay trắng. Trong tình hình đó hành trang tinh thần của họ quý giá biết bao! Đánh mất cái hành trang tinh thần này có lẽ họ đành bó tay chịu chết. Đó là những đạo lý làm người (người trích nhấn mạnh), trong đó phần đạo lý thánh hiền (trung, hiếu, tiết, nghĩa) đã được cảm nhận một cách chất phác theo kiểu dân gian. Đó cũng là cái vốn kinh nghiệm ở đời (“một cây làm chẳng nên non...”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, “bầu ơi thương lấy bí cùng...”, “lá lành đùm lá rách”, “ơn đền nghĩa trả”, “ân oán phân minh”...), và một quyết tâm đương đầu với mọi khó khăn, cố gắng chịu đựng, ra sức bươn chải để được sống còn”
[21] . “Vậy là, nhìn lại những hằng số của văn hoá dân gian Việt triển khai nơi vùng đất mới phía Nam, ta thấy vừa có cái gì gần gụi với chất văn hoá Việt nơi vùng đất sinh tụ lâu đời, lại vừa có những nét biến thái đáng kể, như là một cống hiến văn hoá bổ sung độc đáo của vùng sinh tụ mới. Nói cách khác, nhìn từ góc độ văn hoá, người ta thấy ở đây đang vận động một mối quan hệ biện chứng hết sức lý thú giữa cái chung và cái đặc thù, làm tượng hình nên một thực thể văn hoá dân gian vừa rất Việt Nam lại vừa rất là Nam Bộ!” [22] .

[1]Tôi tin rằng tiếp xúc văn hóa cần cho sự phát triển của dân tộc Việt như khí trời cần cho sự sống. Nhờ có tiếp xúc với các nền văn hóa khác, người Việt phải nhìn lại chính mình, đánh giá lại mình, và đó là bước khởi đầu cho sự đổi mới.
[2]Li Tana, “An Alternative Vietnam? The Nguyen Kingdom in the 17th and 18th Century”, Journal of Southeast Asian Studies, 3-1998. Dẫn theo bản dịch của Lê Quỳnh, “Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18”. Nguồn: talawas, 26-7-2005.
[3]Tạ Chí Đại Trường, Thần, Người và Đất Việt, Văn Nghệ, California, 1989, tr.335.
[4]Hà Tân Dân, Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tủ sách Sưu khảo Sử liệu, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương. “Lời giới thiệu” của Trần Văn Quế.
[5]Phật giáo và con người Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX, Nghiên cứu Tôn giáo, số 6-2002, tr. 38.
[6]Phật Giáo Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 1975, nxb. TP Hồ Chí Minh, 1996, tr. 25.
[7]Tạ Chí Đại Trường, Sđd., tr. 334.
[8]Tạ Chí Đại Trường, Sđd., tr. 336.
[9]Tạ Chí Đại Trường, Sđd., tr. 327.
[10]Tạ Chí Đại Trường, Sđd., tr. 323.
[11]Đinh Văn Hạnh, Nxb Trẻ, TP HCM, 1999, tr. 290, 293.
[12]Sấm truyền Đức Phật Thầy Tây An do Nguyễn Văn Hầu biên khảo, phiên âm, chú thích, Ban Quản tự Tòng Sơn cổ tự và Ban Chẩn tế Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo xuất bản năm 1973, tr. 70-72.
[13]Sấm giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo, 1969, tr. 131-132.
[14] Sấm giảng..., Sđd, tr. 28.
[15]i>[1] Sấm truyền..., Sđd, tr. 109.
[16]Sấm truyền…, Sđd, tr. 71.
[17]Đinh Văn Hạnh, Sđd, tr. 137.
[18]Đinh Văn Hạnh, Sđd, tr. 143.
[19]Tạ Chí Đại Trường, Sđd, tr. 336.
[20]Một nét đặc sắc của văn hoá và tôn giáo Nam Bộ: sự đối lập và sự tương đồng giữa Đạo Cao Đài và đạo Hoà Hảo, Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 (02) - 1999.
[21]Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh, Văn hoá dân gian người Việt ở Nam Bộ, KHXH, Hà Nội, 1992. Phần trích thuộc chương V - Phong tục tập quán của người Việt ở Nam Bộ - do Hồ Lê biên soạn, tr. 104-105.
[22]Thạch Phương..., Sđd., tr. 18.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, số 58 (tháng 4, 2008)

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

BỐI CẢNH ĐÔNG NAM Á VÀ ĐÔNG NAM Á THỜI TIỀN SỬ (4)

I.4.6. Thời đại kim khí ở Đông Nam Á: Những cộng đồng cư dân nông nghiệp phát triển

Một điểm cần lưu ý khi nghiên cứu vấn đề này là ranh giới giữa thời đại đá mới và thời đại kim khí không rõ ràng và trong nhiều trường hợp không thể tách bạch được. Trong một số trường hợp chúng ta thấy các nhà nghiên cứu dùng cách gọi hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí để chỉ những địa điểm mà trình độ tuy đã đạt đến thời đại kim khí, nhưng vẫn gặp nhiều di vật đá mới. Thời điểm xuất hiện của đồ sắt cũng không cụ thể, ở một số khu vực như miền bắc Việt Nam, miền đông bắc Thái Lan… chúng ta đã chứng minh được sự tồn tại của một thời đại đồ đồng trước thời đại đồ sắt. Nhưng ở Đông Nam Á hải đảo và một số nơi khác của Đông Nam Á lục địa, gần như hai kim loại này xuất hiện song song với nhau. Miền Trung Việt Nam cũng vậy, đồ sắt chỉ xuất hiện sau đồ đồng một thời gian rất ngắn.
Cho tới nay chúng ta đã có những phát hiện rất quan trọng về sự phát triển liên tục của thời đại kim khí ở Đông Nam Á lục địa, đặc biệt là ở Bán đảo Đông Dương và Thái Lan. Thời kỳ này cũng được đánh dấu bằng sự khu biệt và phân hoá văn hoá thành những trung tâm lớn có mức phát triển tương đồng nhưng khác biệt và những vùng, biên / ngoại vi. Giao lưu nội vùng, liên vùng thực sự đóng vai trò rất quan trọng trong sự định hình vị thế và vai trò của mỗi trung tâm và sức lan toả các đặc trưng văn hoá.
- Ba trung tâm thời đại kim khí Việt Nam: Cách đây khoảng bốn nghìn năm, các nhóm cư dân cổ sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ lưu vực sông Hồng cho đến lưu vực sông Đồng Nai đã bước vào thời đại kim khí.
Thời kỳ này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại ba trung tâm văn hoá lớn là Đông Sơn (miền Bắc), Sa Huỳnh (miền Trung) và Đồng Nai (miền Nam).
Văn hoá Đông Sơn (cả giai đoạn tiền Đông Sơn) được coi là cốt lõi văn hoá của người Việt cổ, giai đoạn này được coi là thời gian hình thành bản sắc văn hoá Việt cổ.
Văn hoá Sa Huỳnh (cả giai đoạn tiền Sa Huỳnh) được coi là tiền nhân tố của người Chăm và vương quốc Champa.
Văn hoá Đồng Nai (cả giai đoạn đồng và sắt) lại là một trong những cội nguồn hình thành văn hoá Óc Eo của cư dân thuộc nhóm Mã Lai - Đa Đảo và có thể thuộc các nhóm khác nữa sinh sống vào những thế kỷ sau Công nguyên ở vùng Đông và Tây Nam Bộ.
- Tiền Đông Sơn và Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam: Quá trình kế thừa, thống nhất và kết tinh hoá văn hoá: Trong thời đại đồng thau ở miền bắc Việt Nam, đặc điểm văn hóa địa phương còn khá rõ ràng. Miền Bắc Việt Nam là một vùng địa lý có những dạng địa hình khác nhau và lại có tính chất tiếp xúc rộng, mạnh, đó là nguyên nhân và lý do dẫn đến nơi đây là địa bàn của nhiều văn hoá, nhiều tộc người. Bước vào thời đại đồng thau, với sự mở đầu của 4.000 năm văn hiến, trung du và vùng châu thổ sông Hồng có Phùng Nguyên, miền ven biển đông bắc có Hạ Long, miền ven biển Thanh Hoá có Hoa Lộc, miền ven biển Nghệ Tĩnh - Bình Trị Thiên có Bàu Tró... với những loại hình công cụ đá, những kiểu dáng và hoa văn gốm khác nhau... biểu hiện những bộ mặt địa phương văn hoá khác nhau và tộc thuộc khác nhau. Giữa các khu vực văn hoá địa phương này có sự giao lưu tiếp xúc và đan xen văn hoá. Lại có sự giao lưu giữa những nhóm cư dân này với cư dân và văn hoá các miền chung quanh trong khu vực Đông Nam Á và cả Nam Trung Quốc - lúc bấy giờ còn là mảnh đất phi Hoa (và thường được giới nghiên cứu hiện nay quan niệm là thuộc không gian văn hoá Đông Nam Á lúa nước).
Cư dân Tiền Đông Sơn là cư dân trồng lúa nước, họ đã biết chăn nuôi một số gia súc như trâu, bò, lợn, gà... Làng mạc giai đoạn này có diện tích rộng và tầng văn hoá dày. Bên cạnh nơi cư trú hay trong khu cư trú là các di chỉ mộ táng. Đã hình thành các làng nghề, chuyên sản xuất một loại hình công cụ hay đồ trang sức. Những nơi cư trú này thể hiện sự phát triển văn hoá liên tục giữa các giai đoạn, nối tiếp và kế thừa nhau.
Khuôn đúc đồng và rìu đồng ở địa điểm Thành Dền, trung kỳ đồng thau: Cư dân văn hoá thời đại đồng thau miền bắc Việt Nam có đời sống tinh thần phong phú. Điều đó thể hiện trong tư duy và sáng tạo nghệ thuật của họ. Đặc biệt, họ đã làm chủ được nghệ thuật nhịp điệu trong ca múa, biểu hiện tính đối xứng chặt chẽ của các mô típ hoa văn trang trí đồ gốm. Họ biết tới nhiều dạng đối xứng khác nhau. Điều này cho thấy sự phát triển nhận thức hình học và tư duy chính xác nhờ hoạt động sản xuất nông nghiệp và kỹ thuật chế tác đá, đúc đồng...
Vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên, các nền văn hoá bộ lạc mất dần tính địa phương tiến tới chỗ hoà chung vào một nền văn hoá thống nhất- văn hoá Đông Sơn. Đó là lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại trong một quốc gia: nước Văn Lang. Tính thống nhất văn hoá được thể hiện rõ trên một vùng rộng lớn từ biên giới Việt - Trung cho đến bờ sông Gianh Quảng Bình, mặc dù theo các nhà khảo cổ học, nhà nước này vẫn có những dáng hình địa phương. Nhưng có thể thấy rằng phạm vi phân bố của văn hoá Đông Sơn rộng nhất so với tất cả các văn hoá trước đó.
Sự thống nhất của văn hoá Đông Sơn vẫn là sự thống nhất trong đa dạng. Giới khảo cổ học Việt Nam đã nêu ra những loại hình địa phương của văn hoá Đông Sơn. Trên các vùng giáp ranh ở tây bắc, văn hoá Đông Sơn tiếp xúc với văn hoá Tấn Ninh (văn hoá Điền); ở phía bắc, tiếp xúc với văn hoá Sở, Trường Sa, ở phía nam đèo Ngang (Quảng Bình), nó tiếp xúc với văn hoá Sa Huỳnh (văn hoá Chăm cổ - về sự tiếp xúc này ngày càng có nhiều chứng cứ khảo cổ học và sự lan toả của văn hoá Đông Sơn vào không gian thời gian của văn hoá Sa Huỳnh lớn hơn nhiều so với sự hình dung của giới nghiên cứu từ trước tới nay). Những sự tiếp xúc đó cũng góp phần tăng cường sắc thái địa phương của từng vùng. Nhưng tính thống nhất của Đông Sơn là nổi bật, là căn bản. Cái “mẫu văn hoá chung” hay nói theo thuật ngữ văn hoá học, cái phần “văn hoá tối thiểu” của thời đại Đông Sơn là rất lớn; được biểu hiện ở bộ công cụ, dụng cụ, vũ khí, nhạc khí, đồ trang sức, nghệ thuật chạm khắc, mô típ trang trí Đông Sơn: rìu lưỡi xéo, mũi dáo, dao găm, thạp thố, vòng tay, khuyên tai... và đặc biệt là trống đồng Đông Sơn (trống đồng loại I Heger).
Làng xóm thời kỳ này thường phân bố ở những nơi đất cao, thậm chí ở sườn núi hay trên những quả đồi đất... nhưng bao giờ cũng nằm gần các hệ thống sông lớn hay các chi lưu của chúng. Khoảng cách giữa làng và sông thường từ 1 đến 5 km...Việc chọn nơi cư trú như vậy cho thấy người Đông Sơn đã tìm cách tốt nhất để thích ứng với tự nhiên. Bởi lẽ, đất cao sẽ khô ráo mà lại tránh được ngập lụt vào mùa mưa. Làng thời kỳ này có quy mô tương đương với xóm hay làng nhỏ ngày nay, có chừng vài trăm người. Ngoài ra, còn thấy hiện tượng một số làng xóm nhỏ quy tụ thành một vài khu vực cư trú đông đúc. Đó là hiện tượng thường gặp đối với cư dân nông nghiệp ở những vùng đồng bằng phì nhiêu.
Có lẽ do hiện tượng chiến tranh đã trở nên thường xuyên (thể hiện trong truyền thuyết, trong tỉ lệ cao của các loại vũ khí, đồ dùng cho binh lính - tỉ lệ vũ khí đồng thau chiếm từ 1/3 đến quá 1/2 toàn bộ đồ đồng ở các di tích Đông Sơn tiêu biểu) nên chung quanh làng, có những vành đai phòng thủ, mà khả năng lớn là các luỹ tre làng. Công trình phòng thủ thực sự với hệ thống thành luỹ quy mô thời Đông Sơn ngày nay người ta mới chỉ biết đến có một, đó là thành Cổ Loa.
Tư liệu khảo cổ học về quy mô, cấu trúc nhà ở, mộ táng, kích thước đồ gốm gia dụng... cho thẩy trong xã hội Đông Sơn hình thành và tồn tại chủ yếu là những gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ, những gia đình này cũng là những đơn vị sản xuất cơ bản. Khi nông dân tăng tiến về dân số, nông nghiệp phát triển về vườn ruộng ao, chuồng trại, về cây trồng, gia súc và năng xuất (nhờ độ phì nhiêu của đất đai đồng bằng cùng kỹ thuật nông nghiệp phát triển) thì cũng có nghĩa là một hệ thống xóm làng đã phát triển, mô hình tổ chức tập hợp các gia đình hạt nhân (nhà tiểu nông), lan dần từ vùng cao xuống vùng thấp, trong những ngôi nhà biến hoá từ nhà sàn đến nhà đất bằng.
- Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam: Từ hội nhập đa nguồn đến hội tụ văn hoá: Trung tâm hay đỉnh cao của văn hoá thời đại kim khí Việt Nam ở miền Trung (từ Đèo Ngang đến Đồng Nai) được gọi theo tên một địa điểm khảo cổ học ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Đó là văn hoá Sa Huỳnh.
Văn hoá Sa Huỳnh tồn tại từ sơ kỳ thời đại đồng thau (trên 3.000 năm cách ngày nay) cho tới sơ kỳ thời đại sắt sớm (thế kỷ VI-VII trước Công nguyên đến thế kỷ I sau Công nguyên). Giai đoạn sớm được gọi là văn hoá Tiền Sa Huỳnh, giai đoạn muộn được gọi là văn hoá Sa Huỳnh. Văn hoá Sa Huỳnh thời đại sắt hay văn hoá Sa Huỳnh cổ điển là bắt nguồn từ những di tích tiền Sa Huỳnh với sự tham góp không nhỏ của các nguồn lực văn hoá ngoại sinh.
Vào thời gian cách đây trên 3.000 năm, tại những vùng đồng bằng nhỏ ven biển, trên các đảo và đảo ven bờ hay ở những gò đất cao ven sông, ven bàu nứoc ngọt, những nhóm cư dân kim khí sớm đã lập làng tụ cư. Trồng trọt đã có một vị trí nào đó trong đời sống kinh tế của họ, cuốc đá hình lưỡi mèo tìm thấy trong các địa điểm khảo cổ học thời kỳ này là chứng cử gián tiếp về thuần dưỡng cây trồng. Tuy vậy, do những quy đinh và tác động của điều kiện môi trường tự nhiên…, đánh bắt cá, khai thác thuỷ hải sản, khai thác rừng… vẫn là những hoạt động sống chính. Giai đoạn đầu công cụ đá đóng vai trò chủ đạo với các loại hình chính như rìu có vai, rìu tứ giác, bôn răng trâu, cuốc hình lưỡi mèo… Đồ trang sức đá không nhiều nhưng thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật chế tác và quan niệm thẩm mỹ tinh tế. Nhiều loại hình đồ đá tiếp tục được sản xuất và sử dụng trong các giai đoạn muộn hơn. Đồ gốm nổi bật với trang trí văn thừng, văn in mép vỏ sò, tô màu… Đa số đồ gốm đẹp được tìm thấy trong các khu mộ địa như Long Thạnh (Quảng Ngãi), Bàu Trám (Quảng Nam), Bãi Ông (Quảng Nam)… Có thể thấy yếu tố biển đóng vai trò quan trọng trong đòi sống vật chất và tinh thần của cư dân giai đoạn này. Táng thức chính của cư dân văn hoá Tiền Sa Huỳnh là mộ nồi, dạng mộ được coi là cổ típ cho những giai đoạn văn hoá sau. Mộ táng giai đoạn này thường được phát hiện ngay trong nơi cư trú.
Các di tích của văn hoá Sa Huỳnh giai đoạn sắt sớm phân bố trên một diện rộng ở hầu khắp các loại địa hình từ Thừa Thiên Huế đến khu vực Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh). So với văn hoá Tiền Sa Huỳnh giai đoạn trước, văn hoá Sa Huỳnh có sức lan toả rộng và mạnh hơn nhiều lần. Các địa điểm thời kỳ này thể hiện tính thống nhất văn hoá trong sự đa dạng mang đặc điểm môi trường sinh thái của từng khu vực địa lý, nhóm người và quan hệ văn hoá… Giai đoạn cuối của nền văn hoá này có những diễn biến và thay đổi văn hoá mang tính chất bước ngoặt.
Một đặc trưng tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh là hình thức mai táng dùng quan tài là nồi, vò, chum bằng đất nung suốt từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn. Tại một số địa điểm như Long Thạnh, Bàu Trám (Tiền Sa Huỳnh), Hậu Xá, Gò Mả Vôi, Bình Châu… (Sa Huỳnh), bên cạnh mộ chum còn thấy mộ đất, song không phổ biến.
Trên địa bàn phân bố của văn hoá Sa Huỳnh từ gò đồi phía Tây cho đến đồng bằng ven biển và hải đảo phía đông, đã phát hiện nhiều khu mộ - Những bãi mộ chum rộng lớn, đôi khi nhiều tầng lớp với những loại hình vò, chum mai táng hình cầu, hình trứng, hình trụ có kích thước từ vừa đến lớn và trong từng loại có những biến thể khác nhau.
Thông thường những chum mộ được tìm thấy ở dạng phân bố theo nhóm từ 2, 3 đến 4 chum. Tuy vậy ở một số khu mộ địa cũng thấy kiểu phân bố lẻ tẻ. Ở một số mộ địa Sa Huỳnh, thời gian chôn mộ diễn ra trong thời gian khá dài - một vài trăm năm, song hiếm có hiện tượng các mộ cắt phá nhau. Dựa vào đây có thể cho rằng, cư dân văn hoá này có cách thức riêng để đánh dấu các ngôi mộ sớm muộn trong cùng một khu vực địa lý. Những địa điểm văn hoá Sa Huỳnh đã được khai quật và nghiên cứu thường chỉ trong diện hẹp, chính vì vậy chưa có đủ dữ liệu để khái quát về cơ cấu, tổ chức xã hội, thân phận, tầng lớp… của những người chết. Tuy vậy, sự phân bố không đều về chất và lượng của đồ tuỳ táng phần nào thể hiện một xã hội có sự phân biệt về của cải và từ đó có khả năng cả thân phận. Giai đoạn cuối, những thế kỷ I - II trước, thế kỷ I sau Công nguyên, những tiếp xúc văn hoá mạnh mẽ với Trung Quốc (Hán), với miền bắc Việt Nam (Đông Sơn) và với các văn hoá khu vực khác nữa càng làm tăng thêm sự phân tầng trong xã hội và là cơ nền cho sự hình thành Nhà nước sơ khai theo kiểu Chiefdom, loại hình nhà nước điển hình của Đông Nam Á giai đoạn này.
Những chum mộ quan tài gốm chôn đứng thẳng, có nắp đậy hình nón cụt, hình lồng bàn, mâm bồng… thậm chí có thể là đáy của một chum khác được tái tận dụng. Đồ tuỳ táng đặt bên trong, bên ngoài, dưới đấy hay ngay trên nắp chum. Hiện tượng làm biến dạng đồ tuỳ táng thường hay gặp song không phải là quy luật bắt buộc cho tất cả các nơi. Bên cạnh đồ tuỳ táng, vết tích khác tìm thấy trong các chum này khá đa dạng. Có chum chứa than tro - được coi là vết tích hoả táng xác người, có chum chứa xương, răng trẻ con hoặc người lớn, cá biệt có khu vực như Cần Giờ, trong nhiều chum có nguyên những bộ xương người lớn. Nhiều nơi, chum chứa hoàn toàn là cát trắng. Hiện nay, có nhiều cách diễn giải táng thức của văn hoá Sa Huỳnh như hoả táng, cải táng, chôn thẳng, tượng trưng… Có lẽ, tất cả những diễn giải này đều có thể áp dụng tuỳ theo không gian và thời gian. Thông thường các chum mộ là chum đơn, song ở một vài địa điểm xuất hiện chum lồng, cá biệt có nơi đã phát hiện cả một quần thể chum lồng theo kiểu trong quan ngoài quách như ở Gò Dừa (Duy Xuyên - Quảng Nam).
Đồ tuỳ táng trong văn hoá Sa Huỳnh rất phong phú về chất liệu và đa dạng về loại hình. Chất liệu kim loại đồng, sắt, vàng, bạc, chất liệu thuỷ tinh nhân tạo, tự nhiên, chất liệu đá quý mã não, ngọc, cẩm thạch… đồ gốm có nhiều tiến bộ về kỹ thuật, đa dạng hình loại và nhiều kiểu thức đồ án trang trí. Đồ tuỳ táng bao gồm năm nhóm cơ bản. Đồ gia dụng, công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức và đồ minh khí.
Nổi bật nhất trong văn hoá Sa Huỳnh là bộ công cụ và vũ khí bằng sắt. Tại những địa điểm mộ chum Sa Huỳnh giai đoạn từ khoảng thế kỷ III - IV trước Công nguyên, đồ sát chiếm lĩnh về cả số lượng và chất lượng. Đồ sắt được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp rèn. Nếu thống kê các đồ sắt Sa Huỳnh đẫ được phát hiện đến nay thì số lượng lên tới hàng trăm chiếc, chủng loại đa dạng gồm rựa, dao quắm, giáo, mai, liềm, thuổng, kiếm ngắn, dao, qua… Đặt trong tương quan với các trung tâm văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc, văn hoá Đồng Nai ở phía Nam, số lượng và sự phổ biến rộng rãi của đồ sắt trong văn hoá Sa Huỳnh có nhiều trội vượt. Trong bộ sưu tập hiện vật sắt, nét chủ đạo là tính thống nhất về loại hình và kỹ thuật dù được phát hiện trong / tại nhiều địa điểm mang tính địa phương hay khu vực rõ nét. Có thể nói, sắt đã đóng vai trò thống nhất và kết tinh văn hoá ở miền Trung Việt Nam thời Sơ sử. Nguồn gốc của nghề luyện kim sắt chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, trong một số địa điểm đã tìm thấy dấu tích của rèn sắt và luyện gang tại chỗ, như ở Đại Lãnh - Đại Lộc Quảng Nam. Có thể, luyện kim sắt văn hoá Sa Huỳnh có mối quan hệ chặt chẽ với những khu vực Đông Nam Á lục địa như Thái Lan… Giai đoạn cuối trong loại hình công cụ và vũ khí bằng sắt thể hiện sự giao lưu văn hoá với Trung Hoa thời Hán qua các loại hình như mũi nhọn, dao có chuôi hình vành khăn kiểu Tây Hán.
So với đồ sắt, đồ đồng ít hơn nhiều về số lượng. Tuy vậy trong một vài năm gần đây, tại các khu mộ táng văn hoá Sa Huỳnh giai đoạn sớm đã tìm thấy nhiều đồ đồng tuỳ táng gồm công cụ, vũ khí, đồ tế lễ… Nhiều đồ đồng được phát hiện cả ở mộ chum, cả ở mộ đất. Phần lớn đồ đồng có thể là sản phẩm của trao đổi với văn hoá Trung Hoa Hán nhu bát đĩa, gương (giai đoạn cực muộn) với văn hoá Đông Sơn như trống đồng, công cụ và vũ khí (giai đoạn sớm hơn). Tất nhiên, điều này không loại trừ việc sản xuất tại chỗ, tuy chứng cứ còn quá ít. Vết tích của đúc đồng được tìm thấy ở Bình Châu, Trảng Đổng Du - Bàu Trám, một vài khuôn đúc bằng đá tìm thấy ngẫu nhiên ở Khánh Hoà, Ninh Thuận…
Cùng với việc đạt đến trình độ cao của kỹ thuật chế tạo sắt (cả việc đúc gang), cư dân văn hoá Sa Huỳnh còn đạt đến bước phát triển cao với các nghề se sợi, dệt vải, chế tạo gốm, chế tác đồ trang sức. Trong các di tích tìm thấy nhiều dọi xe chỉ các loại, dấu vết vải từ thô đến mịn còn lại khá nhiều trên các đồ tuỳ táng bằng đồng, bằng sắt. Nghề làm gốm rất phát triển, thể hiện trong mọi khía cạnh từ kỹ thuật, độ nung đến tạo hình, trang trí. Đặc điểm nổi bật của gốm Sa Huỳnh là những đồ gốm lớn đến rất lớn, đòi hỏi kỹ năng khéo léo và kỹ thuật cao trong chế tác và khống chế độ nung. Rất tiếc cho tới nay chưa phát hiện được lò gốm trong văn hoá này. Rất có khả năng đó là loại lò nửa kín và thường nằm sát bờ sông (hoặc những chum gốm lớn này bản thân đã là lò nung giống như một vài trường hợp trên thế giới thời cổ đại). Điều này, một mặt thuận tiện cho việc chuyên chở nguyên liệu và sản phẩm, song mặt khác lò lại rất dễ bị sụt lở trong những đợt lũ lụt lớn nhỏ hàng năm. Bên cạnh chum, nắp gốm mai táng, đồ tuỳ táng gốm rất đa dạng và phong phú bao gồm bát bồng, đèn, bình hình lẵng hoa, bình con tiện, cốc cao chân, nồi, bát, đĩa, cốc… Gốm được trang trí đẹp với những đồ án hoa văn đa dạng, khắc vạch kết hợp tô màu, những đồ án và phong cách trang trí từ giai đoạn Tiền Sa Huỳnh tiếp tục tồn tại và phát triển trong giai đoạn này. Tô màu đen và đỏ thành từng băng uốn lượn hay góc cạnh, xen lẫn những băng bên trong trang trí những đường vạch nhỏ, chấm dải, in mép sò…trở thành phương pháp trang trí phổ biến. Văn thừng đóng vai trò kỹ thuật hơn là trang trí, kiểu loại văn thừng giai đoạn này đơn giản hơn so với giai đoạn sớm. Nhiều đồ gốm được nung ở nhiệt độ cao, lửa được không chế một cách chủ động nên có một số đồ gốm cứng như sành.
Cư dân văn hoá Sa Huỳnh là những người có năng khiếu, khéo tay và mỹ cảm phát triển. Họ rất thích dùng đồ trang sức (vòng, nhẫn, khuyên tai, vật đeo hình dấu phảy, hạt chuỗi…) bằng thuỷ tinh, mã não, đá quý, đá, đất nung… Chất liệu được ưa thích nhất là mã não và thuỷ tinh. Khuyên tai (hay bùa đeo) hai đầu thú và khuyên tai ba mấu là một loại hình chế phẩm Sa Huỳnh đặc thù. Trong các di tích văn hoá Sa Huỳnh đã tìm thấy một số lượng lớn hai loại hình này. Trong khi khuyên tai ba mấu phân bố ở hầu khắp các địa điểm thì loại hai đầu thú cho tới nay được phát hiện chỉ ở một số vùng.
Ở di tích Đại Lộc - Quảng Nam và Giồng Cá Vồ - Tp. Hồ Chí Minh phát hiện nhiều khuyên tai hai đầu thú đang chế tác dở. Trong một số di tích đương đại của văn hoá Đông Sơn (Bắc Việt Nam), Philippines, Thái Lan… cũng tìm thấy những kiểu khuyên tai này. Đây được coi là những bằng chứng về sự lan toả ảnh hưởng của văn hoá Sa Huỳnh. Trong đồ gốm, đồ trang sức… dễ dàng nhận thấy những nét chung giữa văn hoá Sa Huỳnh và một số văn hoá khác cùng thời ở Đông Nam Á hải đảo.
Trước đây, các học giả Pháp cho rằng chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh là những người đi biển, đất liền chỉ là nơi chôn cất người chết. Hiện nay, số lượng và vết tích nơi cư trú của văn hoá này khá hiếm hoi. Tuy vậy, vẫn có thể khẳng định qua những chứng cứ gián tiếp rằng văn hoá Sa Huỳnh là sản phẩm của những cư dân sống định cư trên đất liền với xu hướng hướng biển mạnh mẽ. Hệ sinh thái chủ đạo tạo nên nhiều đặc trưng văn hoá là hệ sinh thái Cồn - Bàu. Nền kinh tế đa thành phần kết hợp giữa trồng lúa nước ở các đồng bằng nhỏ duyên hải, trồng lúa kiểu nương rẫy ở vùng đồi gò. Trong các di tích đã phát hiện những công cụ liên quan đến trồng trọt và phá rừng làm nương rẫy bằng đá (tiền Sa Huỳnh), bằng sắt, đồng (Sa Huỳnh) như cuốc, liềm, rìu, dao quắm (rựa)… Cư dân văn hoá này sớm biết khai thác những nguồn lợi của biển, của rừng, biết phát triển các nghề thủ công, từng bước họ đã mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với các cư dân trong khu vực Đông Nam Á lục địa, hải đảo và rộng hơn với Ấn Độ, với Trung Hoa. Đặc biệt ở giai đoạn cuối, nghề buôn bán bằng đường biển rất phát triển. Ở ven biển miền Trung, vào những thế kỷ trước, sau Công nguyên đã hình thành một số tiền cảng thị hay cảng thị sơ khai.
Văn hoá Sa Huỳnh một mặt có nguồn gốc bản địa từ những nhóm di tích, văn hoá Tiền Sa Huỳnh. Mặt khác, những nguồn lực và ảnh hưởng ngoại sinh cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Với vị thế địa văn hoá cầu nối giữa lục địa và hải đảo và đường bờ biển dài nhiều vụng vịnh, miền Trung Việt Nam ngay từ thời tiền sử dã là nơi gặp gỡ của nhiều luồng cư dân, ngôn ngữ và văn hoá. Những tư liệu khảo cổ học gần đây cho thấy vào giai đoạn cuối của văn hoá Sa Huỳnh sự giao lưu văn hoá (tự nguyện và cưỡng bức) rất mạnh mẽ với văn hoá Đông Sơn, với văn hoá Hán. Ảnh hưởng của những văn hoá này vào văn hoá miền Trung Việt Nam những thế kỷ I -II trước và sau Công nguyên có tác động sâu và rộng hơn rất nhiều so với sự hình dung của chúng ta từ trước tới nay.
Mật độ phân bố di tích cũng như quy mô lớn rộng của các di tích văn hoá Sa Huỳnh (bằng chứng của sự quần tụ đông đúc dân cư ); sự phong phú về kiểu loại; số lượng lớn của các loại hình hiện vật từ nhiều chất liệu (dấu hiệu về sức sản xuất mạnh mẽ); vũ khí chiếm một tỷ lệ không nhỏ và với một số kiểu vũ khí ảnh hưởng văn hoá Hán (dấu hiệu của xung đột bên trong và bên ngoài); đồ tuỳ táng phân bố không đều cả về chất và lượng (bằng chứng về sự phân tầng xã hội), tất cả đều là những tư liệu gián tiếp về sự hình thành và tồn tại của một kiểu nhà nước sơ khai trong giai đoạn này.
Chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh có quan hệ cội nguồn với các văn hoá hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồng thau ven biển. Với cốt lõi là văn hoá Bàu Tró mà chủ nhân của các văn hoá trên được các nhà nghiên cứu coi là những người tiền Ma Lai-Pôlinêdi. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, văn hoá Sa Huỳnh còn có những quan hệ cội nguồn hay giao lưu với những văn hoá hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng thau của miền cao nguyên Lâm Đồng mà chủ nhân của những văn hoá trên được coi là tiền Môn - Khmer hay tiền Nam Á. Ngoài ra còn có những mối giao lưu rộng rãi với các cư dân kim khí Đông Nam Á hải đảo và lục địa. Với vị thế địa văn hoá của mình, dải đất ven biển miền Trung cũng còn là nơi tiếp nhận của không ít nhưng làn sóng di dân từ phương bắc, phương đông và phương Nam trong diễn trình tiền - sơ sử. Tất cả những yếu tố này đã tạo nên một bức tranh văn hoá miền Trung phong phú, đa dạng với những sắc màu riêng. Chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh theo các nhà nghiên cứu nói tiếng Nam Đảo hay Malay - Polynedien với nhiều yếu tố Nam Á.
- Truyền thống văn hoá Đồng Nai: Quá trình chinh phục và chiếm lĩnh miền châu thổ sông Mekong và duyên hải Nam Bộ: Vào khoảng hơn 4.000 năm cách ngày nay, trên đất Nam Bộ đã có những cộng đồng cư dân sinh sống ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau. Họ là chủ nhân của nền văn hoá Đồng Nai thuộc thời đại kim khí (đồng thau và sắt sớm).
Những di tích của văn hoá này phân bố suốt từ vùng đồi gò cao cho tới trung, hạ lưu sông Đồng Nai và các chi lưu và vùng sinh thái ngập mặn ven biển. Mỗi một tiểu môi trường sinh thái ứng với một mô thức kinh tế-văn hoá thích hợp.
Ở vùng đồi đá phiến và bazan đất đỏ thuộc Đồng Nai có những di tích (cư trú, mộ táng, xưởng) diện tích lớn, tầng văn hoá dày. Đây là vùng phát sinh và quần tụ quan trọng liên tục nhất của văn hoá Đồng Nai với những di tích Cầu Sắt, Suối Chồn, Phú Hoà, Hàng Gòn.
Ở vùng đồi đá phiến và bazan đất đỏ dải cao nguyên Sông Bé có loại hình di tích đặc trưng là công trình đất đắp hình tròn với hai vòng thành và hào sâu ở Lộc Ninh - Bình Long.
Vùng liên kết đồi bazan - đá phiến - phù sa cổ dọc hệ thống Sông Bé - Đồng Nai, nơi tập trung dày đặc các di tích, di chỉ - mộ táng - xưởng thủ công đơn hay đa ngành tiêu biểu nhất là Suối Linh, Bình Đa, Dốc Chùa.
Vùng phù sa đất xám thuộc hệ thống sông Vàm Vỏ với những di chỉ, di chỉ kèm mộ đất như An Sơn, Gò Rạch Rừng, Dinh Ông, Rạch Núi.
Vùng đồng bằng phù sa mới miền châu thổ hạ lưu sông Đồng Nai - Vàm Cỏ và những đầm lầy không và nhiễm mặn cận biển tiểu vùng kinh tế - văn hoá mới tạo thành từ đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên như Cái Vạn, Bưng Bạc, Bưng Thơm, Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ …
Mật độ phân bố di tích thời đại kim khí Đông Nam Bộ khá đậm đặc. Nhiều di tích có quy mô lớn hàng vạn mét vuông. Loại hình di tich ở đây cũng khá đa dạng: Di tích cư trú, di tích cư trú - mộ táng, di tích cư trú - xưởng hay di tích công xưởng...
Đồ đá là loại di vật phổ biến và có số lượng lớn. Đây cũng là đặc trưng nổi trội của văn hoá Đồng Nai - Nơi mà công cụ - dụng cụ bằng đá lấn át mạnh mẽ và lâu dài kim loại do thiếu vắng các nguồn quặng đồng và hợp kim bản địa trong toàn miền. Loại hình được coi là đặc trưng và mang phong cách văn hoá Đồng Nai là rìu bôn có vai và không có vai. Tỷ lệ giữa rìu bôn có vai và không vai là một trong những tiêu chí phân giai đoạn và loại hình văn hoá. Loại hình trang sức đá thường gặp là các loại vòng, vật đeo. Tại di tích đồi Phòng Không đã tìm thấy nhiều dấu tích của xưởng chế tác với nghề chuyên làm vòng đá. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, kỹ năng chế tác đồ đá của chủ nhân văn hoá Đồng Nai không thua kém bất cứ nền văn hoá đồng đại nào trong khu vực.
Loại chế phẩm bằng đá đặc sắc trong văn hoá Đồng Nai là đàn đá - nhạc cụ thuộc bộ gõ. Đàn đá có mặt ở nhiều di tích , niên đại cách ngày nay khoảng 3.000 năm.
Nghề đúc đồng và luyện kim đồng đã xuất hiện vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay và đồ đồng phổ biến rộng rãi vào khoảng trên 3oo năm cách ngày nay. Nhiều di chỉ đúc đồ đồng đã được phát hiện ở Suối Chồn, Bưng Thơm, Bưng Bạc, Dốc Chùa với những hiện vật gắn với quá trình chế tác như khuôn đúc. Theo các nhà nghiên cứu, lưu vực sông Đồng Nai là một bộ phận hay mắt xích trong chuỗi tiến trình luyện kim ở Đông Nam Á giai đoạn sớm có quan hệ mật thiết với kỹ nghệ đồng thau ở khu vực Vân Nam (Trung Hoa) và Đông Bắc Thái Lan qua đường sông Mekong.
Đồ gốm được trang trí bằng các loại hoa văn thừng, chải, khắc vạch, chấm dải, tô màu. So với những khu vực khác hoa văn gốm Đồng Nai đơn giản và mộc mạc hơn. Giai đoạn muộn của văn hoá Đồng Nai được đặc trưng bởi những khu mộ chum kiểu mộ chum văn hoá Sa Huỳnh với những loại hình hiện vật bằng sắt, bằng đá, mã não, thuỷ tinh bên cạnh những đặc thù riêng biệt mang tính địa phương của văn hoá Đồng Nai. Về sự xuất hiện của những di tích mộ chum này còn khá nhiều ý kiến chưa thống nhất về nguồn gốc và tên gọi. Tuy vậy, một điều dễ nhận thấy là sự có mặt chắc chắn của các yếu tố văn hoá Sa Huỳnh ở vùng biên giữa hai nền văn hoá.
Dựa trên hệ thống tư liệu trực tiếp và gián tiếp, các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng những hình thức quan trọng và phổ biến nhất trong đời sống kinh tế truyền thống Đông Nam Bộ là trồng lúa cạn không dùng sức kéo. Cư dân cổ Đồng Nai phát triển nền nông nghiệp dùng cuốc ở trình độ cao, bên cạnh cây lúa là là các loại rau đậu, cây có quả - củ cho bột. Phương pháp canh tác đặc thù của nông nghiệp nương rẫy là phát - đốt. Chăn nuôi, săn bắt, hái lượm, đánh bắt thuỷ hải sản cũng đặc biệt được coi trọng (số lượng xương sừng trong các di tích Bưng Bạc, An Sơn, Rạch Núi... lên tới hàng chục kg). Hái lượm, đánh bắt cá tôm và nhuyễn thể của sông biển.
Khi so sánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật và văn hoá của những nhóm cư dân trong văn hoá Đồng Nai, nhà nghiên cứu Phạm Đức Mạnh cho rằng cần nhấn mạnh đến đặc thù của quá trình chuyên môn hoá-phân công lao động-phân vùng kinh tế nhập hoà với từng miền sinh cảnh. Cần có sự quan tâm đặc biệt đến mối ràng buộc thiết yếu giữa những ngành kinh tế chủ đạo nông nghiệp với nghề trồng lúa cạn là phổ cập và cả nghề trồng lúa nước ở những tiểu vùng khả thực nhất, (trồng hoa màu, cây có củ - quả và chăn nuôi) và những ngành cung ứng lương thực - thực phẩm tiền sử khác (săn bắn / bắt, đánh cá hái lượm theo phổ rộng những sản phẩm thực - động vật của rừng, suối sông, đầm lầy và biển). Giữa nông nghiệp - khai thác- thủ công (sản xuất đá- công cụ và trang sức; chế luyện kim loại - đúc đồng và rèn sắt, chế tạo gốm - đồ đựng, bàn xoa và dọi se sợi, dệt vải) và thông thương nội, ngoại.
Đời sống tinh thần của cư dân văn hoá Đồng Nai được biết đến qua những hiện vật nghệ thuật. Tín ngưỡng đặc sắc nhất là sưu tập thẻ đeo bằng đá cuội mài dẹt hình gần ovan hoặc chữ nhật và bán cầu có lỗ thủng tròn hay tạo núm ở đầu. Tượng động vật như tượng lợn, rùa bằng sa thạch, tượng chó săn mồi bằng đồng ở Dốc Chùa, tượng Long Giao bằng đồng… bên cạnh ý nghĩa nghệ thuật còn mang tải một nội dung tín ngưỡng, nghi lễ nào đấy. Ngoài ra còn phải kể đến sưu tập đàn đá hơn 60 thanh ở Bình Đa, những thanh đàn đá hay đá kêu ở một số địa điểm khác. Bên cạnh đó là sự hội nhập của không ít yếu tố văn hoá trong khu vực như trống đồng Đông Sơn, khuyên tai ba mấu, hai đầu thú của văn hoá Sa Huỳnh…
Văn hoá Đồng Nai đặc biệt là giai đoạn cuối đã trở thành nền tảng cho sự hình thành một kiểu nhà nước sơ khai. Đó là khi kim loại thực sự đã chiếm vị trí quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống của cư dân, mở rộng những tiểu vùng kinh tế sản xuất và khai thác mới, củng cố những liên hệ kinh tế - văn hoá nội vùng, thành tạo những điều kiện tập trung của cải phân bố giàu nghèo và cố kết quyền lực trung tâm, hình thành cơ cấu xà hội phân tầng. Điều này được thể hiện qua sự có mặt của những hầm mộ bằng đá lớn (cự thạch), sưu tập qua đồng Long Giao, trống đồng Đông Sơn ở Bình Dương, Bình Phước... những khu mộ địa với những bộ đồ tùy táng giàu có ở Dốc Chùa, Cần Giờ, Xuân Lộc...
- Những trung tâm văn hoá thời đại kim khí Thái Lan: Tương tự như ở Việt Nam, bước vào thời đại kim khí những cộng đồng cư dân nông nghiệp sớm hậu kỳ đá mới đã lan toả, mở rộng không gian cư trú của mình ra nhiều vùng. Vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay đã hình thành những trung tâm văn hoá với cốt lõi là những thành tựu luyện kim đồng và sắt và nghề chế tác đồ gốm phân bố ở đồng bằng miền trung Thái Lan, cao nguyên Khorat, trung lưu, thượng lưu sông Chi… Theo các nhà nghiên cứu, Thái Lan có hai khu vực văn hoá cơ bản: Đồng bằng Miền Trung và cao nguyên Khorat ở miền Đông Bắc. Ở mỗi khu vực có thể nhận thấy những nền văn hoá tiền - sơ sử dọc theo những sông lớn và chi lưu của chúng. Ở Thái Lan sông đóng vai trò quan trọng giống như các nước khác ở Đông Nam Á. Khi đề cập tới nội dung văn hoá thời đại kim khí nói chung và luyện kim nói riêng ở Thái Lan cần lưu ý những điểm sau:
Đa phần những tài liệu khảo cổ học được thu thập từ di chỉ mộ táng, hay cư trú xen lẫn mộ táng. Khung niên đại được xác định chủ yếu dựa vào kết quả định từ những mẫu phân tích C14 hay AMS.
Những hiện vật đồng phát hiện được đều là những công cụ định hình và được làm từ đồng thau.
So sánh với Việt Nam, ở Thái Lan cho đến nay chưa thấy chứng cứ về giai đoạn phôi thai của luyện kim. Trong tất cả các nước ở Đông Nam Á, mới chỉ có ở Thái Lan là đã phát hiện được vết tích của các hoạt động khai khoáng đồng có niên đại khoảng 3.000 năm cách ngày nay.
- Đông Bắc Thái Lan - Cao nguyên Khorat: Những cộng đồng cư dân khai khoáng, buôn bán kết hợp trồng lúa: Địa hình: Phía tây và nam là dãy núi Petchbun và Dang Raek, còn phía bắc và đông là sông Mekong.
Tại vùng này đã có sự thay đổi cơ bản về địa bàn cư trú từ giai đoạn săn bắt - hái lượm sang giai đoạn trồng trọt, chăn nuôi từ mái đá xuống dọc các thềm sông cổ. Miền bắc của cao nguyên Khorat là nơi đã được điều tra khá kỹ. Tại đây, đã phát hiện được một loạt những dịa điểm cư trú từ khá nhỏ (0,5 - 0,8ha) ở những gò nhỏ đến những làng phòng thủ lớn (đến 117ha).
Khu vực này là nơi có nhiều phát hiện lớn những chứng cứ về hoạt động khai thác và luyện đồng. Trong đó đáng chú ý nhất là Phu Lon bên bờ sông Mekong.
Phu Lon là một khu mỏ đồng nằm bên bờ sông Mekong, mỏ đồng phân bố trên hai quả đồi Phu Lon I và Phu Lon II. Tại đây đã tìm thấy những hiện vật liên quan đến các hoạt động khai khoáng, luyện quặng, đúc đồng. Đồng thời dấu tích cư trú cũng đã được phát hiện, đó là những công cụ sản xuất bằng đá và bằng đồng thau, những mảnh vòng đá cùng nhiều mảnh gốm. Dựa vào kết quả phân tích niên đại C14 (1750-1425 trước Công nguyên) và những mẫu ở lớp trên, các nhà khảo cổ học tham gia khai quật cho rằng việc khai khoáng và luyện kim ở đây tồn tại trong suốt thiên niên kỷ II-I trước Công nguyên). Khu mỏ này bao gồm những hầm mỏ dài hàng chục mét trong đá mẹ và có ít nhất ba công đoạn khai khoáng. Quặng được nghiền bằng chày đá, được nấu chảy trong nồi bằng đất nung. Khu mỏ đã được khai thác trong một thời gian khá dài.
Một địa điểm mộ táng và cư trú xen lẫn mộ táng quan trọng ở khu vực này là Non Nok Tha ở tỉnh Khon Ken, địa điểm này nằm gần nguồn đồng Loei. Qua hai lần khai quật, người ta đã tìm thấy rất nhiều công cụ đồng như rìu đồng, khuôn đúc đồng, nồi nấu đồng. Loại rìu phổ biến là rìu xoè cân, trên thân gần chuôi có 2 hoặc 3 đường chỉ nổi trang trí (kiểu rìu phổ biến ở lưu vực sông Đồng Nai) và rìu có vai thân hẹp lưỡi dài (loại này đã thấy ở Samrong Sen, Campuchia).
Đồ gốm ở đây cũng rất nhiều và có nhiều loại hình nguyên do được tìm thấy trong mộ. Mặc dù gần địa điểm Ban Chiang, nơi có truyền thống gốm tô màu phát triển, nhưng gốm Non Nok Tha phần lớn để trơn hay trang trí khắc vạch.
Những người khai quật dựa trên một loạt niên đại nhiệt huỳnh quang đã cho rằng đây là địa điểm chứa đồ đồng sớm nhất, ngay ở lớp mai táng sớm khoảng 2500 năm trước Công nguyên. Sự diễn giải về niên đại cũng như về văn hoá của địa điểm này thực sự khó khăn bởi những mâu thuẫn trong chuỗi niên đại C14 và Nhiệt huỳnh quang. Dựa vào những niên đại AMS mới, Higam cho rằng nghĩa địa ở Non Nok Tha có niên đại thiên niên kỷ II trước Công nguyên, những mộ sớm nhất có thể có niên đại 2.000-1.500 BC, song phần lớn các mộ, kể cả những mộ có hiện vật đồng nằm trong khoảng từ 1.500 đến 1.000 BC. Nếu so sánh với những địa điểm miền bắc Việt Nam, những chuỗi văn hoá ở Non Nok Thà có thể cùng thời với văn hoá Đồng Đậu và Gò Mun từ 3.500-2.700 cách ngày nay.
Non Nok Tha cho chúng ta chứng cứ về tổ chức và quy mô của hoạt động đúc đồng bản địa. Theo các nhà nghiên cứu, những khuôn đúc đã tìm thấy ở Đông Nam Á cho thấy một phong cách đúc đồng bằng khuôn kín, khác với những vùng khác, như Ấn Độ, có khi đúc đồng bằng khuôn hở, một mang. Tỉ lệ phần trăm của thiếc khá cao trong hợp chất đồng thau cũng được xem là đặc điểm riêng của Đông Nam Á.
Một địa điểm quan trọng khác của khu vực đông bắc Thái Lan là Bản Chiang, một địa điểm nổi bật với truyền thống gốm vẽ màu độc đáo.
Địa điểm Bản Chiang, làng Bản Chiang, Udon Thani, đông bắc Thái Lan. Đây là một trong một số địa điểm đã được khai quật ở cao nguyên Khorat. Văn hoá Ban Chiang phát triển trong thời gian từ 3.600 BC đến 200 AD. Văn hoá này phân bố ở bốn tỉnh Udon Thani, Sakon Nakon, Nakhon Pahnom và Khon Kaen và có nhiều nét tương đồng với những văn hoá cùng thời ở Đông Nam Á. Trong giai đoạn sớm nhất chưa có đồng song gốm rất phát triển.
Niên đại những lớp văn hoá sớm muộn của Ban Chiang được xác định chủ yếu qua kết quả C14 và khác nhau giữa những người, những lần khai quật. Trước đây, địa điểm này thường được đưa ra để chứng minh về sự xuất hiện của nghề luyện kim màu rất sớm ở Đông Nam Á, nhưng hiện nay, xu hướng này đã bị khá nhiều người phản đối và đại bộ phận các học giả cho rằng đúc đồng xuất hiện ở Đông Nam Á vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay và vào khoảng 3.000 năm cách ngày nay, đúc đồng theo kỹ thuật khuôn sáp đã xuất hiện. Từ thế kỷ I Công nguyên đã diễn ra những thay đổi quan trọng về văn hoá xã hội và luyện kim đen phát triển.
Khu vực này còn có địa điểm Bản Na Di, một địa điểm có vai trò quyết định trong việc xác định lại trật tự niên đại của chuỗi phát triển từ đồng thau sang sơ kỳ thời đại đồ sắt.
Bản Na Di cách Bản Chiang 20 km về phía nam, tại đây đã xác định được năm lớp văn hoá tiền sử dày 4m. Nhiều hố đào được tìm thấy, một số có lớp than dày. Nhiều xác người lớn (phụ nữ, đàn ông) trẻ em và trẻ con. Trẻ con đựơc chôn ngay gần người lớn mà không để trong vò. Mộ táng được tìm thấy ở lớp 6, 7 gồm 60 mộ. Mộ có hướng bắc-nam. Trong khu vực mộ đã phát hiện 1 khu chế tác đồng gồm lò bằng đất, muôi nấu và khuôn có niên đại khoảng 1.000 trước Công nguyên .
Từ giai đoạn mộ táng có 10 niên đại C14, 1313-903 trước Công nguyên. Lúc đầu những người khai quật (Higham và Kijngam) xác định giai đoạn mộ táng có niên đại 900-100 trước Công nguyên. Hiện nay theo Higham nghĩa địa có niên đại 600-400 trước Công nguyên thuộc giai đoạn hậu kỳ đồng - sơ kỳ sắt.
Vấn đề gây nhiều tranh cãi nhiều nhất chính là niên đại tuyệt đối của hai địa điểm Bản Chiang và Non Nok Tha liên quan đến nguồn gốc và niên đại của luyện kim màu và luyện kim đen ở Đông Nam Á. Hiện nay có tới ba hệ niên đại sớm, giữa và muộn cùng tồn tại. Higham cho rằng, niên đại các lớp ở hai địa điểm kể trên về cơ bản giống với phổ hệ đồng thau lưu vực sông Hồng. Tức là đồ đồng xuất hiện vào giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Theo Hà Văn Tấn, những lớp dưới cùng của Ban Chiang hay lớp đáy của Ban Na Di có những hình phảng phất phong cách Phùng Nguyên. Còn giai đoạn III Ban Chiang hay lớp 7 và 8 của Bản Na Di có thể tương đương với Đồng Đậu hay Gò Mun. Giai đoạn IV Bản Chiang trở đi có thể tương đương với văn hoá Đông Sơn và giai đoạn V Bản Chiang tương đương với giai đoạn muộn của văn hoá Đông Sơn
(15).
Đông Bắc Thái Lan là một trung tâm kim khí với một quá trình phát triển liên tục từ đầu thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại sắt, trung tâm này có mối quan hệ giao lưu chặt chẽ với các nhóm cư dân ở khu vực Vân Nam phía bắc với cư dân vùng hạ lưu sông Mekong qua dòng chủ lưu là sông Mekong.
- Đồng bằng Miền Trung: Nơi tụ cư của những cộng đồng đúc đồng, trồng trọt và đánh cá: Tại địa bàn này có những địa điểm chính như: Non Pa Wai- Giai đoạn II; Nong Nor; Nil Kham Haeng, Khok Phlap có chuỗi diễn tiến văn hoá liên tực từ sớm đến muộn theo phân kỳ của các nhà nghiên cứu:
Giai đoạn sớm được gọi là thời đại Đá mới 2.500-1.500 BC. Giai đoạn giữa cho thấy sự phát triển của kỹ nghệ đồng từ năm 1.500-1.000 BC. Giai đoạn muộn 1.000 BC sắt bắt đầu được sử dụng.
Ở đây, có lẽ lô gic hơn để lấy mốc 500 BC phân chia giai đoạn giữa và muộn, điều đó sẽ phù hợp hơn với sự xuất hiện của việc xuất hiện của hiện vật bằng sắt trong cả khu vực Đông Nam Á.
Phần lớn các địa điểm có quy mô từ 0,33 đến 6,3 ha và mở rộng hơn ở giai đoạn giữa và muộn cho đến 10-20 ha. Một số học giả cho rằng những địa điểm lớn chứng tỏ sự lớn mạnh của phức hợp chính trị - xã hội và sự phát triển kinh tế bộ lạc.
Trong nhóm địa điểm ở vùng này, nổi bật hơn cả là địa điểm Non Pa Wai: Có sự không đồng nhất trong mô tả về địa tầng trong hai sách của Higham 1989 và 1996. Trong mô tả năm 1989 chúng ta thấy:
Non Pa Wai là một đồi rộng chừng 5 ha chứa vết tích hoạt động đúc đồng dày tới 3m. Tại đây, đã phát hiện hàng trăm mảnh của khuôn đúc đất nung hai mang, muôi nấu đồng, ống thổi, quặng đồng, khuôn đúc thỏi đồng nguyên liệu. Phía dưới tầng này là nghĩa địa, trong có mộ chôn theo khuôn đúc.
Trong mô tả năm 1996, tác giả cho biết:
Địa tầng: Lớp sớm nhất dày từ 2-3m, kéo dài khoảng 8 thế kỷ. Đây là tầng cư trú sớm và nghĩa địa.
Giai đoạn bỏ hoang, khoảng 5 thế kỷ. Khi địa điểm được tái cư trú, có một số mộ đã cắt vào đó. Một mộ chứa bộ xương người đàn ông khoảng 25 tuổi, đồ chôn theo có khuôn 2 mang đất nung đúc rìu. Mộ khác có chôn theo rìu như thế.
Lớp mà từ đó có những mộ cắt vào chứa xỉ đồng và muôi múc đồng báo hiệu hoạt động luyện kim kéo dài 8 thế kỷ và dày 2-3m
Mô tả năm 1989
Mô tả 1996
Trên: Vết tích của hoạt động đúc đồng dày 3m.

Dưới: Dưới lớp này là nghĩa địa mà trong đó đã tìm thấy một bộ xương chôn theo 2 khuôn đúc rìu đất nung
Lớp muộn: Mộ táng, một số mộ cắt phá vào lớp giữa. Hoạt động luyện kim.
Lớp giữa: Giai đoạn không có vết tích văn hoá khoảng 500 năm. Bị một số mộ muộn cắt vào. Trong đó có mộ có vết tích của một người đàn ông 25 tuổi, chôn cùng hai khuôn đúc rìu bằng đất nung.
Lớp sớm nhất: Địa điểm cư trú và nghĩa địa dày 2-3 m.
Dựa vào một vài niên đại C14, Higham cho rằng hoạt động đúc đồng bắt đầu ở đây vào giai đoạn 1.500-1.000 BC.
- Đồng bằng Tonle Sap: Tình hình nghiên cứu ở Campuchia gần như bị tê liệt do nguyên nhân chính trị. Do vậy tư liệu hầu như không có ngoại trừ những tư liệu cũ. Vài năm gần đây, hoạt động khảo cổ học ở nước này đã bắt đầu trở lại, song kết quả chưa được công bố đầy đủ, ngoại trừ Dự án khảo cổ học hạ lưu sông Mekong (LOMAP).
Samrongsen: Tại đây đã tìm thấy một số hiện vật đồng, gồm rìu có họng, giáo có họng, vòng tay, chuông và muôi nấu đồng vẫn còn đọng xỉ cũng như khuôn đúc rìu đồng. Niên đại C14 của vỏ sò từ 1749-1235 BC, phù hợp với niên đại ở đông bắc Thái Lan. Một số đồ trang sức giống như ở Khok Phanom Di.
O Pie Can: Khuôn đúc sa thạch đúc rìu và liềm cũng như mảnh muôi nấu đồng.
O Yak: Vòng tay đồng tìm được cùng với mộ hung táng gần O Pie Can.
Nhìn chung, trong thời đại đồ đồng làng cư trú phân bố trên những vùng đất cao gần những vùng thấp ở trung lưu các dòng sông. Sự lựa chọn vùng cư trú cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa phương thức kiếm sống và môi trường. Theo White, yếu tố chủ đạo nhất trong lựa chọn nơi sinh sống là môi trường ngập nước thường xuyên nhưng không ngập sâu. Lúa hoang vẫn mọc ở rìa các sông và mọc vào mùa mưa, ngập nước.
Dữ liệu cả ở mộ táng và nơi ở cho thấy đây là những cộng đồng nhỏ, không có dấu hiệu về trật tự xã hội và cai trị trung tâm, họ chọn những vùng đất thấp gần nguồn nước và ngập nước để thúc đẩy trồng lúa nước. Trên thực tế vết tích lúa gạo đã tìm được ở một số địa điểm hậu kỳ đá mới và đồ đồng. Chứng cứ thực vật và động vật cũng cho thấy hoạt động sống bao gồm gặt lúa, nuôi gia súc, ít nhất có bốn loại con vật đã được thuần dưỡng như lợn, chó, gà, săn bắt, bẫy, đánh cá và thu lượm nhuyễn thể. Cần lưu ý rằng săn bắt và hái lượm luôn đóng vai trò rất quan trọng ở Đông Nam Á không chỉ trong thời tiền sử.
Đa phần các địa điểm thời đại đồ đồng ở Thái Lan là khu mộ táng. táng thức phổ biến là chôn nằm ngửa từng nhóm thành hàng. Đồ tuỳ táng có gốm, hiện vật đá và đồng. Đồ tuỳ táng phần nào thể hiện phân hoá tài sản cá nhân.
Niên đại khởi đầu của đúc đồng nằm trong khoảng năm 1.500-1.000 BC. Sự tồn tại của những tổ hợp khai khoáng, những nơi đúc đồng... cho thấy sự phát triển của truyền thống đúc đồng bản địa. Phần lớn là khuôn đúc hai mang bằng đá sa thạch. Phần lớn vòng đồng được đúc dựa theo nguyên mẫu đá và nhuyễn thể.
- Thời đại đồ sắt ở Thái Lan và một số khu vực Đông Nam Á lục địa: Ngược lại với giai đoạn trước, giai đoạn này những địa điểm đã biết chủ yếu là di chỉ cư trú, rất ít mộ táng được khai quật trên diện rộng.
Những địa điểm có thành bao (kiểu thành đắp đất tròn ở Bình Dương) rất khó để tìm hiểu về tính chất và niên đại của chúng. Không hề có bất cứ tư liệu chính xác nào về niên đại và thậm chí cấu trúc của những thành đất đắp. Những thành đất đắp này tập trung ở lưu vực sông Mun, mở rộng đến lưu vực sông Chi, đồng bằng Siem Riep và miền Trung Thái Lan. Theo các học giả những thành đất đắp này có lẽ để giữ nước. Phần lớn những địa điểm này đều bị bỏ sau thời đại sắt. Ví dụ như ở Noen U Loke, mộ táng thời đại sắt đã được tìm thấy phía dưới lớp mặt 1m trong các vòng đất.
Trong giai đoạn này có một số địa điểm điển hình: Non Chai, Ban Chiang Hian, Non Dua.
Non Chai: Địa điểm điển hình của thời đại sắt, có diện tích (18-38.5 ha) rộng hơn nhiều so với các địa điểm thời đại đồng trước đó. Theo báo cáo khai quật của Bayard năm 1978 thì địa điểm có cấu trúc hình ôvan 1000 x 500m và cao 15m so với vùng xung quanh. Năm 1979, trong khi tiến hành khai quật Van Liere nhận thấy vết tích của hào hay mương nước bao quanh. Năm 1977, khai quật 76m2 . Tại địa điểm này đã thu được số lượng lớn đồ gốm, tàn tích động vật và chứng cứ về đúc đồng và luyện sắt. Dựa vào diễn biến hiện vật gốm và địa tầng, người ta chia ra thành 5 giai đoạn văn hoá, thời đại đồng ở lớp tận cùng.
Theo niên đại C14, giai đoạn I có niên đại 400 BC, thậm chí 500 BC, giai đoạn II-III 300-200BC, giai đoạn IV 200-1 BC và giai đoạn V AD 1-200.
Gốm ở đây khác hẳn so với những địa điểm thời đại đồng thau Non Nok Tha, Bản Na Di và Bản Chiang. Phần lớn đồ gốm trang trí bằng áo gốm đỏ hay hoạ tiết tô màu hình học, giai đoạn cuối là gốm trơn hay gốm văn thừng. Trong đất làm gốm pha vỏ trấu. Cả đồng và sắt đều tìm thấy ở giai đoạn lớp I. Từ giai đoạn lớp II, đã tìm thấy mảnh muôi nấu đồng và những mảnh khuôn đúc đã thấy ở giai đoạn lớp III. Từ lớp II có hạt chuỗi thuỷ tinh. Đời sống chủ yếu dựa trên gạo và cá.
Non Chai là một địa điểm quan trọng thời đại sắt ở nhiều góc độ. Niên đại chính từ 400BC đến 200AD. Phát triển kỹ nghệ luyện kim màu và đen. Luyện kim đồng sử dụng khuôn hai mang và kỹ thuật sáp. Một loạt những địa điểm tương tự như thế đã được phát hiện phân bố dọc theo rìa của châu thổ sông Chi và sông Mun.
Bản Chiang Hian: Địa điểm thuộc trung lưu sông Chi, đây là địa điểm có thành và hào bao quanh. Diễn biến địa tầng và hiện vật giống như Non Chai. Xương trâu đã xuất hiện ở lớp 8, còn ở lớp 7 đã có sắt. ở các lớp 6-8 tập trung những khuôn đúc đồng đúc chuông và vòng tay cũng như mảnh muôi nấu đồng. Giai đoạn gốm III ở lớp IV và V. Tổ hợp gốm khác hẳn với giai đoạn II và có những loại gốm trắng tương tự Non Dua thuộc nửa sau của Thiên niên kỷ I AD. Niên đại của địa điểm 400 BC-200 AD và có thể liên quan đến hào. Theo Higham có thể liên hệ với cấu trúc Cổ Loa.
Tại Thái Lan còn nhiều các địa điểm thời đại sắt như Noen U Loke, Ban Don Ta Phet... Tại những địa điểm này, hiện vật cho thấy mối quan hệ giao lưu văn hóa và trao đổi buôn bán với thế giới bên ngoài đóng vai trò cực kỳ quan trong. Ở Ban Don Ta Phet đã tìm thấy một số lượng lớn hiện vật có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam...
Đối với Thái Lan, đặc biệt là Đông Bắc Thái Lan, công nghiệp khai khoáng luyện kim đen và công nghệ làm muối có vai trò cực kỳ quan trọng. Sắt, đồng đỏ, đồng thau và muối được xem là tảng nền kinh tế đẩy nhanh quá trình hình thành những xã hội tiền nhà nước hay dạng Tù trưởng Quốc / hay Lónh chủ (Chiefdoms) của những cộng đồng dân cư đông đúc và lớn mạnh. Đây là cơ sở cho sự hình thành nền văn minh sớm ở đông bắc Thái Lan, tương tự như ở một số khu vực khác của Đông Nam Á
16.
I.5. Đông Nam Á hải đảo: Phương thức kiếm sống và quá trình thích nghi với môi trường tự nhiên, làn sóng di dân và lan toả hội nhập văn hoá
Nhìn chung các học giả cho rằng, những hiện vật kim loại đầu tiên xuất hiện ở Đông Nam Á hải đảo tương đối muộn, vào những thế kỷ cuối trước Công nguyên. Mặc dù quặng đồng khá phổ biến ở Luzon, Nam Java và Sumatra, thiếc lại có ở dãy đảo Bangka, Belitung ở phía bắc Malaysia đến miền trung Thái Lan.
Thời đại kim khí khu vực này mang những đặc điểm văn hoá khá độc đáo, sự phân kỳ và tên gọi các giai đoạn thể hiện quá trình tiếp thu và hội nhập nhiều những yếu tố ngoại sinh trên nền nội sinh vững chắc. Tiền sử Indonesia chẳng hạn đã được Soejono phân kỳ và đặt tên theo kiểu kiếm sống thành: săn bắt - hái lượm; nông nghiệp; và thủ công nghiệp…
Dựa vào những phát hiện khảo cổ tại khu vực, các học giả đã phác hoạ diễn biến văn hoá giai đoạn từ thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I sau Công nguyên tức Giai đoạn kim khí sớm (hay cổ kim loại) Giai đoạn kim khí sớm bắt đầu bằng việc xuất hiện của những hiện vật đồng đỏ và đồng thau (theo Bellwood đồng đỏ và đồng thau không thể phân biệt bằng mắt trong bối cảnh khảo cổ học và việc sử dụng chung thuật ngữ “bronze” có thể gây ấn tượng trong một số trường hợp, nhất là ở Indonesia). Rất nhiều những hiện vật được gọi là “bronze” có thể đơn giản là copper, song nếu không có phân tích thì dễ bị nhầm lẫn. Hiện vật bằng sắt và luyện kim đen có nhiều khả năng là từ những nguồn trực tiếp ở Đông Nam Á lục địa trong khoảng những thế kỷ cuối trước Công nguyên. Học giả Bellwood đã lấy mốc năm 500 trước Công nguyên, mặc dù cho tới nay chưa có hiện vật kim loại nào ở hải đảo có niên đại sớm như vậy. Bellwood cũng cho rằng những tổ hợp thời đại kim khí ở đây có thể được gọi là thuộc “giai đoạn Đồng - Sắt” theo thuật ngữ của Heekeren (1958). Mặc dù kim loại xuất hiện muộn và có nguồn gốc từ bên ngoài, song cư dân hải đảo đã chế tác nhiều loại hình địa phương độc đáo như trống đồng Pejeng, bao ngón tay, vòng đeo tay bản rộng… Những năm gần đây đã có những cuộc khai quật có hệ thống được tiến hành ở một số địa điểm nằm trong thời gian chuyển biến từ Sơ sử sang Lịch sử sớm ở bán đảo Thái Lan, Malay và Indonesia. Tư liệu của những cuộc khai quật này giúp soi rọi nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ văn hóa, nguồn lực và nền tảng hình thành nhà nước sớm ở Đông Nam Á hải đảo.
Địa điểm Khuan Luk Pad (Đồi hạt chuỗi) ở tỉnh Krabi, bên bờ tây nam của bán đảo Thái Lan. Địa điểm này được xác định là nơi sản xuất hạt chuỗi đá và thủy tinh vào nửa đầu thiên niên kỷ I. Sự chuyển việc sản xuất hạt chuỗi từ Ấn Độ sang các địa điểm ven biển Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu diễn giải là do tăng cường sự năng động của hoạt động trao đổi, buôn bán liên vùng và nội vùng.
Phần lớn những địa điểm cư trú lớn với chứng cứ về buôn bán và phát triển các ngành nghề thủ công đã được phát hiện dọc theo eo biển Malacca, là con đường huyết mạch nối giữa biển Đông Nam Á với Ấn Độ Dương. Tại Indonesia, những địa điểm tương tự cũng đã được khai quật ở bờ biển Sumatra (ví dụ như Karang Agung, Air Sugihan) và Tây Java (Buni) và xa hơn nữa về phía đông ở Sembirang, bờ bắc Bali... Điều đó cho thấy có sự nở rộ của những trung tâm dân cư lớn quanh đường giao thông quan trọng trong mạng lưới trao đổi, buôn bán từ nội địa ra đến ven biển và biển.
Nhỡn chung, khảo cổ học Đông Nam Á hải đảo thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thiên niên kỷ I sau Công nguyên nổi bật lên một số vấn đề căn bản. Đó là: 1. Sự lan toả của cư dân ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) trong mối liên hệ với nghề trồng lúa nước và 2. Truyền thống mộ chum; 3. Quá trình Nam tiến của trống đồng Đông Sơn với sự hình thành nhà nước sớm...
I.5.1. Nguồn gốc và sự lan toả của cư dân Nam Đảo và trồng lúa nước: Các nhà nghiên cứu khá thống nhất khi cho rằng, nghề trồng lúa nước cùng với sự hình thành những cộng đồng cư dân nông nghiệp sớm ở Đông Nam Á hải đảo là kết quả của quá trình lan toả của các nhóm người thuộc ngữ hệ Nam Đảo từ lục địa và hội nhập giữa các nhóm người làm nông - dân di cư với các nhóm người săn bắt, hái lượm bản địa. Các nhà nghiên cứu mặt khác có nhiều ý kiến khác nhau về con đường di dân và lan toả văn hoá này, trong số đó nổi bật là ý kiến của học giả Bellwood và Solheim.
Trong những nghiên cứu gần đây của mình Bellwood đã khẳng định thêm những luận điểm của mình về sự lan toả của cư dân ngữ hệ Austronesian và trồng lúa nước ở Đông Nam Á hải đảo. Theo đó, sự lan toả đầu tiên của những ngôn ngữ Austronesian, Tai - Kadai (và có thể cả Austroasiatic) bắt đầu trong những cộng đồng đá mới trồng lúa ở Trung Hoa phía nam sông Dương Tử vào khoảng giữa năm 5.000 và 4.000 BC. Blust khôi phục lại quá trình này. Bắt đầu từ Đài Loan (nơi phân bố của những ngôn ngữ cổ Austronesian (gồm cả Proto Austronesian), sau đó là Phillippines, Borneo và Sulaweri, cuối cùng chia đôi: Đi về phía tây tới Java, Borneo và Sulaweri và đi về Đại dương Oceania. Bellwood đã bổ sung rằng, trong giai đoạn ngôn ngữ khi cắt từ phần Proto An có thể đã xuất hiện một số thuộc địa với kinh tế nông nghiệp di chuyển qua eo Formosa từ Trung Hoa lục địa đến Đài Loan và ở đây đã phát triển thành (những) ngôn ngữ Austronesian sớm (ban đầu), và sau một vài thế kỷ một số cư dân nói một trong những ngôn ngữ này đã làm những đợt di chuyển đầu tiên đến Luzon và Phillippines. Sự di chuyển này đã chia Austronesian thành hai: Formosan và Malayo-Polynesian.
Chứng cứ khảo cổ học thời đại đá mới ở Đài Loan bắt đầu khoảng 3.000-4.000 BC với những tổ hợp khảo cổ dạng nam Trung Hoa, có thể lúc đầu được mang tới bởi những nhóm nhỏ của những cư dân nông nghiệp đi qua eo biển Formosa từ Phúc Kiến. Vào khoảng 3.000 năm TCN ở Đài Loan đã xuất hiện lúa gạo. Từ giữa năm 2500-1500 TCN, những tổ hợp khảo cổ học có đặc trưng là đồ gốm trơn và áo đỏ chứ không phải là loại gốm Đài Loan sớm văn thừng đã xuất hiện ở vùng bờ biển và những vùng thuận lợi trong đất liền của Phillipines, Sulawesi, Bắc Borneo, Halmahera và (với lợn nuôi) tới cực nam là Timor. Chưa có một địa điểm nào giai đoạn này được phát hiện ở Indonesia, song những nghiên cứu bào tử phấn hoa ở vùng cao nguyên tây Java và Sumatra cho thấy có một sự phát quang rừng làm nông nghiệp ít nhất là vào khoảng thiên niên kỷ II trước Công nguyên hay có thể còn sớm hơn nữa.
Nguyên nhân lan toả theo Bellwood: Những thuộc địa nông nghiệp của cư dân nói tiếng Austronesian (Nam Đảo) có một sự di cư liên tục, trong một giai đoạn khoảng 4.000 năm, từ vùng tâm điểm nông nghiệp Nam Trung Hoa qua hàng ngàn cây số bờ biển và đi qua vùng biển rộng đông tiến vào Thái Bình Dương.
Chứng cứ khảo cổ học cho thấy cư dân đá mới đã chiếm cư toàn bộ vùng Đông Nam Á lục địa, kể cả bán đảo Mã Lai ít nhất là từ 2.000 trước Công nguyên. Những tương đồng nổi bật về khảo cổ học của tất cả những văn hóa này nằm ngay trong đất liền hơn là đi qua tới những đảo. Có thể giả thiết rằng phần đông những cư dân nông nghiệp của Thái Lan, Đông Dương và Bán đảo Mã Lai lúc bấy giờ nói những ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với ngữ hệ Austroasiatic hiện đại. Ở miền Trung và Nam Việt Nam, tổ tiên của cư dân nói tiếng Chamic Austronesian xem ra đã xâm nhập vào khu vực nơi đã có cư dân ở đông đúc là những cư dân nông nghiệp sớm hơn. Sự hiện diện có trước của những cư dân nông nghiệp ở Mã Lai và Việt Nam đã giải thích tại sao lục địa Đông Nam Á chỉ có những cộng đồng cư dân tiền sử Austronesian nhỏ cư trú xen cài cùng cư dân Austroasiatic.
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu, trồng lúa ở Đông Nam Á lục địa có trước nghề trồng lúa ở Đông Nam Á hải đảo và sự xuất hiện của lúa được coi là kết quả của sự xâm nhập của cư dân Nam Đảo từ nam Trung Hoa qua Đài Loan vào hải đảo vào khoảng 2.500-2.000 BC. Tuy vậy, Higham cho rằng không có những chứng cứ về trồng lúa ở thời gian trên ở Đài Loan tại các địa điểm thuộc văn hoá Dapenkeng. Soilhem cũng theo thuyết truyền bá song ông cho rằng cư dân thuộc ngữ hệ Austronesian đã tới Đông Nam Á hải đảo và đảo Thái Bình Dương dọc qua bờ biển phía đông của Đông Nam Á lục địa hơn là qua bán đảo Đài Loan
17. Vết tích lúa tìm thấy trong đồ gốm ở một số địa điểm như Gua Sireh (Sarawak) có niên đại 2923-1603 trước Công nguyên18.
I.5.2. Truyền thống mộ chum: Truyền thống chôn cất sử dụng quan tài là những chum gốm lớn phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á hải đảo, ở Đông Nam Á lục địa táng thức này không phổ biến lắm và chỉ thấy đậm đặc ở miền Trung và Nam Việt Nam (trong văn hoá Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh), một số vùng ở Thái Lan... Dù chung một táng thức nhưng có rất nhiều biểu hiện mang tính địa phương, tạo thành những dạng văn hóa mộ chum khác nhau.
Truyền thống mộ chum ở Đông Nam Á được chia thành hai giai đoạn phát triển. Giai đoạn sớm có niên đại vào khoảng thiên niên kỷ I-II TCN với hành loạt các di tích ở Phillippines, Indonesia, Malaysia và ven biển Miền Trung Việt Nam. Chum vò có nhiều dạng khác nhau và có loại trang trí hình người rất riêng ở Phillippines, thể hiện quan điểm thẩm mỹ độc đáo và tín ngưỡng về sự tồn tại của linh hồn.
Trong những mộ chum giai đoạn sớm này, hiện vật tuỳ táng phần lớn là đồ gốm, trang sức bằng đá ngọc và mã não, chưa thấy đồ tuỳ táng bằng kim loại, thuỷ tinh và canelia. Giai đoạn muộn (hay kim khí sớm, kim khí phát triển…), mộ chum phân bố rất rộng, có nhiều khu mộ địa lớn với khối lượng lớn và đa dạng về loại hình của đồ tuỳ táng và đã xuất hiện hiện vật chôn theo bằng kim loại, thuỷ tinh… Nhiều hiện vật có nguồn gốc ngoại lai cũng đã được tìm thấy
19. Đồ tùy táng trong các khu mộ chum giai đoạn này ở Đông Nam Á hải đảo giống như trong các khu mộ chum văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam phản ánh rõ ràng sự phân hóa về của cải và sự hình thành những xã hội phân tầng.
I.5.3. Quá trình Nam tiến của trống đồng Đông Sơn với sự hình thành nhà nước sớm: Cho tới nay, đã có một số lượng đáng kể trống đồng Đông Sơn được phát hiện ở Đông Nam Á. Phần lớn trống tìm thấy là đồ tùy táng của mộ. Những mộ có trống chôn theo đã được xác định là mộ của thủ lĩnh hay của người đứng đầu trong xã hội, dạng “Big man”
20. Sự lan tỏa của trống đồng Đông Sơn một mặt minh chứng cho sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Đông Sơn ở Đông Nam Á, mặt khác trống đồng Đông Sơn được xem như những biểu tượng quyền lực và gắn với sự hình thành nhà nước sớm ở Đông Nam Á.
Những trống Đông Sơn ở Đông Nam Á mà cụ thể là ở Lào, Thái Lan, bán đảo Malay và Indonesia thường có niên đại từ thế kỷ III trước Công nguyên đến thế kỷ I Công nguyên. Sự có mặt của những trống này được giải thích bằng nhiều nguyên nhân. Đó là, do áp lực bành trướng của Trung Hoa (Hán), văn hóa Đông Sơn đã Nam tiến và do quá trình lớn mạnh của những xã hội mới với nhu cầu của những người đứng đầu coi trống như một biểu trưng về quyền lực. Trống thường được tìm thấy ở những địa điểm mang tính chiến lược trên những tuyến giao thông và chuyên chở đường sông. Không những nhập trống từ quê gốc là miền bắc Việt Nam, trống đồng theo truyền thống trống Đông Sơn còn được sản xuất tại Thái Lan hay một địa điểm khác ở Đông Nam Á để đáp ứng nhu cầu của những tổ chức xã hội với cơ cấu mới đang hình thành và phát triển, điển hình là trống Salayar tìm thấy ở miền đông Indonesia. Một số trống có kích thước rất lớn tìm thấy ở miền đông Indonesia lại được xác định có nguồn gốc tại Việt Nam, nói một cách khác chúng được sản xuất tại Việt Nam chỉ nhằm mục đích xuất khẩu
21.
Tuy chưa có thể nhất trí hoàn toàn với những ý kiến trên của nhà nghiên cứu Imamura, đặc biệt về việc sản xuất trống ở Việt Nam với mục đích xuất khẩu. Tuy vậy, có thể thấy rằng văn hóa Đông Sơn có một ảnh hưởng rất lớn ở Đông Nam Á và trống đồng Đông Sơn thực sự là biểu tượng cho quyền lực và sức mạnh của những người đứng đầu trong xã hội.

Tiểu kết
Cho dù những phát hiện cổ nhân và sơ kỳ đá cũ ở Đông Nam Á vẫn chưa được khẳng định một cách chắc chắn, nhưng đã có nhiều chứng cứ để kết luận rằng đây là một trong những khu vực Homo Sapiens hoá của nhân loại.
Cư dân thời đại đã cũ ở đây một mặt có những nấc phát triển tương đồng với những thang bậc kỹ nghệ chế tác công cụ đá của những khu vực khác trên thế giới, mặt khác cũng có không ít những đặc điểm riêng, được quy định bởi sự thích ứng với môi trường tự nhiên và hệ sinh thái khu biệt. Ngay từ thời đại đồ đá cũ đã hình thành hai truyền thống chế tác đá riêng của Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo. Tuy vậy, chúng không tồn tại đơn lập, tách biệt hoàn toàn khỏi nhau mà đã có những sự đan xen và mối quan hệ qua lại chặt chẽ. Truyền thống địa phương trong kỹ nghệ đồ đá phản ánh sự đa dạng trong cách kiếm sống, tổ chức xã hội và cho thấy những nhóm cư dân thời này có tính thích ứng cao, linh hoạt để tận dụng tối đa nguồn lực từ môi trường tự nhiên. Nói một cách khác họ đã có những cách thích ứng với giá trị sinh thái cộng đồng khá cao.
Đông Nam Á, đặc biệt là khu vực lục địa là vùng giàu tiềm năng sinh thái (khí hậu, địa hình, địa mạo, nhiệt độ, nguồn lợi thiên nhiên…), vốn được xem là nơi đáp ứng đủ điều kiện cho việc khởi thành và phát triển nghề trồng trọt. Những phát hiện khảo cổ cùng những tư liệu sinh - dân tộc học đã chứng minh một cách chắc chắn quá trình đá mới hoá ở đây với các thang bậc phát triển từ thấp đến cao những hình thức trồng củ, quả làm vườn sơ khai đến trồng cây lấy hạt (đa canh với cây lúa chủ đạo) ở các địa hình khác nhau như hình thức nương rẫy, ruộng chờ mưa, chờ nước thuỷ triều đến nông nghiệp trồng lúa tưới nước… Cư dân Đông Nam Á đã thực hành nhiều loại kỹ thuật trị thuỷ và sử dụng nước khác nhau, trong đó có những kỹ thuật bản địa và cũng không ít kỹ thuật được du nhập từ bên ngoài. Do đặc điểm hệ sinh thái phồn tạp và thực vật rất phát triển nên bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi (nhỏ), cư dân cổ ở Đông Nam Á chưa bao giờ coi nhẹ việc hái lượm phổ rộng, săn bắt, đánh cá… và tuỳ thuộc vào điều kiện địa lý cụ thể, ở một số vùng cách kiếm sống bằng khai thác nguồn lợi tự nhiên vượt trội hơn cách kiếm sống bằng nông nghiệp.
Đề cập tới những đặc trưng của kỹ thuật chế tác và cách thức sử dụng công cụ, dụng cụ của cư dân thời đại đá Đông Nam Á, chúng ta cần lưu ý tới vai trò của công cụ tre nứa, gỗ và sự bảo lưu lâu dài những kỹ thuật truyền thống. Điều này không thể diễn giải bằng sự trì trệ, lạc hậu và kém phát triển về năng lực tư duy… như một số học giả phương Tây trước đây đã làm. Những đặc trưng trên chính là bằng chứng về khả năng tận dụng một cách tối đa các nguồn lực tự nhiên trong phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng cư dân Đông Nam Á.
Vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay cư dân Đông Nam Á bước vào thời đại kim khí. Bất luận những tranh cãi về niên đại, về nguồn gốc của kỹ thuật luyện kim, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nó trong đời sống xã hội. Ở Đông Nam Á đã hình thành những trung tâm khai khoáng và luyện kim với quy mô lớn, đây đồng thời cũng là những trung tâm của từng vùng đóng vai trò hội nhập, kết tinh văn hoá. Dù có những bước phát triển không đồng đều, thời đại kim khí cũng là thời kỳ tiếp xúc, giao lưu và hội nhập văn hoá nội vùng, liên vùng phát triển rực rỡ. Tiếp xúc, giao lưu và hội nhập những yếu tố nội sinh với ngoại sinh làm tiền đề cho những thay đổi mang tính bước ngoặt vào những thế kỷ đầu Công nguyên.



I.4.6. Thời đại kim khí ở Đông Nam Á: Những cộng đồng cư dân nông nghiệp phát triển
Một điểm cần lưu ý khi nghiên cứu vấn đề này là ranh giới giữa thời đại đá mới và thời đại kim khí không rõ ràng và trong nhiều trường hợp không thể tách bạch được. Trong một số trường hợp chúng ta thấy các nhà nghiên cứu dùng cách gọi hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí để chỉ những địa điểm mà trình độ tuy đã đạt đến thời đại kim khí, nhưng vẫn gặp nhiều di vật đá mới. Thời điểm xuất hiện của đồ sắt cũng không cụ thể, ở một số khu vực như miền bắc Việt Nam, miền đông bắc Thái Lan… chúng ta đã chứng minh được sự tồn tại của một thời đại đồ đồng trước thời đại đồ sắt. Nhưng ở Đông Nam Á hải đảo và một số nơi khác của Đông Nam Á lục địa, gần như hai kim loại này xuất hiện song song với nhau. Miền Trung Việt Nam cũng vậy, đồ sắt chỉ xuất hiện sau đồ đồng một thời gian rất ngắn.
Cho tới nay chúng ta đã có những phát hiện rất quan trọng về sự phát triển liên tục của thời đại kim khí ở Đông Nam Á lục địa, đặc biệt là ở Bán đảo Đông Dương và Thái Lan. Thời kỳ này cũng được đánh dấu bằng sự khu biệt và phân hoá văn hoá thành những trung tâm lớn có mức phát triển tương đồng nhưng khác biệt và những vùng, biên / ngoại vi. Giao lưu nội vùng, liên vùng thực sự đóng vai trò rất quan trọng trong sự định hình vị thế và vai trò của mỗi trung tâm và sức lan toả các đặc trưng văn hoá.
- Ba trung tâm thời đại kim khí Việt Nam: Cách đây khoảng bốn nghìn năm, các nhóm cư dân cổ sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ lưu vực sông Hồng cho đến lưu vực sông Đồng Nai đã bước vào thời đại kim khí.
Thời kỳ này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại ba trung tâm văn hoá lớn là Đông Sơn (miền Bắc), Sa Huỳnh (miền Trung) và Đồng Nai (miền Nam).
Văn hoá Đông Sơn (cả giai đoạn tiền Đông Sơn) được coi là cốt lõi văn hoá của người Việt cổ, giai đoạn này được coi là thời gian hình thành bản sắc văn hoá Việt cổ.
Văn hoá Sa Huỳnh (cả giai đoạn tiền Sa Huỳnh) được coi là tiền nhân tố của người Chăm và vương quốc Champa.
Văn hoá Đồng Nai (cả giai đoạn đồng và sắt) lại là một trong những cội nguồn hình thành văn hoá Óc Eo của cư dân thuộc nhóm Mã Lai - Đa Đảo và có thể thuộc các nhóm khác nữa sinh sống vào những thế kỷ sau Công nguyên ở vùng Đông và Tây Nam Bộ.
- Tiền Đông Sơn và Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam: Quá trình kế thừa, thống nhất và kết tinh hoá văn hoá: Trong thời đại đồng thau ở miền bắc Việt Nam, đặc điểm văn hóa địa phương còn khá rõ ràng. Miền Bắc Việt Nam là một vùng địa lý có những dạng địa hình khác nhau và lại có tính chất tiếp xúc rộng, mạnh, đó là nguyên nhân và lý do dẫn đến nơi đây là địa bàn của nhiều văn hoá, nhiều tộc người. Bước vào thời đại đồng thau, với sự mở đầu của 4.000 năm văn hiến, trung du và vùng châu thổ sông Hồng có Phùng Nguyên, miền ven biển đông bắc có Hạ Long, miền ven biển Thanh Hoá có Hoa Lộc, miền ven biển Nghệ Tĩnh - Bình Trị Thiên có Bàu Tró... với những loại hình công cụ đá, những kiểu dáng và hoa văn gốm khác nhau... biểu hiện những bộ mặt địa phương văn hoá khác nhau và tộc thuộc khác nhau. Giữa các khu vực văn hoá địa phương này có sự giao lưu tiếp xúc và đan xen văn hoá. Lại có sự giao lưu giữa những nhóm cư dân này với cư dân và văn hoá các miền chung quanh trong khu vực Đông Nam Á và cả Nam Trung Quốc - lúc bấy giờ còn là mảnh đất phi Hoa (và thường được giới nghiên cứu hiện nay quan niệm là thuộc không gian văn hoá Đông Nam Á lúa nước).
Cư dân Tiền Đông Sơn là cư dân trồng lúa nước, họ đã biết chăn nuôi một số gia súc như trâu, bò, lợn, gà... Làng mạc giai đoạn này có diện tích rộng và tầng văn hoá dày. Bên cạnh nơi cư trú hay trong khu cư trú là các di chỉ mộ táng. Đã hình thành các làng nghề, chuyên sản xuất một loại hình công cụ hay đồ trang sức. Những nơi cư trú này thể hiện sự phát triển văn hoá liên tục giữa các giai đoạn, nối tiếp và kế thừa nhau.
Khuôn đúc đồng và rìu đồng ở địa điểm Thành Dền, trung kỳ đồng thau: Cư dân văn hoá thời đại đồng thau miền bắc Việt Nam có đời sống tinh thần phong phú. Điều đó thể hiện trong tư duy và sáng tạo nghệ thuật của họ. Đặc biệt, họ đã làm chủ được nghệ thuật nhịp điệu trong ca múa, biểu hiện tính đối xứng chặt chẽ của các mô típ hoa văn trang trí đồ gốm. Họ biết tới nhiều dạng đối xứng khác nhau. Điều này cho thấy sự phát triển nhận thức hình học và tư duy chính xác nhờ hoạt động sản xuất nông nghiệp và kỹ thuật chế tác đá, đúc đồng...
Vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên, các nền văn hoá bộ lạc mất dần tính địa phương tiến tới chỗ hoà chung vào một nền văn hoá thống nhất- văn hoá Đông Sơn. Đó là lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại trong một quốc gia: nước Văn Lang. Tính thống nhất văn hoá được thể hiện rõ trên một vùng rộng lớn từ biên giới Việt - Trung cho đến bờ sông Gianh Quảng Bình, mặc dù theo các nhà khảo cổ học, nhà nước này vẫn có những dáng hình địa phương. Nhưng có thể thấy rằng phạm vi phân bố của văn hoá Đông Sơn rộng nhất so với tất cả các văn hoá trước đó.
Sự thhống nhất của văn hoá Đông Sơn vẫn là sự thống nhất trong đa dạng. Giới khảo cổ học Việt Nam đã nêu ra những loại hình địa phương của văn hoá Đông Sơn. Trên các vùng giáp ranh ở tây bắc, văn hoá Đông Sơn tiếp xúc với văn hoá Tấn Ninh (văn hoá Điền); ở phía bắc, tiếp xúc với văn hoá Sở, Trường Sa, ở phía nam đèo Ngang (Quảng Bình), nó tiếp xúc với văn hoá Sa Huỳnh (văn hoá Chăm cổ - về sự tiếp xúc này ngày càng có nhiều chứng cứ khảo cổ học và sự lan toả của văn hoá Đông Sơn vào không gian thời gian của văn hoá Sa Huỳnh lớn hơn nhiều so với sự hình dung của giới nghiên cứu từ trước tới nay). Những sự tiếp xúc đó cũng góp phần tăng cường sắc thái địa phương của từng vùng. Nhưng tính thống nhất của Đông Sơn là nổi bật, là căn bản. Cái “mẫu văn hoá chung” hay nói theo thuật ngữ văn hoá học, cái phần “văn hoá tối thiểu” của thời đại Đông Sơn là rất lớn; được biểu hiện ở bộ công cụ, dụng cụ, vũ khí, nhạc khí, đồ trang sức, nghệ thuật chạm khắc, mô típ trang trí Đông Sơn: rìu lưỡi xéo, mũi dáo, dao găm, thạp thố, vòng tay, khuyên tai... và đặc biệt là trống đồng Đông Sơn (trống đồng loại I Heger).
Làng xóm thời kỳ này thường phân bố ở những nơi đất cao, thậm chí ở sườn núi hay trên những quả đồi đất... nhưng bao giờ cũng nằm gần các hệ thống sông lớn hay các chi lưu của chúng. Khoảng cách giữa làng và sông thường từ 1 đến 5 km...Việc chọn nơi cư trú như vậy cho thấy người Đông Sơn đã tìm cách tốt nhất để thích ứng với tự nhiên. Bởi lẽ, đất cao sẽ khô ráo mà lại tránh được ngập lụt vào mùa mưa. Làng thời kỳ này có quy mô tương đương với xóm hay làng nhỏ ngày nay, có chừng vài trăm người. Ngoài ra, còn thấy hiện tượng một số làng xóm nhỏ quy tụ thành một vài khu vực cư trú đông đúc. Đó là hiện tượng thường gặp đối với cư dân nông nghiệp ở những vùng đồng bằng phì nhiêu.
Có lẽ do hiện tượng chiến tranh đã trở nên thường xuyên (thể hiện trong truyền thuyết, trong tỉ lệ cao của các loại vũ khí, đồ dùng cho binh lính - tỉ lệ vũ khí đồng thau chiếm từ 1/3 đến quá 1/2 toàn bộ đồ đồng ở các di tích Đông Sơn tiêu biểu) nên chung quanh làng, có những vành đai phòng thủ, mà khả năng lớn là các luỹ tre làng. Công trình phòng thủ thực sự với hệ thống thành luỹ quy mô thời Đông Sơn ngày nay người ta mới chỉ biết đến có một, đó là thành Cổ Loa.
Tư liệu khảo cổ học về quy mô, cấu trúc nhà ở, mộ táng, kích thước đồ gốm gia dụng... cho thẩy trong xã hội Đông Sơn hình thành và tồn tại chủ yếu là những gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ, những gia đình này cũng là những đơn vị sản xuất cơ bản. Khi nông dân tăng tiến về dân số, nông nghiệp phát triển về vườn ruộng ao, chuồng trại, về cây trồng, gia súc và năng xuất (nhờ độ phì nhiêu của đất đai đồng bằng cùng kỹ thuật nông nghiệp phát triển) thì cũng có nghĩa là một hệ thống xóm làng đã phát triển, mô hình tổ chức tập hợp các gia đình hạt nhân (nhà tiểu nông), lan dần từ vùng cao xuống vùng thấp, trong những ngôi nhà biến hoá từ nhà sàn đến nhà đất bằng.
- Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam: Từ hội nhập đa nguồn đến hội tụ văn hoá: Trung tâm hay đỉnh cao của văn hoá thời đại kim khí Việt Nam ở miền Trung (từ Đèo Ngang đến Đồng Nai) được gọi theo tên một địa điểm khảo cổ học ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Đó là văn hoá Sa Huỳnh.
Văn hoá Sa Huỳnh tồn tại từ sơ kỳ thời đại đồng thau (trên 3.000 năm cách ngày nay) cho tới sơ kỳ thời đại sắt sớm (thế kỷ VI-VII trước Công nguyên đến thế kỷ I sau Công nguyên). Giai đoạn sớm được gọi là văn hoá Tiền Sa Huỳnh, giai đoạn muộn được gọi là văn hoá Sa Huỳnh. Văn hoá Sa Huỳnh thời đại sắt hay văn hoá Sa Huỳnh cổ điển là bắt nguồn từ những di tích tiền Sa Huỳnh với sự tham góp không nhỏ của các nguồn lực văn hoá ngoại sinh.
Vào thời gian cách đây trên 3.000 năm, tại những vùng đồng bằng nhỏ ven biển, trên các đảo và đảo ven bờ hay ở những gò đất cao ven sông, ven bàu nứoc ngọt, những nhóm cư dân kim khí sớm đã lập làng tụ cư. Trồng trọt đã có một vị trí nào đó trong đời sống kinh tế của họ, cuốc đá hình lưỡi mèo tìm thấy trong các địa điểm khảo cổ học thời kỳ này là chứng cử gián tiếp về thuần dưỡng cây trồng. Tuy vậy, do những quy đinh và tác động của điều kiện môi trường tự nhiên…, đánh bắt cá, khai thác thuỷ hải sản, khai thác rừng… vẫn là những hoạt động sống chính. Giai đoạn đầu công cụ đá đóng vai trò chủ đạo với các loại hình chính như rìu có vai, rìu tứ giác, bôn răng trâu, cuốc hình lưỡi mèo… Đồ trang sức đá không nhiều nhưng thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật chế tác và quan niệm thẩm mỹ tinh tế. Nhiều loại hình đồ đá tiếp tục được sản xuất và sử dụng trong các giai đoạn muộn hơn. Đồ gốm nổi bật với trang trí văn thừng, văn in mép vỏ sò, tô màu… Đa số đồ gốm đẹp được tìm thấy trong các khu mộ địa như Long Thạnh (Quảng Ngãi), Bàu Trám (Quảng Nam), Bãi Ông (Quảng Nam)… Có thể thấy yếu tố biển đóng vai trò quan trọng trong đòi sống vật chất và tinh thần của cư dân giai đoạn này. Táng thức chính của cư dân văn hoá Tiền Sa Huỳnh là mộ nồi, dạng mộ được coi là cổ típ cho những giai đoạn văn hoá sau. Mộ táng giai đoạn này thường được phát hiện ngay trong nơi cư trú.
Các di tích của văn hoá Sa Huỳnh giai đoạn sắt sớm phân bố trên một diện rộng ở hầu khắp các loại địa hình từ Thừa Thiên Huế đến khu vực Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh). So với văn hoá Tiền Sa Huỳnh giai đoạn trước, văn hoá Sa Huỳnh có sức lan toả rộng và mạnh hơn nhiều lần. Các địa điểm thời kỳ này thể hiện tính thống nhất văn hoá trong sự đa dạng mang đặc điểm môi trường sinh thái của từng khu vực địa lý, nhóm người và quan hệ văn hoá… Giai đoạn cuối của nền văn hoá này có những diễn biến và thay đổi văn hoá mang tính chất bước ngoặt.
Một đặc trưng tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh là hình thức mai táng dùng quan tài là nồi, vò, chum bằng đất nung suốt từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn. Tại một số địa điểm như Long Thạnh, Bàu Trám (Tiền Sa Huỳnh), Hậu Xá, Gò Mả Vôi, Bình Châu… (Sa Huỳnh), bên cạnh mộ chum còn thấy mộ đất, song không phổ biến.
Trên địa bàn phân bố của văn hoá Sa Huỳnh từ gò đồi phía Tây cho đến đồng bằng ven biển và hải đảo phía đông, đã phát hiện nhiều khu mộ - Những bãi mộ chum rộng lớn, đôi khi nhiều tầng lớp với những loại hình vò, chum mai táng hình cầu, hình trứng, hình trụ có kích thước từ vừa đến lớn và trong từng loại có những biến thể khác nhau.
Thông thường những chum mộ được tìm thấy ở dạng phân bố theo nhóm từ 2, 3 đến 4 chum. Tuy vậy ở một số khu mộ địa cũng thấy kiểu phân bố lẻ tẻ. Ở một số mộ địa Sa Huỳnh, thời gian chôn mộ diễn ra trong thời gian khá dài - một vài trăm năm, song hiếm có hiện tượng các mộ cắt phá nhau. Dựa vào đây có thể cho rằng, cư dân văn hoá này có cách thức riêng để đánh dấu các ngôi mộ sớm muộn trong cùng một khu vực địa lý. Những địa điểm văn hoá Sa Huỳnh đã được khai quật và nghiên cứu thường chỉ trong diện hẹp, chính vì vậy chưa có đủ dữ liệu để khái quát về cơ cấu, tổ chức xã hội, thân phận, tầng lớp… của những người chết. Tuy vậy, sự phân bố không đều về chất và lượng của đồ tuỳ táng phần nào thể hiện một xã hội có sự phân biệt về của cải và từ đó có khả năng cả thân phận. Giai đoạn cuối, những thế kỷ I - II trước, thế kỷ I sau Công nguyên, những tiếp xúc văn hoá mạnh mẽ với Trung Quốc (Hán), với miền bắc Việt Nam (Đông Sơn) và với các văn hoá khu vực khác nữa càng làm tăng thêm sự phân tầng trong xã hội và là cơ nền cho sự hình thành Nhà nước sơ khai theo kiểu Chiefdom, loại hình nhà nước điển hình của Đông Nam Á giai đoạn này.
Những chum mộ quan tài gốm chôn đứng thẳng, có nắp đậy hình nón cụt, hình lồng bàn, mâm bồng… thậm chí có thể là đáy của một chum khác được tái tận dụng. Đồ tuỳ táng đặt bên trong, bên ngoài, dưới đấy hay ngay trên nắp chum. Hiện tượng làm biến dạng đồ tuỳ táng thường hay gặp song không phải là quy luật bắt buộc cho tất cả các nơi. Bên cạnh đồ tuỳ táng, vết tích khác tìm thấy trong các chum này khá đa dạng. Có chum chứa than tro - được coi là vết tích hoả táng xác người, có chum chứa xương, răng trẻ con hoặc người lớn, cá biệt có khu vực như Cần Giờ, trong nhiều chum có nguyên những bộ xương người lớn. Nhiều nơi, chum chứa hoàn toàn là cát trắng. Hiện nay, có nhiều cách diễn giải táng thức của văn hoá Sa Huỳnh như hoả táng, cải táng, chôn thẳng, tượng trưng… Có lẽ, tất cả những diễn giải này đều có thể áp dụng tuỳ theo không gian và thời gian. Thông thường các chum mộ là chum đơn, song ở một vài địa điểm xuất hiện chum lồng, cá biệt có nơi đã phát hiện cả một quần thể chum lồng theo kiểu trong quan ngoài quách như ở Gò Dừa (Duy Xuyên - Quảng Nam).
Đồ tuỳ táng trong văn hoá Sa Huỳnh rất phong phú về chất liệu và đa dạng về loại hình. Chất liệu kim loại đồng, sắt, vàng, bạc, chất liệu thuỷ tinh nhân tạo, tự nhiên, chất liệu đá quý mã não, ngọc, cẩm thạch… đồ gốm có nhiều tiến bộ về kỹ thuật, đa dạng hình loại và nhiều kiểu thức đồ án trang trí. Đồ tuỳ táng bao gồm năm nhóm cơ bản. Đồ gia dụng, công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức và đồ minh khí.
Nổi bật nhất trong văn hoá Sa Huỳnh là bộ công cụ và vũ khí bằng sắt. Tại những địa điểm mộ chum Sa Huỳnh giai đoạn từ khoảng thế kỷ III - IV trước Công nguyên, đồ sát chiếm lĩnh về cả số lượng và chất lượng. Đồ sắt được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp rèn. Nếu thống kê các đồ sắt Sa Huỳnh đẫ được phát hiện đến nay thì số lượng lên tới hàng trăm chiếc, chủng loại đa dạng gồm rựa, dao quắm, giáo, mai, liềm, thuổng, kiếm ngắn, dao, qua… Đặt trong tương quan với các trung tâm văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc, văn hoá Đồng Nai ở phía Nam, số lượng và sự phổ biến rộng rãi của đồ sắt trong văn hoá Sa Huỳnh có nhiều trội vượt. Trong bộ sưu tập hiện vật sắt, nét chủ đạo là tính thống nhất về loại hình và kỹ thuật dù được phát hiện trong / tại nhiều địa điểm mang tính địa phương hay khu vực rõ nét. Có thể nói, sắt đã đóng vai trò thống nhất và kết tinh văn hoá ở miền Trung Việt Nam thời Sơ sử. Nguồn gốc của nghề luyện kim sắt chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, trong một số địa điểm đã tìm thấy dấu tích của rèn sắt và luyện gang tại chỗ, như ở Đại Lãnh - Đại Lộc Quảng Nam. Có thể, luyện kim sắt văn hoá Sa Huỳnh có mối quan hệ chặt chẽ với những khu vực Đông Nam Á lục địa như Thái Lan… Giai đoạn cuối trong loại hình công cụ và vũ khí bằng sắt thể hiện sự giao lưu văn hoá với Trung Hoa thời Hán qua các loại hình như mũi nhọn, dao có chuôi hình vành khăn kiểu Tây Hán.
So với đồ sắt, đồ đồng ít hơn nhiều về số lượng. Tuy vậy trong một vài năm gần đây, tại các khu mộ táng văn hoá Sa Huỳnh giai đoạn sớm đã tìm thấy nhiều đồ đồng tuỳ táng gồm công cụ, vũ khí, đồ tế lễ… Nhiều đồ đồng được phát hiện cả ở mộ chum, cả ở mộ đất. Phần lớn đồ đồng có thể là sản phẩm của trao đổi với văn hoá Trung Hoa Hán nhu bát đĩa, gương (giai đoạn cực muộn) với văn hoá Đông Sơn như trống đồng, công cụ và vũ khí (giai đoạn sớm hơn). Tất nhiên, điều này không loại trừ việc sản xuất tại chỗ, tuy chứng cứ còn quá ít. Vết tích của đúc đồng được tìm thấy ở Bình Châu, Trảng Đổng Du - Bàu Trám, một vài khuôn đúc bằng đá tìm thấy ngẫu nhiên ở Khánh Hoà, Ninh Thuận…
Cùng với việc đạt đến trình độ cao của kỹ thuật chế tạo sắt (cả việc đúc gang), cư dân văn hoá Sa Huỳnh còn đạt đến bước phát triển cao với các nghề se sợi, dệt vải, chế tạo gốm, chế tác đồ trang sức. Trong các di tích tìm thấy nhiều dọi xe chỉ các loại, dấu vết vải từ thô đến mịn còn lại khá nhiều trên các đồ tuỳ táng bằng đồng, bằng sắt. Nghề làm gốm rất phát triển, thể hiện trong mọi khía cạnh từ kỹ thuật, độ nung đến tạo hình, trang trí. Đặc điểm nổi bật của gốm Sa Huỳnh là những đồ gốm lớn đến rất lớn, đòi hỏi kỹ năng khéo léo và kỹ thuật cao trong chế tác và khống chế độ nung. Rất tiếc cho tới nay chưa phát hiện được lò gốm trong văn hoá này. Rất có khả năng đó là loại lò nửa kín và thường nằm sát bờ sông (hoặc những chum gốm lớn này bản thân đã là lò nung giống như một vài trường hợp trên thế giới thời cổ đại). Điều này, một mặt thuận tiện cho việc chuyên chở nguyên liệu và sản phẩm, song mặt khác lò lại rất dễ bị sụt lở trong những đợt lũ lụt lớn nhỏ hàng năm. Bên cạnh chum, nắp gốm mai táng, đồ tuỳ táng gốm rất đa dạng và phong phú bao gồm bát bồng, đèn, bình hình lẵng hoa, bình con tiện, cốc cao chân, nồi, bát, đĩa, cốc… Gốm được trang trí đẹp với những đồ án hoa văn đa dạng, khắc vạch kết hợp tô màu, những đồ án và phong cách trang trí từ giai đoạn Tiền Sa Huỳnh tiếp tục tồn tại và phát triển trong giai đoạn này. Tô màu đen và đỏ thành từng băng uốn lượn hay góc cạnh, xen lẫn những băng bên trong trang trí những đường vạch nhỏ, chấm dải, in mép sò…trở thành phương pháp trang trí phổ biến. Văn thừng đóng vai trò kỹ thuật hơn là trang trí, kiểu loại văn thừng giai đoạn này đơn giản hơn so với giai đoạn sớm. Nhiều đồ gốm được nung ở nhiệt độ cao, lửa được không chế một cách chủ động nên có một số đồ gốm cứng như sành.
Cư dân văn hoá Sa Huỳnh là những người có năng khiếu, khéo tay và mỹ cảm phát triển. Họ rất thích dùng đồ trang sức (vòng, nhẫn, khuyên tai, vật đeo hình dấu phảy, hạt chuỗi…) bằng thuỷ tinh, mã não, đá quý, đá, đất nung… Chất liệu được ưa thích nhất là mã não và thuỷ tinh. Khuyên tai (hay bùa đeo) hai đầu thú và khuyên tai ba mấu là một loại hình chế phẩm Sa Huỳnh đặc thù. Trong các di tích văn hoá Sa Huỳnh đã tìm thấy một số lượng lớn hai loại hình này. Trong khi khuyên tai ba mấu phân bố ở hầu khắp các địa điểm thì loại hai đầu thú cho tới nay được phát hiện chỉ ở một số vùng.
Ở di tích Đại Lộc - Quảng Nam và Giồng Cá Vồ - Tp. Hồ Chí Minh phát hiện nhiều khuyên tai hai đầu thú đang chế tác dở. Trong một số di tích đương đại của văn hoá Đông Sơn (Bắc Việt Nam), Philippines, Thái Lan… cũng tìm thấy những kiểu khuyên tai này. Đây được coi là những bằng chứng về sự lan toả ảnh hưởng của văn hoá Sa Huỳnh. Trong đồ gốm, đồ trang sức… dễ dàng nhận thấy những nét chung giữa văn hoá Sa Huỳnh và một số văn hoá khác cùng thời ở Đông Nam Á hải đảo.
Trước đây, các học giả Pháp cho rằng chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh là những người đi biển, đất liền chỉ là nơi chôn cất người chết. Hiện nay, số lượng và vết tích nơi cư trú của văn hoá này khá hiếm hoi. Tuy vậy, vẫn có thể khẳng định qua những chứng cứ gián tiếp rằng văn hoá Sa Huỳnh là sản phẩm của những cư dân sống định cư trên đất liền với xu hướng hướng biển mạnh mẽ. Hệ sinh thái chủ đạo tạo nên nhiều đặc trưng văn hoá là hệ sinh thái Cồn - Bàu. Nền kinh tế đa thành phần kết hợp giữa trồng lúa nước ở các đồng bằng nhỏ duyên hải, trồng lúa kiểu nương rẫy ở vùng đồi gò. Trong các di tích đã phát hiện những công cụ liên quan đến trồng trọt và phá rừng làm nương rẫy bằng đá (tiền Sa Huỳnh), bằng sắt, đồng (Sa Huỳnh) như cuốc, liềm, rìu, dao quắm (rựa)… Cư dân văn hoá này sớm biết khai thác những nguồn lợi của biển, của rừng, biết phát triển các nghề thủ công, từng bước họ đã mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với các cư dân trong khu vực Đông Nam Á lục địa, hải đảo và rộng hơn với Ấn Độ, với Trung Hoa. Đặc biệt ở giai đoạn cuối, nghề buôn bán bằng đường biển rất phát triển. Ở ven biển miền Trung, vào những thế kỷ trước, sau Công nguyên đã hình thành một số tiền cảng thị hay cảng thị sơ khai.
Văn hoá Sa Huỳnh một mặt có nguồn gốc bản địa từ những nhóm di tích, văn hoá Tiền Sa Huỳnh. Mặt khác, những nguồn lực và ảnh hưởng ngoại sinh cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Với vị thế địa văn hoá cầu nối giữa lục địa và hải đảo và đường bờ biển dài nhiều vụng vịnh, miền Trung Việt Nam ngay từ thời tiền sử dã là nơi gặp gỡ của nhiều luồng cư dân, ngôn ngữ và văn hoá. Những tư liệu khảo cổ học gần đây cho thấy vào giai đoạn cuối của văn hoá Sa Huỳnh sự giao lưu văn hoá (tự nguyện và cưỡng bức) rất mạnh mẽ với văn hoá Đông Sơn, với văn hoá Hán. Ảnh hưởng của những văn hoá này vào văn hoá miền Trung Việt Nam những thế kỷ I -II trước và sau Công nguyên có tác động sâu và rộng hơn rất nhiều so với sự hình dung của chúng ta từ trước tới nay.
Mật độ phân bố di tích cũng như quy mô lớn rộng của các di tích văn hoá Sa Huỳnh (bằng chứng của sự quần tụ đông đúc dân cư ); sự phong phú về kiểu loại; số lượng lớn của các loại hình hiện vật từ nhiều chất liệu (dấu hiệu về sức sản xuất mạnh mẽ); vũ khí chiếm một tỷ lệ không nhỏ và với một số kiểu vũ khí ảnh hưởng văn hoá Hán (dấu hiệu của xung đột bên trong và bên ngoài); đồ tuỳ táng phân bố không đều cả về chất và lượng (bằng chứng về sự phân tầng xã hội), tất cả đều là những tư liệu gián tiếp về sự hình thành và tồn tại của một kiểu nhà nước sơ khai trong giai đoạn này.
Chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh có quan hệ cội nguồn với các văn hoá hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồng thau ven biển. Với cốt lõi là văn hoá Bàu Tró mà chủ nhân của các văn hoá trên được các nhà nghiên cứu coi là những người tiền Ma Lai-Pôlinêdi. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, văn hoá Sa Huỳnh còn có những quan hệ cội nguồn hay giao lưu với những văn hoá hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng thau của miền cao nguyên Lâm Đồng mà chủ nhân của những văn hoá trên được coi là tiền Môn - Khmer hay tiền Nam Á. Ngoài ra còn có những mối giao lưu rộng rãi với các cư dân kim khí Đông Nam Á hải đảo và lục địa. Với vị thế địa văn hoá của mình, dải đất ven biển miền Trung cũng còn là nơi tiếp nhận của không ít nhưng làn sóng di dân từ phương bắc, phương đông và phương Nam trong diễn trình tiền - sơ sử. Tất cả những yếu tố này đã tạo nên một bức tranh văn hoá miền Trung phong phú, đa dạng với những sắc màu riêng. Chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh theo các nhà nghiên cứu nói tiếng Nam Đảo hay Malay - Polynedien với nhiều yếu tố Nam Á.
- Truyền thống văn hoá Đồng Nai: Quá trình chinh phục và chiếm lĩnh miền châu thổ sông Mekong và duyên hải Nam Bộ: Vào khoảng hơn 4.000 năm cách ngày nay, trên đất Nam Bộ đã có những cộng đồng cư dân sinh sống ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau. Họ là chủ nhân của nền văn hoá Đồng Nai thuộc thời đại kim khí (đồng thau và sắt sớm).
Những di tích của văn hoá này phân bố suốt từ vùng đồi gò cao cho tới trung, hạ lưu sông Đồng Nai và các chi lưu và vùng sinh thái ngập mặn ven biển. Mỗi một tiểu môi trường sinh thái ứng với một mô thức kinh tế-văn hoá thích hợp.
Ở vùng đồi đá phiến và bazan đất đỏ thuộc Đồng Nai có những di tích (cư trú, mộ táng, xưởng) diện tích lớn, tầng văn hoá dày. Đây là vùng phát sinh và quần tụ quan trọng liên tục nhất của văn hoá Đồng Nai với những di tích Cầu Sắt, Suối Chồn, Phú Hoà, Hàng Gòn.
Ở vùng đồi đá phiến và bazan đất đỏ dải cao nguyên Sông Bé có loại hình di tích đặc trưng là công trình đất đắp hình tròn với hai vòng thành và hào sâu ở Lộc Ninh - Bình Long.
Vùng liên kết đồi bazan - đá phiến - phù sa cổ dọc hệ thống Sông Bé - Đồng Nai, nơi tập trung dày đặc các di tích, di chỉ - mộ táng - xưởng thủ công đơn hay đa ngành tiêu biểu nhất là Suối Linh, Bình Đa, Dốc Chùa.
Vùng phù sa đất xám thuộc hệ thống sông Vàm Vỏ với những di chỉ, di chỉ kèm mộ đất như An Sơn, Gò Rạch Rừng, Dinh Ông, Rạch Núi.
Vùng đồng bằng phù sa mới miền châu thổ hạ lưu sông Đồng Nai - Vàm Cỏ và những đầm lầy không và nhiễm mặn cận biển tiểu vùng kinh tế - văn hoá mới tạo thành từ đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên như Cái Vạn, Bưng Bạc, Bưng Thơm, Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ …
Mật độ phân bố di tích thời đại kim khí Đông Nam Bộ khá đậm đặc. Nhiều di tích có quy mô lớn hàng vạn mét vuông. Loại hình di tich ở đây cũng khá đa dạng: Di tích cư trú, di tích cư trú - mộ táng, di tích cư trú - xưởng hay di tích công xưởng...
Đồ đá là loại di vật phổ biến và có số lượng lớn. Đây cũng là đặc trưng nổi trội của văn hoá Đồng Nai - Nơi mà công cụ - dụng cụ bằng đá lấn át mạnh mẽ và lâu dài kim loại do thiếu vắng các nguồn quặng đồng và hợp kim bản địa trong toàn miền. Loại hình được coi là đặc trưng và mang phong cách văn hoá Đồng Nai là rìu bôn có vai và không có vai. Tỷ lệ giữa rìu bôn có vai và không vai là một trong những tiêu chí phân giai đoạn và loại hình văn hoá. Loại hình trang sức đá thường gặp là các loại vòng, vật đeo. Tại di tích đồi Phòng Không đã tìm thấy nhiều dấu tích của xưởng chế tác với nghề chuyên làm vòng đá. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, kỹ năng chế tác đồ đá của chủ nhân văn hoá Đồng Nai không thua kém bất cứ nền văn hoá đồng đại nào trong khu vực.
Loại chế phẩm bằng đá đặc sắc trong văn hoá Đồng Nai là đàn đá - nhạc cụ thuộc bộ gõ. Đàn đá có mặt ở nhiều di tích , niên đại cách ngày nay khoảng 3.000 năm.
Nghề đúc đồng và luyện kim đồng đã xuất hiện vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay và đồ đồng phổ biến rộng rãi vào khoảng trên 3oo năm cách ngày nay. Nhiều di chỉ đúc đồ đồng đã được phát hiện ở Suối Chồn, Bưng Thơm, Bưng Bạc, Dốc Chùa với những hiện vật gắn với quá trình chế tác như khuôn đúc. Theo các nhà nghiên cứu, lưu vực sông Đồng Nai là một bộ phận hay mắt xích trong chuỗi tiến trình luyện kim ở Đông Nam Á giai đoạn sớm có quan hệ mật thiết với kỹ nghệ đồng thau ở khu vực Vân Nam (Trung Hoa) và Đông Bắc Thái Lan qua đường sông Mekong.
Đồ gốm được trang trí bằng các loại hoa văn thừng, chải, khắc vạch, chấm dải, tô màu. So với những khu vực khác hoa văn gốm Đồng Nai đơn giản và mộc mạc hơn. Giai đoạn muộn của văn hoá Đồng Nai được đặc trưng bởi những khu mộ chum kiểu mộ chum văn hoá Sa Huỳnh với những loại hình hiện vật bằng sắt, bằng đá, mã não, thuỷ tinh bên cạnh những đặc thù riêng biệt mang tính địa phương của văn hoá Đồng Nai. Về sự xuất hiện của những di tích mộ chum này còn khá nhiều ý kiến chưa thống nhất về nguồn gốc và tên gọi. Tuy vậy, một điều dễ nhận thấy là sự có mặt chắc chắn của các yếu tố văn hoá Sa Huỳnh ở vùng biên giữa hai nền văn hoá.
Dựa trên hệ thống tư liệu trực tiếp và gián tiếp, các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng những hình thức quan trọng và phổ biến nhất trong đời sống kinh tế truyền thống Đông Nam Bộ là trồng lúa cạn không dùng sức kéo. Cư dân cổ Đồng Nai phát triển nền nông nghiệp dùng cuốc ở trình độ cao, bên cạnh cây lúa là là các loại rau đậu, cây có quả - củ cho bột. Phương pháp canh tác đặc thù của nông nghiệp nương rẫy là phát - đốt. Chăn nuôi, săn bắt, hái lượm, đánh bắt thuỷ hải sản cũng đặc biệt được coi trọng (số lượng xương sừng trong các di tích Bưng Bạc, An Sơn, Rạch Núi... lên tới hàng chục kg). Hái lượm, đánh bắt cá tôm và nhuyễn thể của sông biển.
Khi so sánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật và văn hoá của những nhóm cư dân trong văn hoá Đồng Nai, nhà nghiên cứu Phạm Đức Mạnh cho rằng cần nhấn mạnh đến đặc thù của quá trình chuyên môn hoá-phân công lao động-phân vùng kinh tế nhập hoà với từng miền sinh cảnh. Cần có sự quan tâm đặc biệt đến mối ràng buộc thiết yếu giữa những ngành kinh tế chủ đạo nông nghiệp với nghề trồng lúa cạn là phổ cập và cả nghề trồng lúa nước ở những tiểu vùng khả thực nhất, (trồng hoa màu, cây có củ - quả và chăn nuôi) và những ngành cung ứng lương thực - thực phẩm tiền sử khác (săn bắn / bắt, đánh cá hái lượm theo phổ rộng những sản phẩm thực - động vật của rừng, suối sông, đầm lầy và biển). Giữa nông nghiệp - khai thác- thủ công (sản xuất đá- công cụ và trang sức; chế luyện kim loại - đúc đồng và rèn sắt, chế tạo gốm - đồ đựng, bàn xoa và dọi se sợi, dệt vải) và thông thương nội, ngoại.
Đời sống tinh thần của cư dân văn hoá Đồng Nai được biết đến qua những hiện vật nghệ thuật. Tín ngưỡng đặc sắc nhất là sưu tập thẻ đeo bằng đá cuội mài dẹt hình gần ovan hoặc chữ nhật và bán cầu có lỗ thủng tròn hay tạo núm ở đầu. Tượng động vật như tượng lợn, rùa bằng sa thạch, tượng chó săn mồi bằng đồng ở Dốc Chùa, tượng Long Giao bằng đồng… bên cạnh ý nghĩa nghệ thuật còn mang tải một nội dung tín ngưỡng, nghi lễ nào đấy. Ngoài ra còn phải kể đến sưu tập đàn đá hơn 60 thanh ở Bình Đa, những thanh đàn đá hay đá kêu ở một số địa điểm khác. Bên cạnh đó là sự hội nhập của không ít yếu tố văn hoá trong khu vực như trống đồng Đông Sơn, khuyên tai ba mấu, hai đầu thú của văn hoá Sa Huỳnh…
Văn hoá Đồng Nai đặc biệt là giai đoạn cuối đã trở thành nền tảng cho sự hình thành một kiểu nhà nước sơ khai. Đó là khi kim loại thực sự đã chiếm vị trí quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống của cư dân, mở rộng những tiểu vùng kinh tế sản xuất và khai thác mới, củng cố những liên hệ kinh tế - văn hoá nội vùng, thành tạo những điều kiện tập trung của cải phân bố giàu nghèo và cố kết quyền lực trung tâm, hình thành cơ cấu xà hội phân tầng. Điều này được thể hiện qua sự có mặt của những hầm mộ bằng đá lớn (cự thạch), sưu tập qua đồng Long Giao, trống đồng Đông Sơn ở Bình Dương, Bình Phước... những khu mộ địa với những bộ đồ tùy táng giàu có ở Dốc Chùa, Cần Giờ, Xuân Lộc...
- Những trung tâm văn hoá thời đại kim khí Thái Lan: Tương tự như ở Việt Nam, bước vào thời đại kim khí những cộng đồng cư dân nông nghiệp sớm hậu kỳ đá mới đã lan toả, mở rộng không gian cư trú của mình ra nhiều vùng. Vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay đã hình thành những trung tâm văn hoá với cốt lõi là những thành tựu luyện kim đồng và sắt và nghề chế tác đồ gốm phân bố ở đồng bằng miền trung Thái Lan, cao nguyên Khorat, trung lưu, thượng lưu sông Chi… Theo các nhà nghiên cứu, Thái Lan có hai khu vực văn hoá cơ bản: Đồng bằng Miền Trung và cao nguyên Khorat ở miền Đông Bắc. Ở mỗi khu vực có thể nhận thấy những nền văn hoá tiền - sơ sử dọc theo những sông lớn và chi lưu của chúng. Ở Thái Lan sông đóng vai trò quan trọng giống như các nước khác ở Đông Nam Á. Khi đề cập tới nội dung văn hoá thời đại kim khí nói chung và luyện kim nói riêng ở Thái Lan cần lưu ý những điểm sau:
Đa phần những tài liệu khảo cổ học được thu thập từ di chỉ mộ táng, hay cư trú xen lẫn mộ táng. Khung niên đại được xác định chủ yếu dựa vào kết quả định từ những mẫu phân tích C14 hay AMS.
Những hiện vật đồng phát hiện được đều là những công cụ định hình và được làm từ đồng thau.
So sánh với Việt Nam, ở Thái Lan cho đến nay chưa thấy chứng cứ về giai đoạn phôi thai của luyện kim. Trong tất cả các nước ở Đông Nam Á, mới chỉ có ở Thái Lan là đã phát hiện được vết tích của các hoạt động khai khoáng đồng có niên đại khoảng 3.000 năm cách ngày nay.
- Đông Bắc Thái Lan - Cao nguyên Khorat: Những cộng đồng cư dân khai khoáng, buôn bán kết hợp trồng lúa: Địa hình: Phía tây và nam là dãy núi Petchbun và Dang Raek, còn phía bắc và đông là sông Mekong.
Tại vùng này đã có sự thay đổi cơ bản về địa bàn cư trú từ giai đoạn săn bắt - hái lượm sang giai đoạn trồng trọt, chăn nuôi từ mái đá xuống dọc các thềm sông cổ. Miền bắc của cao nguyên Khorat là nơi đã được điều tra khá kỹ. Tại đây, đã phát hiện được một loạt những dịa điểm cư trú từ khá nhỏ (0,5 - 0,8ha) ở những gò nhỏ đến những làng phòng thủ lớn (đến 117ha).
Khu vực này là nơi có nhiều phát hiện lớn những chứng cứ về hoạt động khai thác và luyện đồng. Trong đó đáng chú ý nhất là Phu Lon bên bờ sông Mekong.
Phu Lon là một khu mỏ đồng nằm bên bờ sông Mekong, mỏ đồng phân bố trên hai quả đồi Phu Lon I và Phu Lon II. Tại đây đã tìm thấy những hiện vật liên quan đến các hoạt động khai khoáng, luyện quặng, đúc đồng. Đồng thời dấu tích cư trú cũng đã được phát hiện, đó là những công cụ sản xuất bằng đá và bằng đồng thau, những mảnh vòng đá cùng nhiều mảnh gốm. Dựa vào kết quả phân tích niên đại C14 (1750-1425 trước Công nguyên) và những mẫu ở lớp trên, các nhà khảo cổ học tham gia khai quật cho rằng việc khai khoáng và luyện kim ở đây tồn tại trong suốt thiên niên kỷ II-I trước Công nguyên). Khu mỏ này bao gồm những hầm mỏ dài hàng chục mét trong đá mẹ và có ít nhất ba công đoạn khai khoáng. Quặng được nghiền bằng chày đá, được nấu chảy trong nồi bằng đất nung. Khu mỏ đã được khai thác trong một thời gian khá dài.
Một địa điểm mộ táng và cư trú xen lẫn mộ táng quan trọng ở khu vực này là Non Nok Tha ở tỉnh Khon Ken, địa điểm này nằm gần nguồn đồng Loei. Qua hai lần khai quật, người ta đã tìm thấy rất nhiều công cụ đồng như rìu đồng, khuôn đúc đồng, nồi nấu đồng. Loại rìu phổ biến là rìu xoè cân, trên thân gần chuôi có 2 hoặc 3 đường chỉ nổi trang trí (kiểu rìu phổ biến ở lưu vực sông Đồng Nai) và rìu có vai thân hẹp lưỡi dài (loại này đã thấy ở Samrong Sen, Campuchia).
Đồ gốm ở đây cũng rất nhiều và có nhiều loại hình nguyên do được tìm thấy trong mộ. Mặc dù gần địa điểm Ban Chiang, nơi có truyền thống gốm tô màu phát triển, nhưng gốm Non Nok Tha phần lớn để trơn hay trang trí khắc vạch.
Những người khai quật dựa trên một loạt niên đại nhiệt huỳnh quang đã cho rằng đây là địa điểm chứa đồ đồng sớm nhất, ngay ở lớp mai táng sớm khoảng 2500 năm trước Công nguyên. Sự diễn giải về niên đại cũng như về văn hoá của địa điểm này thực sự khó khăn bởi những mâu thuẫn trong chuỗi niên đại C14 và Nhiệt huỳnh quang. Dựa vào những niên đại AMS mới, Higam cho rằng nghĩa địa ở Non Nok Tha có niên đại thiên niên kỷ II trước Công nguyên, những mộ sớm nhất có thể có niên đại 2.000-1.500 BC, song phần lớn các mộ, kể cả những mộ có hiện vật đồng nằm trong khoảng từ 1.500 đến 1.000 BC. Nếu so sánh với những địa điểm miền bắc Việt Nam, những chuỗi văn hoá ở Non Nok Thà có thể cùng thời với văn hoá Đồng Đậu và Gò Mun từ 3.500-2.700 cách ngày nay.
Non Nok Tha cho chúng ta chứng cứ về tổ chức và quy mô của hoạt động đúc đồng bản địa. Theo các nhà nghiên cứu, những khuôn đúc đã tìm thấy ở Đông Nam Á cho thấy một phong cách đúc đồng bằng khuôn kín, khác với những vùng khác, như Ấn Độ, có khi đúc đồng bằng khuôn hở, một mang. Tỉ lệ phần trăm của thiếc khá cao trong hợp chất đồng thau cũng được xem là đặc điểm riêng của Đông Nam Á.
Một địa điểm quan trọng khác của khu vực đông bắc Thái Lan là Bản Chiang, một địa điểm nổi bật với truyền thống gốm vẽ màu độc đáo.
Địa điểm Bản Chiang, làng Bản Chiang, Udon Thani, đông bắc Thái Lan. Đây là một trong một số địa điểm đã được khai quật ở cao nguyên Khorat. Văn hoá Ban Chiang phát triển trong thời gian từ 3.600 BC đến 200 AD. Văn hoá này phân bố ở bốn tỉnh Udon Thani, Sakon Nakon, Nakhon Pahnom và Khon Kaen và có nhiều nét tương đồng với những văn hoá cùng thời ở Đông Nam Á. Trong giai đoạn sớm nhất chưa có đồng song gốm rất phát triển.
Niên đại những lớp văn hoá sớm muộn của Ban Chiang được xác định chủ yếu qua kết quả C14 và khác nhau giữa những người, những lần khai quật. Trước đây, địa điểm này thường được đưa ra để chứng minh về sự xuất hiện của nghề luyện kim màu rất sớm ở Đông Nam Á, nhưng hiện nay, xu hướng này đã bị khá nhiều người phản đối và đại bộ phận các học giả cho rằng đúc đồng xuất hiện ở Đông Nam Á vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay và vào khoảng 3.000 năm cách ngày nay, đúc đồng theo kỹ thuật khuôn sáp đã xuất hiện. Từ thế kỷ I Công nguyên đã diễn ra những thay đổi quan trọng về văn hoá xã hội và luyện kim đen phát triển.
Khu vực này còn có địa điểm Bản Na Di, một địa điểm có vai trò quyết định trong việc xác định lại trật tự niên đại của chuỗi phát triển từ đồng thau sang sơ kỳ thời đại đồ sắt.
Bản Na Di cách Bản Chiang 20 km về phía nam, tại đây đã xác định được năm lớp văn hoá tiền sử dày 4m. Nhiều hố đào được tìm thấy, một số có lớp than dày. Nhiều xác người lớn (phụ nữ, đàn ông) trẻ em và trẻ con. Trẻ con đựơc chôn ngay gần người lớn mà không để trong vò. Mộ táng được tìm thấy ở lớp 6, 7 gồm 60 mộ. Mộ có hướng bắc-nam. Trong khu vực mộ đã phát hiện 1 khu chế tác đồng gồm lò bằng đất, muôi nấu và khuôn có niên đại khoảng 1.000 trước Công nguyên .
Từ giai đoạn mộ táng có 10 niên đại C14, 1313-903 trước Công nguyên. Lúc đầu những người khai quật (Higham và Kijngam) xác định giai đoạn mộ táng có niên đại 900-100 trước Công nguyên. Hiện nay theo Higham nghĩa địa có niên đại 600-400 trước Công nguyên thuộc giai đoạn hậu kỳ đồng - sơ kỳ sắt.
Vấn đề gây nhiều tranh cãi nhiều nhất chính là niên đại tuyệt đối của hai địa điểm Bản Chiang và Non Nok Tha liên quan đến nguồn gốc và niên đại của luyện kim màu và luyện kim đen ở Đông Nam Á. Hiện nay có tới ba hệ niên đại sớm, giữa và muộn cùng tồn tại. Higham cho rằng, niên đại các lớp ở hai địa điểm kể trên về cơ bản giống với phổ hệ đồng thau lưu vực sông Hồng. Tức là đồ đồng xuất hiện vào giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Theo Hà Văn Tấn, những lớp dưới cùng của Ban Chiang hay lớp đáy của Ban Na Di có những hình phảng phất phong cách Phùng Nguyên. Còn giai đoạn III Ban Chiang hay lớp 7 và 8 của Bản Na Di có thể tương đương với Đồng Đậu hay Gò Mun. Giai đoạn IV Bản Chiang trở đi có thể tương đương với văn hoá Đông Sơn và giai đoạn V Bản Chiang tương đương với giai đoạn muộn của văn hoá Đông Sơn
(15).
Đông Bắc Thái Lan là một trung tâm kim khí với một quá trình phát triển liên tục từ đầu thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại sắt, trung tâm này có mối quan hệ giao lưu chặt chẽ với các nhóm cư dân ở khu vực Vân Nam phía bắc với cư dân vùng hạ lưu sông Mekong qua dòng chủ lưu là sông Mekong.
- Đồng bằng Miền Trung: Nơi tụ cư của những cộng đồng đúc đồng, trồng trọt và đánh cá: Tại địa bàn này có những địa điểm chính như: Non Pa Wai- Giai đoạn II; Nong Nor; Nil Kham Haeng, Khok Phlap có chuỗi diễn tiến văn hoá liên tực từ sớm đến muộn theo phân kỳ của các nhà nghiên cứu:
Giai đoạn sớm được gọi là thời đại Đá mới 2.500-1.500 BC. Giai đoạn giữa cho thấy sự phát triển của kỹ nghệ đồng từ năm 1.500-1.000 BC. Giai đoạn muộn 1.000 BC sắt bắt đầu được sử dụng.
Ở đây, có lẽ lô gic hơn để lấy mốc 500 BC phân chia giai đoạn giữa và muộn, điều đó sẽ phù hợp hơn với sự xuất hiện của việc xuất hiện của hiện vật bằng sắt trong cả khu vực Đông Nam Á.
Phần lớn các địa điểm có quy mô từ 0,33 đến 6,3 ha và mở rộng hơn ở giai đoạn giữa và muộn cho đến 10-20 ha. Một số học giả cho rằng những địa điểm lớn chứng tỏ sự lớn mạnh của phức hợp chính trị - xã hội và sự phát triển kinh tế bộ lạc.
Trong nhóm địa điểm ở vùng này, nổi bật hơn cả là địa điểm Non Pa Wai: Có sự không đồng nhất trong mô tả về địa tầng trong hai sách của Higham 1989 và 1996. Trong mô tả năm 1989 chúng ta thấy:
Non Pa Wai là một đồi rộng chừng 5 ha chứa vết tích hoạt động đúc đồng dày tới 3m. Tại đây, đã phát hiện hàng trăm mảnh của khuôn đúc đất nung hai mang, muôi nấu đồng, ống thổi, quặng đồng, khuôn đúc thỏi đồng nguyên liệu. Phía dưới tầng này là nghĩa địa, trong có mộ chôn theo khuôn đúc.
Trong mô tả năm 1996, tác giả cho biết:
Địa tầng: Lớp sớm nhất dày từ 2-3m, kéo dài khoảng 8 thế kỷ. Đây là tầng cư trú sớm và nghĩa địa.
Giai đoạn bỏ hoang, khoảng 5 thế kỷ. Khi địa điểm được tái cư trú, có một số mộ đã cắt vào đó. Một mộ chứa bộ xương người đàn ông khoảng 25 tuổi, đồ chôn theo có khuôn 2 mang đất nung đúc rìu. Mộ khác có chôn theo rìu như thế.
Lớp mà từ đó có những mộ cắt vào chứa xỉ đồng và muôi múc đồng báo hiệu hoạt động luyện kim kéo dài 8 thế kỷ và dày 2-3m
Mô tả năm 1989
Mô tả 1996
Trên: Vết tích của hoạt động đúc đồng dày 3m.

Dưới: Dưới lớp này là nghĩa địa mà trong đó đã tìm thấy một bộ xương chôn theo 2 khuôn đúc rìu đất nung
Lớp muộn: Mộ táng, một số mộ cắt phá vào lớp giữa. Hoạt động luyện kim.
Lớp giữa: Giai đoạn không có vết tích văn hoá khoảng 500 năm. Bị một số mộ muộn cắt vào. Trong đó có mộ có vết tích của một người đàn ông 25 tuổi, chôn cùng hai khuôn đúc rìu bằng đất nung.
Lớp sớm nhất: Địa điểm cư trú và nghĩa địa dày 2-3 m.
Dựa vào một vài niên đại C14, Higham cho rằng hoạt động đúc đồng bắt đầu ở đây vào giai đoạn 1.500-1.000 BC.
- Đồng bằng Tonle Sap: Tình hình nghiên cứu ở Campuchia gần như bị tê liệt do nguyên nhân chính trị. Do vậy tư liệu hầu như không có ngoại trừ những tư liệu cũ. Vài năm gần đây, hoạt động khảo cổ học ở nước này đã bắt đầu trở lại, song kết quả chưa được công bố đầy đủ, ngoại trừ Dự án khảo cổ học hạ lưu sông Mekong (LOMAP).
Samrongsen: Tại đây đã tìm thấy một số hiện vật đồng, gồm rìu có họng, giáo có họng, vòng tay, chuông và muôi nấu đồng vẫn còn đọng xỉ cũng như khuôn đúc rìu đồng. Niên đại C14 của vỏ sò từ 1749-1235 BC, phù hợp với niên đại ở đông bắc Thái Lan. Một số đồ trang sức giống như ở Khok Phanom Di.
O Pie Can: Khuôn đúc sa thạch đúc rìu và liềm cũng như mảnh muôi nấu đồng.
O Yak: Vòng tay đồng tìm được cùng với mộ hung táng gần O Pie Can.
Nhìn chung, trong thời đại đồ đồng làng cư trú phân bố trên những vùng đất cao gần những vùng thấp ở trung lưu các dòng sông. Sự lựa chọn vùng cư trú cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa phương thức kiếm sống và môi trường. Theo White, yếu tố chủ đạo nhất trong lựa chọn nơi sinh sống là môi trường ngập nước thường xuyên nhưng không ngập sâu. Lúa hoang vẫn mọc ở rìa các sông và mọc vào mùa mưa, ngập nước.
Dữ liệu cả ở mộ táng và nơi ở cho thấy đây là những cộng đồng nhỏ, không có dấu hiệu về trật tự xã hội và cai trị trung tâm, họ chọn những vùng đất thấp gần nguồn nước và ngập nước để thúc đẩy trồng lúa nước. Trên thực tế vết tích lúa gạo đã tìm được ở một số địa điểm hậu kỳ đá mới và đồ đồng. Chứng cứ thực vật và động vật cũng cho thấy hoạt động sống bao gồm gặt lúa, nuôi gia súc, ít nhất có bốn loại con vật đã được thuần dưỡng như lợn, chó, gà, săn bắt, bẫy, đánh cá và thu lượm nhuyễn thể. Cần lưu ý rằng săn bắt và hái lượm luôn đóng vai trò rất quan trọng ở Đông Nam Á không chỉ trong thời tiền sử.
Đa phần các địa điểm thời đại đồ đồng ở Thái Lan là khu mộ táng. táng thức phổ biến là chôn nằm ngửa từng nhóm thành hàng. Đồ tuỳ táng có gốm, hiện vật đá và đồng. Đồ tuỳ táng phần nào thể hiện phân hoá tài sản cá nhân.
Niên đại khởi đầu của đúc đồng nằm trong khoảng năm 1.500-1.000 BC. Sự tồn tại của những tổ hợp khai khoáng, những nơi đúc đồng... cho thấy sự phát triển của truyền thống đúc đồng bản địa. Phần lớn là khuôn đúc hai mang bằng đá sa thạch. Phần lớn vòng đồng được đúc dựa theo nguyên mẫu đá và nhuyễn thể.
- Thời đại đồ sắt ở Thái Lan và một số khu vực Đông Nam Á lục địa: Ngược lại với giai đoạn trước, giai đoạn này những địa điểm đã biết chủ yếu là di chỉ cư trú, rất ít mộ táng được khai quật trên diện rộng.
Những địa điểm có thành bao (kiểu thành đắp đất tròn ở Bình Dương) rất khó để tìm hiểu về tính chất và niên đại của chúng. Không hề có bất cứ tư liệu chính xác nào về niên đại và thậm chí cấu trúc của những thành đất đắp. Những thành đất đắp này tập trung ở lưu vực sông Mun, mở rộng đến lưu vực sông Chi, đồng bằng Siem Riep và miền Trung Thái Lan. Theo các học giả những thành đất đắp này có lẽ để giữ nước. Phần lớn những địa điểm này đều bị bỏ sau thời đại sắt. Ví dụ như ở Noen U Loke, mộ táng thời đại sắt đã được tìm thấy phía dưới lớp mặt 1m trong các vòng đất.
Trong giai đoạn này có một số địa điểm điển hình: Non Chai, Ban Chiang Hian, Non Dua.
Non Chai: Địa điểm điển hình của thời đại sắt, có diện tích (18-38.5 ha) rộng hơn nhiều so với các địa điểm thời đại đồng trước đó. Theo báo cáo khai quật của Bayard năm 1978 thì địa điểm có cấu trúc hình ôvan 1000 x 500m và cao 15m so với vùng xung quanh. Năm 1979, trong khi tiến hành khai quật Van Liere nhận thấy vết tích của hào hay mương nước bao quanh. Năm 1977, khai quật 76m2 . Tại địa điểm này đã thu được số lượng lớn đồ gốm, tàn tích động vật và chứng cứ về đúc đồng và luyện sắt. Dựa vào diễn biến hiện vật gốm và địa tầng, người ta chia ra thành 5 giai đoạn văn hoá, thời đại đồng ở lớp tận cùng.
Theo niên đại C14, giai đoạn I có niên đại 400 BC, thậm chí 500 BC, giai đoạn II-III 300-200BC, giai đoạn IV 200-1 BC và giai đoạn V AD 1-200.
Gốm ở đây khác hẳn so với những địa điểm thời đại đồng thau Non Nok Tha, Bản Na Di và Bản Chiang. Phần lớn đồ gốm trang trí bằng áo gốm đỏ hay hoạ tiết tô màu hình học, giai đoạn cuối là gốm trơn hay gốm văn thừng. Trong đất làm gốm pha vỏ trấu. Cả đồng và sắt đều tìm thấy ở giai đoạn lớp I. Từ giai đoạn lớp II, đã tìm thấy mảnh muôi nấu đồng và những mảnh khuôn đúc đã thấy ở giai đoạn lớp III. Từ lớp II có hạt chuỗi thuỷ tinh. Đời sống chủ yếu dựa trên gạo và cá.
Non Chai là một địa điểm quan trọng thời đại sắt ở nhiều góc độ. Niên đại chính từ 400BC đến 200AD. Phát triển kỹ nghệ luyện kim màu và đen. Luyện kim đồng sử dụng khuôn hai mang và kỹ thuật sáp. Một loạt những địa điểm tương tự như thế đã được phát hiện phân bố dọc theo rìa của châu thổ sông Chi và sông Mun.
Bản Chiang Hian: Địa điểm thuộc trung lưu sông Chi, đây là địa điểm có thành và hào bao quanh. Diễn biến địa tầng và hiện vật giống như Non Chai. Xương trâu đã xuất hiện ở lớp 8, còn ở lớp 7 đã có sắt. ở các lớp 6-8 tập trung những khuôn đúc đồng đúc chuông và vòng tay cũng như mảnh muôi nấu đồng. Giai đoạn gốm III ở lớp IV và V. Tổ hợp gốm khác hẳn với giai đoạn II và có những loại gốm trắng tương tự Non Dua thuộc nửa sau của Thiên niên kỷ I AD. Niên đại của địa điểm 400 BC-200 AD và có thể liên quan đến hào. Theo Higham có thể liên hệ với cấu trúc Cổ Loa.
Tại Thái Lan còn nhiều các địa điểm thời đại sắt như Noen U Loke, Ban Don Ta Phet... Tại những địa điểm này, hiện vật cho thấy mối quan hệ giao lưu văn hóa và trao đổi buôn bán với thế giới bên ngoài đóng vai trò cực kỳ quan trong. Ở Ban Don Ta Phet đã tìm thấy một số lượng lớn hiện vật có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam...
Đối với Thái Lan, đặc biệt là Đông Bắc Thái Lan, công nghiệp khai khoáng luyện kim đen và công nghệ làm muối có vai trò cực kỳ quan trọng. Sắt, đồng đỏ, đồng thau và muối được xem là tảng nền kinh tế đẩy nhanh quá trình hình thành những xã hội tiền nhà nước hay dạng Tù trưởng Quốc / hay Lónh chủ (Chiefdoms) của những cộng đồng dân cư đông đúc và lớn mạnh. Đây là cơ sở cho sự hình thành nền văn minh sớm ở đông bắc Thái Lan, tương tự như ở một số khu vực khác của Đông Nam Á
16.
I.5. Đông Nam Á hải đảo: Phương thức kiếm sống và quá trình thích nghi với môi trường tự nhiên, làn sóng di dân và lan toả hội nhập văn hoá
Nhìn chung các học giả cho rằng, những hiện vật kim loại đầu tiên xuất hiện ở Đông Nam Á hải đảo tương đối muộn, vào những thế kỷ cuối trước Công nguyên. Mặc dù quặng đồng khá phổ biến ở Luzon, Nam Java và Sumatra, thiếc lại có ở dãy đảo Bangka, Belitung ở phía bắc Malaysia đến miền trung Thái Lan.
Thời đại kim khí khu vực này mang những đặc điểm văn hoá khá độc đáo, sự phân kỳ và tên gọi các giai đoạn thể hiện quá trình tiếp thu và hội nhập nhiều những yếu tố ngoại sinh trên nền nội sinh vững chắc. Tiền sử Indonesia chẳng hạn đã được Soejono phân kỳ và đặt tên theo kiểu kiếm sống thành: săn bắt - hái lượm; nông nghiệp; và thủ công nghiệp…
Dựa vào những phát hiện khảo cổ tại khu vực, các học giả đã phác hoạ diễn biến văn hoá giai đoạn từ thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I sau Công nguyên tức Giai đoạn kim khí sớm (hay cổ kim loại) Giai đoạn kim khí sớm bắt đầu bằng việc xuất hiện của những hiện vật đồng đỏ và đồng thau (theo Bellwood đồng đỏ và đồng thau không thể phân biệt bằng mắt trong bối cảnh khảo cổ học và việc sử dụng chung thuật ngữ “bronze” có thể gây ấn tượng trong một số trường hợp, nhất là ở Indonesia). Rất nhiều những hiện vật được gọi là “bronze” có thể đơn giản là copper, song nếu không có phân tích thì dễ bị nhầm lẫn. Hiện vật bằng sắt và luyện kim đen có nhiều khả năng là từ những nguồn trực tiếp ở Đông Nam Á lục địa trong khoảng những thế kỷ cuối trước Công nguyên. Học giả Bellwood đã lấy mốc năm 500 trước Công nguyên, mặc dù cho tới nay chưa có hiện vật kim loại nào ở hải đảo có niên đại sớm như vậy. Bellwood cũng cho rằng những tổ hợp thời đại kim khí ở đây có thể được gọi là thuộc “giai đoạn Đồng - Sắt” theo thuật ngữ của Heekeren (1958). Mặc dù kim loại xuất hiện muộn và có nguồn gốc từ bên ngoài, song cư dân hải đảo đã chế tác nhiều loại hình địa phương độc đáo như trống đồng Pejeng, bao ngón tay, vòng đeo tay bản rộng… Những năm gần đây đã có những cuộc khai quật có hệ thống được tiến hành ở một số địa điểm nằm trong thời gian chuyển biến từ Sơ sử sang Lịch sử sớm ở bán đảo Thái Lan, Malay và Indonesia. Tư liệu của những cuộc khai quật này giúp soi rọi nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ văn hóa, nguồn lực và nền tảng hình thành nhà nước sớm ở Đông Nam Á hải đảo.
Địa điểm Khuan Luk Pad (Đồi hạt chuỗi) ở tỉnh Krabi, bên bờ tây nam của bán đảo Thái Lan. Địa điểm này được xác định là nơi sản xuất hạt chuỗi đá và thủy tinh vào nửa đầu thiên niên kỷ I. Sự chuyển việc sản xuất hạt chuỗi từ Ấn Độ sang các địa điểm ven biển Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu diễn giải là do tăng cường sự năng động của hoạt động trao đổi, buôn bán liên vùng và nội vùng.
Phần lớn những địa điểm cư trú lớn với chứng cứ về buôn bán và phát triển các ngành nghề thủ công đã được phát hiện dọc theo eo biển Malacca, là con đường huyết mạch nối giữa biển Đông Nam Á với Ấn Độ Dương. Tại Indonesia, những địa điểm tương tự cũng đã được khai quật ở bờ biển Sumatra (ví dụ như Karang Agung, Air Sugihan) và Tây Java (Buni) và xa hơn nữa về phía đông ở Sembirang, bờ bắc Bali... Điều đó cho thấy có sự nở rộ của những trung tâm dân cư lớn quanh đường giao thông quan trọng trong mạng lưới trao đổi, buôn bán từ nội địa ra đến ven biển và biển.
Nhỡn chung, khảo cổ học Đông Nam Á hải đảo thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thiên niên kỷ I sau Công nguyên nổi bật lên một số vấn đề căn bản. Đó là: 1. Sự lan toả của cư dân ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) trong mối liên hệ với nghề trồng lúa nước và 2. Truyền thống mộ chum; 3. Quá trình Nam tiến của trống đồng Đông Sơn với sự hình thành nhà nước sớm...
I.5.1. Nguồn gốc và sự lan toả của cư dân Nam Đảo và trồng lúa nước: Các nhà nghiên cứu khá thống nhất khi cho rằng, nghề trồng lúa nước cùng với sự hình thành những cộng đồng cư dân nông nghiệp sớm ở Đông Nam Á hải đảo là kết quả của quá trình lan toả của các nhóm người thuộc ngữ hệ Nam Đảo từ lục địa và hội nhập giữa các nhóm người làm nông - dân di cư với các nhóm người săn bắt, hái lượm bản địa. Các nhà nghiên cứu mặt khác có nhiều ý kiến khác nhau về con đường di dân và lan toả văn hoá này, trong số đó nổi bật là ý kiến của học giả Bellwood và Solheim.
Trong những nghiên cứu gần đây của mình Bellwood đã khẳng định thêm những luận điểm của mình về sự lan toả của cư dân ngữ hệ Austronesian và trồng lúa nước ở Đông Nam Á hải đảo. Theo đó, sự lan toả đầu tiên của những ngôn ngữ Austronesian, Tai - Kadai (và có thể cả Austroasiatic) bắt đầu trong những cộng đồng đá mới trồng lúa ở Trung Hoa phía nam sông Dương Tử vào khoảng giữa năm 5.000 và 4.000 BC. Blust khôi phục lại quá trình này. Bắt đầu từ Đài Loan (nơi phân bố của những ngôn ngữ cổ Austronesian (gồm cả Proto Austronesian), sau đó là Phillippines, Borneo và Sulaweri, cuối cùng chia đôi: Đi về phía tây tới Java, Borneo và Sulaweri và đi về Đại dương Oceania. Bellwood đã bổ sung rằng, trong giai đoạn ngôn ngữ khi cắt từ phần Proto An có thể đã xuất hiện một số thuộc địa với kinh tế nông nghiệp di chuyển qua eo Formosa từ Trung Hoa lục địa đến Đài Loan và ở đây đã phát triển thành (những) ngôn ngữ Austronesian sớm (ban đầu), và sau một vài thế kỷ một số cư dân nói một trong những ngôn ngữ này đã làm những đợt di chuyển đầu tiên đến Luzon và Phillippines. Sự di chuyển này đã chia Austronesian thành hai: Formosan và Malayo-Polynesian.
Chứng cứ khảo cổ học thời đại đá mới ở Đài Loan bắt đầu khoảng 3.000-4.000 BC với những tổ hợp khảo cổ dạng nam Trung Hoa, có thể lúc đầu được mang tới bởi những nhóm nhỏ của những cư dân nông nghiệp đi qua eo biển Formosa từ Phúc Kiến. Vào khoảng 3.000 năm TCN ở Đài Loan đã xuất hiện lúa gạo. Từ giữa năm 2500-1500 TCN, những tổ hợp khảo cổ học có đặc trưng là đồ gốm trơn và áo đỏ chứ không phải là loại gốm Đài Loan sớm văn thừng đã xuất hiện ở vùng bờ biển và những vùng thuận lợi trong đất liền của Phillipines, Sulawesi, Bắc Borneo, Halmahera và (với lợn nuôi) tới cực nam là Timor. Chưa có một địa điểm nào giai đoạn này được phát hiện ở Indonesia, song những nghiên cứu bào tử phấn hoa ở vùng cao nguyên tây Java và Sumatra cho thấy có một sự phát quang rừng làm nông nghiệp ít nhất là vào khoảng thiên niên kỷ II trước Công nguyên hay có thể còn sớm hơn nữa.
Nguyên nhân lan toả theo Bellwood: Những thuộc địa nông nghiệp của cư dân nói tiếng Austronesian (Nam Đảo) có một sự di cư liên tục, trong một giai đoạn khoảng 4.000 năm, từ vùng tâm điểm nông nghiệp Nam Trung Hoa qua hàng ngàn cây số bờ biển và đi qua vùng biển rộng đông tiến vào Thái Bình Dương.
Chứng cứ khảo cổ học cho thấy cư dân đá mới đã chiếm cư toàn bộ vùng Đông Nam Á lục địa, kể cả bán đảo Mã Lai ít nhất là từ 2.000 trước Công nguyên. Những tương đồng nổi bật về khảo cổ học của tất cả những văn hóa này nằm ngay trong đất liền hơn là đi qua tới những đảo. Có thể giả thiết rằng phần đông những cư dân nông nghiệp của Thái Lan, Đông Dương và Bán đảo Mã Lai lúc bấy giờ nói những ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với ngữ hệ Austroasiatic hiện đại. Ở miền Trung và Nam Việt Nam, tổ tiên của cư dân nói tiếng Chamic Austronesian xem ra đã xâm nhập vào khu vực nơi đã có cư dân ở đông đúc là những cư dân nông nghiệp sớm hơn. Sự hiện diện có trước của những cư dân nông nghiệp ở Mã Lai và Việt Nam đã giải thích tại sao lục địa Đông Nam Á chỉ có những cộng đồng cư dân tiền sử Austronesian nhỏ cư trú xen cài cùng cư dân Austroasiatic.
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu, trồng lúa ở Đông Nam Á lục địa có trước nghề trồng lúa ở Đông Nam Á hải đảo và sự xuất hiện của lúa được coi là kết quả của sự xâm nhập của cư dân Nam Đảo từ nam Trung Hoa qua Đài Loan vào hải đảo vào khoảng 2.500-2.000 BC. Tuy vậy, Higham cho rằng không có những chứng cứ về trồng lúa ở thời gian trên ở Đài Loan tại các địa điểm thuộc văn hoá Dapenkeng. Soilhem cũng theo thuyết truyền bá song ông cho rằng cư dân thuộc ngữ hệ Austronesian đã tới Đông Nam Á hải đảo và đảo Thái Bình Dương dọc qua bờ biển phía đông của Đông Nam Á lục địa hơn là qua bán đảo Đài Loan
17. Vết tích lúa tìm thấy trong đồ gốm ở một số địa điểm như Gua Sireh (Sarawak) có niên đại 2923-1603 trước Công nguyên18.
I.5.2. Truyền thống mộ chum: Truyền thống chôn cất sử dụng quan tài là những chum gốm lớn phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á hải đảo, ở Đông Nam Á lục địa táng thức này không phổ biến lắm và chỉ thấy đậm đặc ở miền Trung và Nam Việt Nam (trong văn hoá Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh), một số vùng ở Thái Lan... Dù chung một táng thức nhưng có rất nhiều biểu hiện mang tính địa phương, tạo thành những dạng văn hóa mộ chum khác nhau.
Truyền thống mộ chum ở Đông Nam Á được chia thành hai giai đoạn phát triển. Giai đoạn sớm có niên đại vào khoảng thiên niên kỷ I-II TCN với hành loạt các di tích ở Phillippines, Indonesia, Malaysia và ven biển Miền Trung Việt Nam. Chum vò có nhiều dạng khác nhau và có loại trang trí hình người rất riêng ở Phillippines, thể hiện quan điểm thẩm mỹ độc đáo và tín ngưỡng về sự tồn tại của linh hồn.
Trong những mộ chum giai đoạn sớm này, hiện vật tuỳ táng phần lớn là đồ gốm, trang sức bằng đá ngọc và mã não, chưa thấy đồ tuỳ táng bằng kim loại, thuỷ tinh và canelia. Giai đoạn muộn (hay kim khí sớm, kim khí phát triển…), mộ chum phân bố rất rộng, có nhiều khu mộ địa lớn với khối lượng lớn và đa dạng về loại hình của đồ tuỳ táng và đã xuất hiện hiện vật chôn theo bằng kim loại, thuỷ tinh… Nhiều hiện vật có nguồn gốc ngoại lai cũng đã được tìm thấy
19. Đồ tùy táng trong các khu mộ chum giai đoạn này ở Đông Nam Á hải đảo giống như trong các khu mộ chum văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam phản ánh rõ ràng sự phân hóa về của cải và sự hình thành những xã hội phân tầng.
I.5.3. Quá trình Nam tiến của trống đồng Đông Sơn với sự hình thành nhà nước sớm: Cho tới nay, đã có một số lượng đáng kể trống đồng Đông Sơn được phát hiện ở Đông Nam Á. Phần lớn trống tìm thấy là đồ tùy táng của mộ. Những mộ có trống chôn theo đã được xác định là mộ của thủ lĩnh hay của người đứng đầu trong xã hội, dạng “Big man”
20. Sự lan tỏa của trống đồng Đông Sơn một mặt minh chứng cho sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Đông Sơn ở Đông Nam Á, mặt khác trống đồng Đông Sơn được xem như những biểu tượng quyền lực và gắn với sự hình thành nhà nước sớm ở Đông Nam Á.
Những trống Đông Sơn ở Đông Nam Á mà cụ thể là ở Lào, Thái Lan, bán đảo Malay và Indonesia thường có niên đại từ thế kỷ III trước Công nguyên đến thế kỷ I Công nguyên. Sự có mặt của những trống này được giải thích bằng nhiều nguyên nhân. Đó là, do áp lực bành trướng của Trung Hoa (Hán), văn hóa Đông Sơn đã Nam tiến và do quá trình lớn mạnh của những xã hội mới với nhu cầu của những người đứng đầu coi trống như một biểu trưng về quyền lực. Trống thường được tìm thấy ở những địa điểm mang tính chiến lược trên những tuyến giao thông và chuyên chở đường sông. Không những nhập trống từ quê gốc là miền bắc Việt Nam, trống đồng theo truyền thống trống Đông Sơn còn được sản xuất tại Thái Lan hay một địa điểm khác ở Đông Nam Á để đáp ứng nhu cầu của những tổ chức xã hội với cơ cấu mới đang hình thành và phát triển, điển hình là trống Salayar tìm thấy ở miền đông Indonesia. Một số trống có kích thước rất lớn tìm thấy ở miền đông Indonesia lại được xác định có nguồn gốc tại Việt Nam, nói một cách khác chúng được sản xuất tại Việt Nam chỉ nhằm mục đích xuất khẩu
21.
Tuy chưa có thể nhất trí hoàn toàn với những ý kiến trên của nhà nghiên cứu Imamura, đặc biệt về việc sản xuất trống ở Việt Nam với mục đích xuất khẩu. Tuy vậy, có thể thấy rằng văn hóa Đông Sơn có một ảnh hưởng rất lớn ở Đông Nam Á và trống đồng Đông Sơn thực sự là biểu tượng cho quyền lực và sức mạnh của những người đứng đầu trong xã hội.

Tiểu kết
Cho dù những phát hiện cổ nhân và sơ kỳ đá cũ ở Đông Nam Á vẫn chưa được khẳng định một cách chắc chắn, nhưng đã có nhiều chứng cứ để kết luận rằng đây là một trong những khu vực Homo Sapiens hoá của nhân loại.
Cư dân thời đại đã cũ ở đây một mặt có những nấc phát triển tương đồng với những thang bậc kỹ nghệ chế tác công cụ đá của những khu vực khác trên thế giới, mặt khác cũng có không ít những đặc điểm riêng, được quy định bởi sự thích ứng với môi trường tự nhiên và hệ sinh thái khu biệt. Ngay từ thời đại đồ đá cũ đã hình thành hai truyền thống chế tác đá riêng của Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo. Tuy vậy, chúng không tồn tại đơn lập, tách biệt hoàn toàn khỏi nhau mà đã có những sự đan xen và mối quan hệ qua lại chặt chẽ. Truyền thống địa phương trong kỹ nghệ đồ đá phản ánh sự đa dạng trong cách kiếm sống, tổ chức xã hội và cho thấy những nhóm cư dân thời này có tính thích ứng cao, linh hoạt để tận dụng tối đa nguồn lực từ môi trường tự nhiên. Nói một cách khác họ đã có những cách thích ứng với giá trị sinh thái cộng đồng khá cao.
Đông Nam Á, đặc biệt là khu vực lục địa là vùng giàu tiềm năng sinh thái (khí hậu, địa hình, địa mạo, nhiệt độ, nguồn lợi thiên nhiên…), vốn được xem là nơi đáp ứng đủ điều kiện cho việc khởi thành và phát triển nghề trồng trọt. Những phát hiện khảo cổ cùng những tư liệu sinh - dân tộc học đã chứng minh một cách chắc chắn quá trình đá mới hoá ở đây với các thang bậc phát triển từ thấp đến cao những hình thức trồng củ, quả làm vườn sơ khai đến trồng cây lấy hạt (đa canh với cây lúa chủ đạo) ở các địa hình khác nhau như hình thức nương rẫy, ruộng chờ mưa, chờ nước thuỷ triều đến nông nghiệp trồng lúa tưới nước… Cư dân Đông Nam Á đã thực hành nhiều loại kỹ thuật trị thuỷ và sử dụng nước khác nhau, trong đó có những kỹ thuật bản địa và cũng không ít kỹ thuật được du nhập từ bên ngoài. Do đặc điểm hệ sinh thái phồn tạp và thực vật rất phát triển nên bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi (nhỏ), cư dân cổ ở Đông Nam Á chưa bao giờ coi nhẹ việc hái lượm phổ rộng, săn bắt, đánh cá… và tuỳ thuộc vào điều kiện địa lý cụ thể, ở một số vùng cách kiếm sống bằng khai thác nguồn lợi tự nhiên vượt trội hơn cách kiếm sống bằng nông nghiệp.
Đề cập tới những đặc trưng của kỹ thuật chế tác và cách thức sử dụng công cụ, dụng cụ của cư dân thời đại đá Đông Nam Á, chúng ta cần lưu ý tới vai trò của công cụ tre nứa, gỗ và sự bảo lưu lâu dài những kỹ thuật truyền thống. Điều này không thể diễn giải bằng sự trì trệ, lạc hậu và kém phát triển về năng lực tư duy… như một số học giả phương Tây trước đây đã làm. Những đặc trưng trên chính là bằng chứng về khả năng tận dụng một cách tối đa các nguồn lực tự nhiên trong phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng cư dân Đông Nam Á.
Vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay cư dân Đông Nam Á bước vào thời đại kim khí. Bất luận những tranh cãi về niên đại, về nguồn gốc của kỹ thuật luyện kim, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nó trong đời sống xã hội. Ở Đông Nam Á đã hình thành những trung tâm khai khoáng và luyện kim với quy mô lớn, đây đồng thời cũng là những trung tâm của từng vùng đóng vai trò hội nhập, kết tinh văn hoá. Dù có những bước phát triển không đồng đều, thời đại kim khí cũng là thời kỳ tiếp xúc, giao lưu và hội nhập văn hoá nội vùng, liên vùng phát triển rực rỡ. Tiếp xúc, giao lưu và hội nhập những yếu tố nội sinh với ngoại sinh làm tiền đề cho những thay đổi mang tính bước ngoặt vào những thế kỷ đầu Công nguyên.




(15) Hà Văn Tấn: Khảo cổ học Đông Nam Á - Những phát hiện đáng quan tâm; Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Khảo cổ học; H., 1996, tr.13.
16 Eiji Nitta: The Dawn of the Civilization in the Mekong Basin and its Neighboring Regions. Htm.
17 W.G. Soilhem Solheim: Taiwan, Coastal South China and Northern Vietnam and the Nusantao Maritime Trading Network, In JEAA 2. Brill. Leiden, 2000, p. 279.
18 Ch. Higham: The Bronze Age of Southeast Asia, The Cambridge University Press, Cambridge, 1996, p. 299.
19 Lâm Thị Mỹ Dung: Chuyên đề 3 - Diễn trình văn hoá Việt Nam, trong: Trần Quốc Vượng (Cb): Lịch sử Văn hoá Việt Nam, Đề tài NCKH trọng điểm cấp ĐHQG Hà Nội, H., 2003
20 Nitta Eiji: The Dawn of the Civilization in the Mekong Basin and its Neighboring Regions, Html. 2004.
21 Imamura Keiji: The Distribution of bronze drums of the Heger I and Pre-I types: temporal changes and historical background, Department of Archaeology, the University of Tokyo.
(15) Hà Văn Tấn: Khảo cổ học Đông Nam Á - Những phát hiện đáng quan tâm; Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Khảo cổ học; H., 1996, tr.13.
16 Eiji Nitta: The Dawn of the Civilization in the Mekong Basin and its Neighboring Regions. Htm.
17 W.G. Soilhem Solheim: Taiwan, Coastal South China and Northern Vietnam and the Nusantao Maritime Trading Network, In JEAA 2. Brill. Leiden, 2000, p. 279.
18 Ch. Higham: The Bronze Age of Southeast Asia, The Cambridge University Press, Cambridge, 1996, p. 299.
19 Lâm Thị Mỹ Dung: Chuyên đề 3 - Diễn trình văn hoá Việt Nam, trong: Trần Quốc Vượng (Cb): Lịch sử Văn hoá Việt Nam, Đề tài NCKH trọng điểm cấp ĐHQG Hà Nội, H., 2003
20 Nitta Eiji: The Dawn of the Civilization in the Mekong Basin and its Neighboring Regions, Html. 2004.
21 Imamura Keiji: The Distribution of bronze drums of the Heger I and Pre-I types: temporal changes and historical background, Department of Archaeology, the University of Tokyo.

Lâm Thị Mỹ Dung