Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

30,000-year-old cave home found in Henan province

Excavation work at the Longquan Mountain Heritage Site, which belongs to the Old Stone Age and is located at Luanshan County in Henan’s Luoyang City, was finished on April 24, according to dahe.cn.
Theo dahe.cn., công việc khai quật tại địa điểm di sản Núi Longquan (thuộc thời đại Đá cũ) , Luashan  County ở Henan’s Luoyang City đã kết thúc vào ngày 24 tháng tư.   
The Longquan Mountain Heritage Site [Credit: Cultural China]
Di sản Núi Longquan (Nguồn: Cultural China)
According to experts' study, the heritage site belongs to the late Old Stone Age and dates back to about 50,000 to 30,000 years from now, a murky but important period for studying the origin of modern human being. 
Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy, di sản có niên đại hậu kỳ đá cũ và cách ngày nay từ 50.000 đến 30.000 năm, thời kỳ mờ mịt nhưng quan trọng để nghiên cứu nguồn gốc của người hiện đại.

In the site, archaeologists found signs that fire was used, which is unique among the sites discovered in Henan Province from the same period. 
Tại địa điểm khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện dấu tích của việc sử dụng lửa, phát hiện này tạo ra cho địa điểm tính độc đáo so với những địa điểm cùng thời đã phát hiện ở Henan Province .

In addition, a total number of more than 1,000 stone tools, animal teeth fossils and animal bone fossils were found in the cave. And on some bone fossils, archaeologists found some bite and cut marks as well as some marks suspected to be the result of processing using primitive tools. 
Thêm vào đó, một số lượng trên 1000 công cụ đá, răng động vật hóa thạch, xương động vật hóa thạch cũng được tìm thấy trong hang. Và trên một số xương hóa thạch, các nhà khảo cổ nhận thấy có những dấu vết gặm và cắt cũng như những dấu vết nghi là kết quả của sử dụng công cụ thô sơ.

Experts said the site is rare among similar sites throughout the country because it contains fire pits, stone tools and fossils all in one place. It provides important materials for studying modern man's behavioral characteristics — especially for studying the origin of modern humans. Các chuyên gia cho rằng, địa điểm này thuộc loại hiếm trong số những địa điểm tương đồng phân bố khắp đất nước vì có chứa những hố bếp, công cụ đá, hóa thạch ... tất cả cùng ở một chố. Địa điểm cung cấp những tài liệu quan trọng để nghiên cứu lối ứng xử của người hiện đại - đặc biệt là nghiên cứu nguồn gốc của người hiện đại.



From the discoveries it was also learned that the ancient people who lived in the caves likely had the ability to adapt to climate and physical features, and they could hunt animals too. 
Từ những phát hiện này cũng có thể nghiên cứu cư dân cổ sống trong hang động có những khả năng gì để thích nghi với những đặc điểm khí hậu và môi trường và để họ có thể săn bắn thú.

Author: Wang Hanlu | Source: People's Daily Online [May 09, 2011]
http://archaeologynewsnetwork.blogspot.com/2011/05/30000-year-old-cave-home-found-in-henan.html?tm_source=feedburner&utm_medium=feed&utm_campaign=Feed%3A+TheArchaeologyNewsNetwork+%28The+Archaeology+News+Network%29

Những phát hiện khảo cổ và cổ nhân của thời đại đá cũ ở Việt Nam cho tới nay đều có đặc điểm, nơi có răng người Homo Erectus, Homo Sp., Homo Sp. Sp. hóa thạch thì không có công cụ; nơi phát hiện công cụ thì lại chẳng có răng người!  Do vậy, không thể gắn cái nọ vào cái kia để sự hiểu biết của chúng ta về thời đại đá cũ thêm phần vững chắc.
Hy vọng phát hiện ở Henan Province sẽ đem lại may mắn cho công cuộc tìm kiếm thời đại đá cũ ở Đông Nam Á.

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Chốn để quay về

Khí quyển Sài gòn thì khi nào cũng thế, cứ sôi sùng sục như một nồi lẩu xà bần với rất nhiều nắng gió. Tuy thế, nồi lẩu Sài gòn cũng có cung bậc riêng: nó ùng ục quanh năm, nó sôi trào bọt trong dăm tuần cận tết với hàng hóa, quà cáp, hoa lá, người xe… như nêm cối. Rồi như có một bàn tay bớt lửa khi cơm sôi, Sài gòn dịu dần, dịu dần theo bước chân người tứ xứ về quê ăn Tết. 29-30 Âm lịch, Sài gòn đạt điểm đáy trong chu kỳ sôi sùng sục quanh năm của mình: tĩnh lặng, thông thoáng, nhẹ nhõm như một bát cháo đã được múc ra mâm chờ nguội.

Chính trong lúc êm đềm nhất trong năm của Sài gòn tả pí lù ấy, chỉ với một giờ bay, tôi đã hòa mình vào một bếp lửa liu rui ấm áp khác: Hội An.

Lại J., gã bạn Tây lãng tử đã rong ruổi từ Bắc chí Nam với một mình một xe. Lại J., với câu hỏi hất hàm: “Ở cái phố bé tí ấy có gì mà chú mày đến mãi thế?”

Quả là dịp tốt để dạy J., gã Tây tưởng mình sành đời về du lịch Việt Nam, dăm bài học. Và nhân danh tình bạn lưu niên, cũng nên vỗ vai J., mở đầu bằng câu mắng: “chú mày ngu lắm” mà rằng:
Cái ở Hội An không ít. Nhưng những điều mà Hội An không có thì cũng đủ để dừng chân khách phương xa. Này nhé, Hội An không có cao lầu chưởi, cháo gà quát, bánh hoa hồng chém. Tại Hội An, không cần hỏi giá trước khi đặt món, không bị lườm nguýt khi xin thêm dĩa rau miếng ớt. Tô cao lầu cho khách du lịch ở Hội An không bị đẩy giá gấp đôi gấp ba như tô phở, bún bò ở nơi chúng được coi là đặc sản.
Ở Hội An, những nụ cười chụp được trên đường phố không phải mua bằng tiếng mời “two dollars, sir!”mà các trẻ dân tộc phát âm rất chuẩn.
Ở Hội An, khi vào tiệm, không ai mát mẻ đuổi khách, không nói thách như dao. Mà còn cười hiền hậu: “chú cứ coi, mua không mua cũng được”
Ở Hội An, không có gã xích lô nào chèo kéo “vui vẻ” em út tăng hai tăng ba trên sông Hoài.
Ở đình chùa Hội An, không ai nhét tiền lẻ vào tay thần Phật, không ai tụng niệm mã số thuế để xin buôn may bán đắt, hay tấn tài tấn lợi.


Chùa vắng

Cũng không có hành khất xin ăn, hay những cảnh đời quá túng cực làm lòng ta bần thần như có lỗi.

Một mách những cái không như thế, đủ để làm J. gật gù tán thưởng. Nhưng lại làm người nói giật mình: Đã tự bao giờ, chỉ cần không có cảnh chướng tai gai mắt, uế tạp, là đủ để trở thành đặc biệt, duy nhất, đặc sắc… trong bức tranh nhộn nhạo của nền du lịch Việt Nam? Chỉ cần không xấu, không hỗn hào là được coi như đẹp. Thảm thương đến vậy hay sao?
Đâu phải thế! Còn lâu J. mới hiểu được điều này: đến Hội An là để được sống chậm, để thong thả nghe cu gù, chim hót trong mỗi sớm mai. Hội An vẫn là một bếp lửa liu riu, không sôi lên sùng sục như Sài gòn hay Hà Nội, nhưng chẳng bao giờ nguội lạnh. Cái bếp lửa ấy, giữ cho lòng ta thanh thản khi thong thả cuốc bộ trong đêm trừ tịch, ngước nhìn mái ngói rêu phong. Vẫn cảnh ấy, người ấy, tưởng như không gì thay đổi sau một năm. Rêu phong ấy vẫn hệt năm xưa, như lúc mải mê bấm máy ghi lại dấu thời gian trên mảng tường vôi loang lổ rêu ấy. Chỉ có cây lá lớn hơn, sum suê hơn. Và người chụp ảnh cũng như cây, già thêm một chút khi nhìn lại dấu thời gian không tuổi ấy.

Nắng vẫn như xưa

Quét dọn đường phố lúc 1h sáng


Cây xưa đã lớn
Chợ ngày Tết


Vẫn quán cũ, lọt thỏm vào trong lòng phố cổ. Yên ả, tịch mịch cũng như một sáng năm nào, ngồi thinh lặng ngắm trời xanh nắng vàng mây trắng bên cạnh bạn bè.
Vẫn nón lá, quang gánh tất tưởi cần lao. Nhọc nhằn nhưng không nhục nhằn. Và vẫn rất lương thiện, để cắm cúi quét dọn sạch sẽ quanh hàng mình bán, dù đã một giờ khuya.
Đó là một Hội An, nơi chốn để chúng tôi ngồi lại với nhau trong yên ả, bỏ lại đằng sau một năm tất bật.
Bằng cách đó, rêu phong, cỏ dại ở chốn thanh bình này đã in bóng tuổi trẻ của chúng tôi. Bằng cách đó, chúng tôi cũng như phố cổ, già đi theo năm tháng, nhưng vẫn bất biến di bất dịch, về đây để nhìn lại một năm của đời mình.

Lại thêm một lượt phải mắng J. mà rằng: “Chú ngu lắm! Nơi đây nào phải chốn ta đến rồi đi. Hội An là chỗ để quay về, chú -Tây -tưởng- mình- sành-điệu kia ơi!”

Dr. Nikonian
http://www.drnikonian.com/2011/05/03/ch%e1%bb%91n-d%e1%bb%83-quay-v%e1%bb%81/#more-3643

Chuyện Chủ nhật 11 - The Mother's Day - Tráp gỗ xưa

Hôm nay (8.5) ở châu Âu là Mother's Day!
Thảo nào sáng nay đi trực đề về qua siêu thị thấy la liệt đồ lưu niệm tặng các bà, các mẹ...



Khổ thân các bà, các mẹ... thời bão giá này. Mình mỗi lần đi chợ, đi siêu thị ... là mỗi lần thấy như bị mất cắp. Nói gì đến những bà, những mẹ về huu, công nhân, nội trợ...
Suốt ngày loanh quanh toan tính tiền nào mua gạo, tiền nào mua rau, tiền nào nộp học....người có thần kinh thép cũng phát khùng. Lấy đâu ra SPA, Mát Xa, Mát Gần...

Thế mới biết, các bà, các mẹ ngày xưa giỏi thật. Nuôi cả đàn con đông đúc vậy mà đứa nào cũng phương trưởng. 
Mẹ mình lại còn có của hồi môn cho con gái nữa chứ. Chưa kể chăm bẵm cả Ly và Bim lúc bé và lúc lớn.
Lần về vừa rồi mẹ đưa cho mình một vật rất quý, đồ thừa kế.
Bà ngoại để lại cho mẹ và bây giờ mẹ đưa cho mình.
Đấy là cái tráp gỗ nhỏ, xưa bà ngoại thường để tiền bán hành, bán tỏi.
Mẹ để tem phiếu, sổ gạo, sổ tiết kiệm.
Hay nhất là tráp không khóa!  




Ký ức của mình về bà ngoại là những con tôm he tự tay bà mua, phơi khô gửi ra cho cháu ngoại
Là những lần về quê ngủ cạnh bà ấm sực mùi trầu cau
Là những đồng tiền lẻ bà dúi cho khi đi chợ Bút, chợ Phủ mua hàng xâu quả bồ quân, ăn vào, miệng mồm đứa cháu nào cũng choe choét.
Là những khi ấm ức cùng mẹ khi nghe chuyện bà bị mợ dâu mắng mỏ
Nụ cười hiền hậu, bà chả bao giờ cao giọng, nhẫn nhịn, chịu thương, chịu khó.

Mẹ giống bà ngoại nhiều lắm, nhưng mẹ nóng tính
Mình chỉ kế thừa được từ mẹ tính nóng nảy và có phần nâng cao nữa.

Lại nhớ lời Thầy dạy, văn hóa của con, cháu là từ bà, từ mẹ!

Hôm rồi sau đám, bà chị chồng tâm sự:
"Chị hỏi ông thầy làm lễ tang chị có được phép xin chân hương mang vào Nha Trang lập bàn thờ cho mẹ không. Ông ấy bảo chị là phận gái nên không được lập bàn thờ. Chị buồn lắm, ở xa, lúc mẹ sống đã chẳng phụng dưỡng được, lúc mẹ mất muốn lập bàn thờ cũng không được. Theo em chị phải làm thế nào".
Điên máu, mình quyết luôn: "Chị cứ thắp hương xin mẹ, chị cứ mang theo về Nha Trang mấy chân hương và chị cứ yên tâm lập bàn thờ. Mẹ bây giờ đi mây về gió, lúc Nha Trang, lúc Thanh Hóa, lúc Hà Nội vui vầy cùng con cháu. Thời buổi này là thời buổi nào mà phân biệt gái với trai. Xưa thời phong kiến con gái vẫn được quyền giữ hương hỏa tổ tiên cơ mà"!
Bà chị chồng lúc bấy giờ mới tươi lên được một tí.

Mình hỏi ra mới biết, ông thầy chỉ huy đám tang vốn là một sĩ quan quân đội về hưu.
Thảo nào bảo hoàng còn hơn cả vua. Lúc đám, mình đã chịu đựng như chịu đựng cơm khê!
Khổ thế đấy, thà đừng biết thì thôi, biết nửa chừng, nửa vời. Rách hết cả việc !

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

người Heideberg - gạch nối giữa Người hiện đại sớm với người Neanderthal / Heidelberg Man links Humans and Neanderthals

The last common ancestor of humans and Neanderthals was a tall, well-traveled species called Heidelberg Man, according to a new PLoS One study. 


Tổ tiên chung cuối cùng của người (hiện đại) và người Neaderthal là Người Heidelberg có dáng cao, đi vững, theo một nghiên cứu Plos mới  


The determination is based on the remains of a single Heidelberg Man (Homo heidelbergensis) known as "Ceprano," named after the town near Rome, Italy, where his fossil -- a partial cranium -- was found. 
Xác định này dựa trên tàn tích của một Người Heidelberg (Homo heidelbergensis) được biết dưới tên gọi "Ceprano", đặt theo tên một thị trấn gần Roma, Ý, nơi tìm thấy hóa thạch - một phần sọ.

Previously, this 400,000-year-old fossil was thought to represent a new species of human, Homo cepranensis. The latest study, however, identifies Ceprano as being an archaic member of Homo heidelbergensis.
Trước đây, hóa thạch 400.000 năm tuổi này được xác định là một dạng mới của loài người, Người  cepranensis. Nghiên cứu mới đây nhất đã định dạng Ceprano là đại diện cổ xưa của Homo heidelbergensis.

The finding may shed light on what the species that gave rise to both Neanderthals and Homo sapiens looked like.
Phát hiện này có thể làm sáng tỏ những loài tham gia vào sự hình thành của cả hai loại người Hiện đại và Neanderthal có vẻ giống nhau.

"Considering other fossils that can be lumped together with Ceprano in H. heidelbergensis, we can hypothesize that the 'Ceprano-morphotype' was tall, with a strong mandible (jaw) and small teeth," coauthor Silvana Condemi told Discovery News.
"Xem xét những hóa thạch khác những hóa thạch có thể gộp vào nhóm với Ceprano trong dòng H. heidelbergensis, chúng ta có thể giả thiết rằng "dạng hình thái Ceprano" cao, với xương hàm dưới khỏe và răng nhỏ" đồng tác giả Silvana Condenmi nói với Discovery News.

Condemi is the Director of Research at the National Center of Scientific Research (CNRS) in the laboratory of anthropology at the University of Marseille, where she directs the unit of paleoanthropology.
Condemi là Giám đốc Nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS) ở phòng thí nghiệm nhân học Đại học Marseill, nơi bà điều hành ban Nhân học cổ.

For the study, she and colleagues Aurelien Mounier and Giorgio Manzi compared Ceprano with 42 fossils from Africa and Eurasia ranging from 1.8 million to 12,000 years ago. The scientists also compared Ceprano to 68 modern humans. The sample set is the most extensive ever assembled in relation to the ancient Italian fossil.
Trong nghiên cứu này bà đã cùng các đồng sự của mình là Aurelien Mounier và Giorgio Manzi so sánh Ceprano với 42 hóa thạch từ châu Phi và Eurasia thuộc khung thời gian từ 1.8 triệu năm đến 12.000 năm cách ngày nay. Các nhà khoa học cũng so sánh Ceprano với 68 người hiện đại. Tập hợp mẫu này được xem là lớn nhất trong các sưu tập liên quan đến hóa thạch cổ ở Ý.

In addition to identifying Ceprano as a Heidelberg Man, the analysis found notable similarities with other human-associated fossils from Europe dating to the Middle Pleistocene 781,000 to 126,000 years ago. Connections were also made to early human fossils from Africa. The researchers therefore believe that Homo heidelbergensis was widespread, dispersing throughout Eurasia and Africa beginning around 780,000 years ago.
Thêm vào đó để định dạng Ceprano như là một Heidelberg Man, những phân tích cho thấy những tương đồng đáng chú ý với những hóa thạch liên quan đến người (hiện đại) tìm thấy ở châu Âu thời Trung kỳ Cánh tân (781.000 đến 126.000 năm cách ngày nay). Mối liên kết cũng được tìm thấy với những hóa thạch người (hiện đại) sớm ở châu Phi. Những nhà nghiên cứu do đó đã tin rằng Homo heidelbergensis có phạm vi phân bố rộng, khắc Eurasia và châu Phi từ khoảng 780.000 năm cách ngày nay.

Sculpture of the man from Mauer Germany - Heidelberg Man [Credit: San Diego Museum of Man]
Good weather may have permitted Heidelberg Man's worldly lifestyle. "We can hypothesize that particular environmental conditions during the Middle Pleistocene may have favored the expansion of H. heidelbergensis and contacts between populations," explained Condemi, who is also the co-editor of the new book Continuity and Discontinuity in the Peopling of Europe (Springer, 2011). "The gene flow was never completely stopped between Old World populations." 
Thời tiết tốt có thể đã cho phép  Heidelberg Man có lối sống toàn cầu. "Chúng ta có thể giả định rằng những điều kiện môi trường đặc biệt thời Trung kỳ Cánh tân đã trợ giúp cho sự lan tỏa của H. heidelbergensis và mối quan hệ giữa các nhóm cư dân", Condemi giải thích, bà cũng là đồng tác giả của sách mới Continuity and Discontinuity in the Peopling of Europe (Springer, 2011). "Những dòng gene chưa bao giờ ngừng chảy hoàn toàn giữa các cư dân của Cựu Lục địa".



Paleontologist Chris Stringer of the Natural History Museum, London, told Discovery News that he agrees with most of the new study's conclusions.
Nhà cổ sinh vật học Chris Stringer Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, London đã nói với Discovery News rằng ông đồng ý với phần lớn kết luận của nghiên cứu mới.


"I have long argued that Homo heidelbergensis represented our common ancestor with the Neanderthals about 400,000 years ago, and the Ceprano fossil, with its newly-determined late date, is well-situated chronologically to be part of this common ancestral group," Stringer said.
"Từ lâu tôi đã cho rằng  Homo heidelbergensis là đại diện tở tiên chung của chúng ta và của người Neanderthal khoảng 400.000 năm cách ngày nay, và hóa thạch Ceprano, với niên đại vừa mới xác định phù hợp với niên biểu là một phần của nhóm tổ tiên chung này", Stringer nói.

"However, it is quite a primitive specimen in several respects and therefore it may be that, like some other samples of heidelbergensis in Africa and Europe, it does not represent the actual last ancestral population," Stringer added.
"Tuy vậy, mẫu vật này khá nguyên thủy ở một số khía cạnh và như vậy, tương tự như những mẫu heidelbergensis khác ở châu Phi và châu Âu, chưa phải là đại diện thật sự cuối cùng của nhóm tổ tiên", Stringer bổ sung.


"In my view, we still do not know where that particular population existed," he explained, "and it may even have lived in a place from which we have very little evidence at present, such as western Asia."
"Theo quan điểm của tôi, chúng ta vẫn chưa biết nhóm cư dân đặc biệt này sống ở đâu" ông giải thích, "và có thể họ đã sống ở nơi mà về chỗ đó chúng ta có ít chứng cứ cho tới thời điểm này, ví dụ như Tây Á".

Ian Tattersall, curator of anthropology at the American Museum of Natural History, told Discovery News that he agrees Ceprano has been "appropriately assigned to the cosmopolitan species Homo heidelbergensis. But in Europe this species is contemporaneous with the lineage leading to Homo neanderthalensis."
Ian Tattersal, quản thủ nhân học ở BT Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ đã nói với Discovery News ông đồng ý rằng Ceprano "thích hợp để thuộc về những loài Homo heidelbergensis của thế giới. Nhưng ở châu Âu, loài này cùng thời với dòng dẫn đến  Homo neanderthalensis".

If Homo heidelbergensis did arrive before modern humans, "it must thus have been via an earlier, presumably African, representative of the species," Tattersall explained.

Nếu Homo heidelbergensis đã tới đây trước cả người hiện đại (homo sapiens), "phải qua một đại diện sớm hơn của loài này, có lẽ là đại diện châu Phi", Tattersall giải thích. 

While many eyes are on Heidelberg Man as being the likely common ancestor to Neanderthals and our species, the jury is still out as to where that pivotal evolution took place.
Trong khi nhiều con mắt đổ dồn vào Heidelberg Man  như là đại diện tổ tiên chung của người Neanderthal và loài chúng ta (homo sapiens), hội thẩm đoàn vẫn chưa biết cuộc cách mạng mấu chốt đã xảy ra ở đâu.

Anthropologist Eric Delson of Lehman College, The City University of New York, thinks the new study is "very interesting and takes a good approach," but he believes additional research is needed to elucidate exactly when, where and how Neanderthals and modern humans originated.
Nhà nhân chủng học Eric Delson , Lehman College, The City University of New York cho rằng nghiên cứu mới này "rất thú vị và có cách tiếp cận tốt", nhưng ông tin rằng cần có những nghiên cứu bổ sung để làm sáng tỏ nguồn gốc (khi nào, nơi nào và làm thế nào) của người Neanderthals và người hiện đại (modern humans).  

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Chuyện nhân việc bộ tranh vẽ về triều Nguyễn được chào bán ở Mỹ

Bài của Gốc Sậy gửi cho Archaeological*Highlights

Bác T.T. hỏi nhà cháu về bài "Trang phục triều Nguyễn của Đông A"  http://donga01.blogspot.com/2011/05/trang-phuc-trieu-nguyen.html  là có ý gì đây”?
Đông A viết: “… có thể thấy, hình dung của tôi về trang phục triều Nguyễn, mà tôi từng đưa trên blog này hồi tranh luận về bộ phim Đường tới thành Thăng Long, không sai chút nào. Về cơ bản, trang phục triều Nguyễn không khác trang phục triều Minh. KHÔNG BIẾT NHỮNG KẺ LA Ó “LAI TÀU” NÀY NỌ GIỜ NGHĨ SAO NHỈ?“

Xin trả nhời dư lày:


Ô, thế ra “Đường tới thành Thăng Long” là về NGUYỄN Công Uẩn à?

Để tỏ tường cháu lại phải đọc nốt entry Trang phục thời Lý Trần như thế nào?

Trong entry ấy Đông A viết: “Bài thơ Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục" http://blogdonga.blogspot.com/2008/09/ve-mot-bai-tho-cua-ho-quy-ly.html, được cho là của Hồ Quý Ly, có câu: “Y quan Đường chế độ / Lễ nhạc Hán quân thần”. BÀI THƠ NÀY CHO THẤY, VỂ MẶT CƠ BẢN, TRANG PHỤC MŨ ÁO QUAN LẠI THỜI LÝ-TRẦN GIỐNG NHƯ THỜI NHÀ ĐƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC (Gốc Sậy nhấn mạnh)”


Rồi lại viết: “Bức vẽ ở trên thể hiện lối ăn mặc của người Giao Chỉ tôi lấy trong bộ “Tam tài đồ hội” của Vương Kỳ, người đời Minh soạn. Như vậy dù không cụ thể, chi tiết, cũng có thể hình dung đại khái được trang phục thời Lý-Trần như thế nào. Về cơ bản, đàn ông cạo đầu, xăm mình, đội khăn. Riêng vua chúa thì búi tóc, và dùng lụa phủ búi tóc. Áo mặc có cổ tròn, thường màu sẫm. Các màu xanh, hồng, vàng, tía mà màu áo của vương hầu, dân chúng không được dùng. Theo bức vẽ của “Tam tài đồ hội”có thể thấy áo bào có cổ tròn, bốn vạt, tay áo ống hẹp. ĐÂY LÀ ĐẶC ĐIỂM KHÁC TRANG PHỤC CỦA TRUNG QUỐC THỜI KỲ ĐƯỜNG-TỐNG (Gốc Sậy nhấn mạnh)” .

Về trang phục của Dân và vua Việt dưới 2 triều đại Lý-Trần (từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14) mà Đông A chỉ cần 2 câu thơ và 1 bức vẽ là khẳng định được, kể cũng đã là KỲ TÀI.

Nhưng theo thơ thì bảo là GIỐNG thời Đường, còn theo tranh vẽ thì lại bảo KHÁC TRANG PHỤC CỦA TRUNG QUỐC THỜI KỲ ĐƯỜNG-TỐNG ???

Về chuyện phục trang của cái bộ phim KHÔNG NÓI RA AI CŨNG BIẾT LÀ GÌ kia, nhà cháu đã chỉ ra những chi tiết cụ thể về hoa văn NHAI NHÁI, không còn HỒN VIỆT (và nhiều sai sót khác, mời xem lại PHẢN BIỆN BÀ ĐOÀN THỊ TÌNH , BÁC DƯƠNG ‘TÀU’ KHÔNG NÊN NÓI THẾ !).

Nay chỉ xin nhắc lại:
CHẮC CHẮN, VỀ TRANG PHỤC (CŨNG NHƯ KIẾN TRÚC) NGƯỜI PHƯƠNG NAM NHIỆT ĐỚI KHÔNG THỂ MẶC (VÀ Ở) NHƯ NGƯỜI PHƯƠNG BẮC ÔN/HÀN ĐỚI ĐƯỢC.
Một bằng chứng THẤT BẠI của việc sao chép khiên cưỡng là các kiến trúc gỗ trong Đại Nội Huế luôn bị mục phần chân các cột hàng ngòai cùng vì  bắt chước kiến trúc thời nhà Thanh dùng kết cấu ‘đấu củng’, mái hiên chìa ra quá ít, không tránh được mưa hắt vào.

Một ví dụ về hiên đua ra quá ngắn ở các kiến trúc thời Nguyễn ở Huế \
Ảnh KTS Đòan Đức Thành (
http://img594.imageshack.us/img594/8229/dsc0983v.jpg)


Kiến trúc cổ truyền thống Việt luôn có Hiên đua vươn rất rộng-

Thôi, đi vào chuyên môn hẹp quá, sợ lại có người bảo TINH VI, cậy có nghề.

Bác nào thích thì xin cứ áo lông mà mặc giữa mùa Hè, hay bất chấp “trời không mưa lại cứ mặc áo mưa”.
Nhà cháu chả cản.

Hồi ấy, quan điểm của cháu,  báo Pháp luật TP.HCM gửi e.mail xin trích dẫn lên báo in và báo mạng, là:
Không thể làm phim lịch sử bằng bối cảnh nước khácTôi cực kỳ lo lắng về bản sắc dân tộc của các phim chào mừng 1.000 năm Thăng Long đã và sẽ quay ở Trung Quốc. Hoặc sẽ chẳng khác gì các phim chưởng rẻ tiền. Hoặc sẽ chẳng thể ra chất Việt.

Điện ảnh Việt Nam, những người quản lý ngành văn hóa Việt Nam đã và đang làm một việc “vô tiền khoáng hậu”: Làm phim về lịch sử dân tộc mình bằng những bối cảnh của đất nước khác. Mà quốc gia ấy, trong thời ấy và ngay cả bây giờ không bao giờ muốn chúng ta bảo tồn được bản sắc của mình.
Nguy hiểm nhất là những sự bịa đặt, vay mượn trang phục và kiến trúc Tàu này sẽ được các thế hệ sau coi là bản sắc dân tộc Việt.
Đau đớn là việc “tự chuyển hóa” này đang được thực hiện một cách chủ động.
Tôi muốn hỏi những người đã tham gia làm và muốn công chiếu bộ phim này: Các vị có bao giờ vào hùa với anh bạn hàng xóm chửi ông bà mình? Tôi chắc chắn người Trung Quốc hám tiền nhất cũng không làm điều đó.
Vậy nên đừng nói về bản sắc Việt ở bộ phim Tàu này (- trích từ blog Gốc Sậy).
(
http://phapluattp.vn/2010091412152033p1021c1083/ly-cong-uan–duong-toi-thanh-thang-long-phim-trung-noi-tieng-viet.htm)

Nhưng rốt cuộc, nhà cháu CHỊU, không trả lời bác T.T. được là Đông A có ý gì ở entry ấy .

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

Bộ tranh quý về triều Nguyễn chào bán tại Mỹ

TTCT - Một nhà sách ở Mỹ đang rao bán bộ sưu tập những bức họa về lễ phục tế Nam Giao thời Nguyễn. Mong sao các cơ quan chức năng ở Huế tìm cách hồi hương bảo vật này, không để mất như trường hợp một bức tranh của vua Hàm Nghi được đấu giá năm ngoái tại Pháp.

Ảnh chụp chiếc nhãn dán ngoài chiếc túi vải có dòng chữ Hán (phiên âm): Hoàng phái sắc phục tự thiên tử chí tôn thất cùng dòng chữ Pháp: Grande Tenue de la Cour d'Annam / par Nguyễn Văn Nhân / Biên-tu du Hàn-lâm en disponibilité / Hué. Decembre 1902. Nội dung ghi trên nhãn này khẳng định các bức vẽ này do nguyên Biên tu Hàn lâm viện của triều Nguyễn là Nguyễn Văn Nhân vẽ tại Huế vào năm 1902 về lễ phục tế Nam Giao của triều đình Huế
Chiếc túi vải đựng các bức họa
Bức tranh miêu tả nhà vua (có lẽ là vua Thành Thái, trị vì từ năm 1889 đến năm 1907), đang ngự trên ngai vàng trong điện Thái Hòa, hai bên có hai viên Thái giám và hai vị Hiệp lĩnh thị vệ đứng chầu, phía dưới có dòng chữ Hán: Đại Nam hoàng đế sắc phục tại vị cùng các chữ Hán ghi rõ chức phận của những người trong tranh là Hiệp lĩnh thị vệ và Thái giám
Bức tranh vẽ nhà vua mặc xiêm và long cổn, đi hia, đội mũ bình thiên, cùng các bồi tế, thị vệ và thái giám, đang chuẩn bị bước lên đàn tế Nam Giao
Bức tranh vẽ hai người mặc lễ phục khác nhau, với hai sắc màu xanh dương và đỏ làm chủ đạo, đầu đội hai chiếc mũ tế khác nhau. Các chữ Hán 皇 親 (Hoàng thân) viết trên tranh cho biết đây là hai vị hoàng thân thuộc tôn thất nhà Nguyễn
Bức tranh vẽ hai vị quan trong lễ phục màu cam, đầu đội mũ ô sa ngồi đối diện nhau
Chữ Hán viết trên tranh Chánh nhất phẩm, Đông Các, Võ Hiển cho biết đây là hai vị quan đứng đầu điện Đông Các (Đông Các đại học sĩ) và điện Võ Hiển (Võ Hiển điện đại học sĩ) trong triều đình Huế, hàm chánh nhất phẩm, vận lễ phục tế Nam Giao. Bức thứ bảy vẽ hình con voi có phủ bành bằng vải màu vàng, thêu hình viên long; một người quản tượng mặc áo màu đỏ tía cưỡi trên đầu voi và ba người lính đi bên cạnh con voi mặc binh phục, đội nón dấu, lưng thắt khăn với các màu sắc khác nhau. Chữ Hán trên bức tranh này cho biết họ là những người lính thuộc Kinh tượng vệ, được gọi bằng các danh xưng: Hiệp quản), Dương, Binh và Thanh minh


Tôi vừa nhận được email của TS Piere Baptiste, quản thủ Bảo tàng quốc gia Guimet về nghệ thuật châu Á ở Paris (Pháp), báo tin nhà sách Eric Chaim Klein ở Santa Monica, California, đang rao bán bộ sưu tập gồm những bức họa thể hiện lễ phục tế Nam Giao thời Nguyễn.

Kèm theo thông tin là website về bộ tranh (*) cùng bức thư do bà Laurent Mazzotti, đại diện của Eric Chaim Klein Bookseller, gửi cho TS Piere Baptiste với nội dung: “Nhận thức rõ những đóng góp quan trọng của Bảo tàng Guimet cho các chương trình hỗ trợ việc bảo tồn và phát triển hằng năm của các bảo tàng ở VN, chúng tôi gửi đến ông bộ sưu tập gồm những bức họa duy nhất minh họa chi tiết lễ phục mà vua quan và binh lính của triều đình An Nam mặc trong lễ tế Nam Giao, với các màu sắc rất sinh động và trung thực. Những họa phẩm này chưa từng xuất hiện, độc đáo và hiếm thấy, đã được một người tên là Nguyễn Văn Nhân vẽ tại Huế vào tháng 12-1902, đúng 100 năm sau ngày triều Nguyễn được thiết lập. Chúng tôi bày tỏ mong muốn Bảo tàng Guimet quan tâm để mua lại các họa phẩm này. Nếu không, chúng tôi vô cùng biết ơn việc (ông) thông báo lời đề nghị này đến các tổ chức, cá nhân khác vì chúng tôi tin rằng việc này có một vai trò quan trọng trong các bảo tàng hay trong thư viện công cộng cũng như trong các sưu tập tư nhân”.

Bộ tranh có tên Lễ phục của triều đình An Nam (Grande tenue de la Cour d'Annam) đang được Eric Chaim Klein Bookseller rao bán với giá 35.000 USD, gồm 54 bức được vẽ bằng màu nước hết sức sống động, tất cả đều trong tình trạng hoàn hảo. Mỗi bức đều có chú thích bằng chữ Hán và chữ Pháp về chức tước, phẩm hàm của những nhân vật được vẽ.

Qua email, TS Piere Baptiste gửi cho tôi một số ảnh chụp từ bộ sưu tập này, trong đó có cả ảnh chụp chiếc túi vải lanh đựng các bức họa, bên ngoài có dòng chữ Hán Hoàng phái sắc phục tự thiên tử chí tôn thất cùng dòng chữ Pháp: Grande tenue de la Cour d'Annam/ par Nguyễn Văn Nhân/ Biên-tu du Hàn-lâm en disponibilité/ Hué. Decembre 1902 (tác giả bộ tranh là Nguyễn Văn Nhân, biên tu Hàn lâm viện của triều Nguyễn, tranh vẽ tại Huế năm 1902).

Một bức miêu tả nhà vua (có lẽ là vua Thành Thái, trị vì năm 1889-1907) đang ngự trên ngai vàng trong điện Thái Hòa, hai bên có hai viên thái giám và hai hiệp lĩnh thị vệ đứng chầu, phía dưới có dòng chữ Hán “Đại Nam hoàng đế sắc phục tại vị”, đồng thời ghi rõ chức phận của những người trong tranh. Một bức khác vẽ nhà vua mặc xiêm và long cổn, đi hia, đội mũ bình thiên, cùng các bồi tế, thị vệ và thái giám đang chuẩn bị bước lên đàn tế Nam Giao.

Trong bức vẽ hai vị quan trong lễ phục màu cam, đầu đội mũ ô sa ngồi đối diện nhau, ghi chú chữ Hán cho biết họ là hai vị quan đứng đầu điện Đông Các (Đông Các đại học sĩ) và điện Võ Hiển (Võ Hiển điện đại học sĩ), hàm chánh nhất phẩm. Lại có bức vẽ một con voi có bành màu vàng thêu hình rồng cùng người quản tượng mặc áo màu đỏ tía cưỡi trên đầu voi và ba người lính đi cạnh voi, với ghi chú biết họ thuộc Kinh tượng vệ.

Từ năm 2004 đến nay, trong các kỳ Festival Huế, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế luôn phục dựng lễ Tế Giao nhưng gặp rất nhiều khó khăn khi phục chế lễ phục và tái hiện không gian lễ hội.

Ngoại trừ 128 bộ lễ phục của 64 văn sinh và 64 vũ sinh biểu diễn điệu múa Bát dật đã được nhà nghiên cứu Trịnh Bách phục chế một cách bài bản, các lễ phục của vua quan, hoàng thân, đình thần, bồi tế, binh lính cũng như trang phục của voi, ngựa tham gia lễ tế đều mượn từ các vai diễn của Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế hoặc được phục chế một cách vội vàng và nặng tính tuồng chèo.

Đó là một trong những lý do khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế luôn phàn nàn lễ tế Nam Giao tái hiện ở Huế đã mất tính xác thực (authenticity) của một lễ tế quan trọng nhất dưới thời Nguyễn.

TS TRẦN ĐỨC ANH SƠN
__________

Cá xem các cơ quan chức năng và những nhà quản lý văn hóa Huế có ra tay trong vụ này không!
Nếu không mua thì Huế ơi "chuối cả nải"!

Phản biện của TS. Nguyễn Hồng Kiên
Một tư liệu quý hiếm, giá rao bán có 35.000 USD. Nhân vội với giá USD là 21.000đ thì cũng chỉ là 735.00.000 VNĐ. Quá HỜI !
Ô hay, TS Sơn tiết lộ bí mật động trời đấy chứ?
Vậy mà sao cho đến gần đây những lễ tế (Giao và Xã Tắc) vẫn được quảng cáo rùm beng là” đã được NGHIÊN CỨU VÀ PHỤC HỒI THÀNH CÔNG”

 (http://www.vietnamplus.vn/Home/Thua-ThienHue-se-xa-hoi-hoa-to-chuc-Le-te-Xa-Tac/20113/80123.vnplus ), “được tổ chức quy mô, hơn 700 người tham gia với đầy đủ đạo cụ, phục trang, nghi trượng, cờ phướn. Lễ tế sẽ thực hiện trang nghiêm với đầy đủ các nghi thức truyền thống“.
Thậm chí “một hồ sơ khoa học về lễ tế Xã Tắc sẽ được xây dựng và tiến tới các thủ tục xin công nhận là Di sản Văn hoá Phi vật thể Đại diện của nhân loại” (
http://www.huedisan.com.vn/?catid=107 ).
Hóa ra trong tất cả các lễ tế đã được tổ chức ấy, “các lễ phục của vua quan, hoàng thân, đình thần, bồi tế, binh lính cũng như trang phục của voi, ngựa tham gia lễ tế đều mượn từ các vai diễn của Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế hoặc được phục chế một cách vội vàng và nặng tính tuồng chèo.”
Qua mấy tấm ảnh của tập tranh tư liệu này cũng đã có thể thấy khẳng định của họa sỹ Trịnh Quang Vũ trên báo TT&VH

 (http://thethaovanhoa.vn/133N20110505090650048T0/khoi-dong-chon-quoc-phuc-con-ban-khoan-voi-quoc-phuc-nam.htm ) là KHÔNG ĐÚNG : “Đặc biệt nữa, trang phục của VN là giống nhau, từ vua quan, cho đến dân thường đều mặc, chỉ khác nhau về chất liệu, họa tiết mà thôi. Áo dài truyền thống của mình là áo kép, tức có 2 lớp áo. Bên trong chỉ một màu như trắng, đen... còn bên ngoài phủ the, lụa, vua thì thêu rồng, hoàng hậu thì thêu các họa tiết, còn dân mặc áo the bình thường.
… Trong cuốn sách về trang phục VN mới xuất bản của tôi cũng đã nói rõ. Nhưng cũng xin nói thêm là áo dài của VN là áo dài kép, lớp ở ngoài rất mỏng. Với vua, lớp bên ngoài không phải màu đen mà là lụa, có họa tiết trang trọng, lớp trong là màu trắng. ”


Nói thêm
“Đặc biệt nữa, trang phục của VN là giống nhau, từ vua quan, cho đến dân thường đều mặc, chỉ khác nhau về chất liệu, họa tiết mà thôi. Áo dài truyền thống của mình là áo kép, tức có 2 lớp áo. Bên trong chỉ một màu như trắng, đen... còn bên ngoài phủ the, lụa, vua thì thêu rồng, hoàng hậu thì thêu các họa tiết, còn dân mặc áo the bình thường".
Cứ theo lời của họa sĩ Trịnh Quang Vũ thì trang phục Việt Nam thời Nguyễn phản ánh một xã hội dân chủ và bình đẳng ghê, hơn cả thời XHCN quá độ bây giờ!

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Lúa trồng có nguồn gốc từ Trung Quốc, kết luận từ những nghiên cứu về gene - Rice's origins point to China, genome researchers conclude

Cây lúa (trồng) có nguồn gốc từ TQ, một nhóm các nhà nghiên cứu về gene đã đưa ra kết luận như vậy trong một nghiên cứu lịch sử tiến hóa hàng nghìn năm bằng gene re - sequencing (chạy lặp lại chuỗi thứ tự gene) ở quy mô rộng. Những phát hiện của họ đăng trên Kỷ yếu Học viện Khoa học Quốc gia (PNAS) số gần đây nhất cho thấy rằng việc thuần hóa cây lúa có thể đã xuất hiện vào thời điểm cách ngày nay 9.000 năm ở lưu vực sông Dương Tử (còn gọi là sông Trường Giang). Những nghiên cứu trước đây giả định việc thuần hóa cây lúa có hai điểm nguồn gốc (hai quê) - Ấn Độ và Trung Quốc.
Rice originated in China, a team of genome researchers has concluded in a study tracing back thousands of years of evolutionary history through large-scale gene re-sequencing. Their findings indicate that domesticated rice may have first appeared as far back as approximately 9,000 years ago in the Yangtze Valley of China [Credit: ©iStockphoto.com/zhuda]
Nghiên cứu này do những nhà khoa học của Trung tâm nghiên cứu gene và Hệ thống Sinh học , Bộ môn Sinh học của Đại học New York, Bộ môn Sinh học của Đại học Washington ở St. Louis, Bộ môn Di truyền học của Đại học Stanford và Bộ môn Nông học của Đại học Purdue tiến hành.


Lúa châu Á, Oryza sativa là một trong những loài cây trồng cổ nhất thế giới. Đây cũng là loại cây trồng rất đa dạng với hàng chục nghìn biến thể được phổ biến trên toàn thế giới. Hai phụ loài chính của lúa là japonica và indica - tương ứng với phần lớn các biến thể trên thế giới. Lúa sushi, ví dụ là một dạng của japonica, trong khi đa số lúa hạt dài của risottos (cơm Italia) là indica. Vì lúa rất đa dạng nên nguồn gốc của lúa là chủ đề tranh cãi khoa học. Một thuyết - mô hình đơnnguồn gốc  - cho rằng indica và japonica được thuần hóa một lần từ lúa dại O.rufipogon.

Thuyết khác- mô hình đa nguồn gốc - cho rằng hai loại lúa này được thuần hóa riêng rẽ và ở những vùng khác nhau của châu Á. Thuyết mô hình đa nguồn gốc thịch hành hơn trong những năm gần đây khi mà những nhà sinh học quan sát sự khác biệt gene đáng kể giữa indica và japonica, và một số nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ tiến hóa giữa các loại lúa ủng hộ sự thuần hóa cả ở Ấn Độ và Trung Hoa.

Trong nghiên cứu của PNAS, các nhà khoa học đánh giá lại lịch sử tiến hóa hay phát sinh loài của lúa được thuần hóa bằng cách sử dụng những tập hợp dữ liệu đã công bố trước đây, một số đã được dùng để biện luận rằng indica và japonica có nguồn gốc tách rời. Nhưng khi sử dụng thuật toán máy tính hiện đại hơn các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận rằng hai loại này có chung một nguồn gốc vì chúng có mối quan hệ di truyền gần nhau hơn so với bất kỳ loại lúa dại nào tìm thấy ở Ấn Độ hay TQ.

Thêm vào đó, những tác giả của nghiên cứu này đã kiểm tra sự phát sinh loài của lúa được thuần dưỡng bằng cách cho chạy lặp lại chuỗi thứ tự của 630 đoạn gene trên những nhiễm sắc thể chọn lọc từ tập hợp đa dạng của các giống lúa thuần dưỡng và hoang dại. Sử dụng những kỹ thuật hiện đại, loại trước đây đã dùng để xem xét dữ liệu di truyền trong tiến hóa người, kết quả của họ cho thấy chuỗi thứ tự gene phù hợp hơn với thuyết mô hình đơn nguồn gốc.  
Trong nghiên cứu PNAS của mình, những người khảo sát cũng sử dụng "đồng hồ phân tử" của gene lúa để xem khi nào lúa tiến hóa. Phụ thuộc vào cách những người nghiên cứu hiệu chỉnh đồng hồ của họ, họ chỉ ra rằng, nguồn gốc của lúa khoảng 8.200 năm cách ngày nay, trong khi indica và japonica tách khỏi nhau khoảng 3.900 năm cách ngày nay. Những tác giả của nghiên cứu cũng chỉ ra những niên đại phân tử phù hợp với những NCKCH. Những nhà khảo cổ đã phát hiện những thập kỷ gần đây về thuần dưỡng lúa ở lưu vực sông Dương Tử bắt đầu khoảng 8.000 đến 9.000 năm cách ngày nay trong khi thuần dưỡng lúa ở sông Hằng Ấn Độ khoảng 4000 năm cách ngày nay.
"Khi lúa được thương nhân và dân di cư đem từ TQ sang Án Độ nó đã bị lai giống mạnh mẽ với lúa dại địa phương", nhà sinh học của NYU Michael Purugganan, một trong những đồng tác giả của nghiên cứu đã giải thích. "Như thế lúa thuần dưỡng mà một thời chúng ta nghĩ là có nguồn gốc từ Ấn Độ, trên thực tế đã bắt đầu ở Trung Hoa".

"This study is a good example of the new insights that can be gained from combining genomics, informatics and modeling," says Barbara A. Schaal, Mary-Dell Chilton Distinguished Professor of Biology at Washington University in St. Louis, who is also a co-author. "Rice has a complicated evolutionary history with humans and has accompanied them as they moved throughout Asia. This work begins to reveal the genetic consequences of that movement." "lúa có lịch sử tiến hóa phức tạp cùng với con người và luôn đồng hành cùng con người khi họ di chuyển khắp châu Á"
 
Source: New York University [May 02, 2011]

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Người Bắc Kinh đã sử dụng vũ khí ở Trung Quốc cách đây 700.000 năm

Peking Man could have used weapons in China 700,000 years ago

A new research has found that Peking Man, who is believed to be 700,000 years old, was smarter than thought. 
Một nghiên cứu mới cho thấy Người Bắc Kinh, được tin là có tuổi 700.000 năm thông minh hơn so với đoán định.


At a time when China's climate was chillier than it is today, a group of Homo erectus lived in a cave system in Zhoukoudian China. 
Lúc bấy giờ khí hậu ở TQ khắc nghiệt hơn so với hiện nay, một nhóm người Homo erectus (người đứng thẳng) sống trong hệ thống hang động Chu Khẩu Điểm Trung Quốc
 
A team of scientists led by Dr. Chen Shen, of the Royal Ontario Museum in Toronto Canada, have been re-examining the tools that Peking Man used. 
Một nhóm các nhà khoa học  của Bảo tàng Hoàng gia Ontario ở Toronto Canada, do TS. Chen Shan phụ trách đã kiểm tra lại những công cụ mà Người Bắc Kinh đã sử dụng.
"The new study suggests that Peking Man lithic technology was not simple as previously thought," Unreported Heritage News quoted Shen in the abstract of a paper, as saying. 
"Nghiên cứu mới đã cho thấy công nghệ chế tác đá của Người Bắc Kinh không đơn giản như chúng ta từng nghĩ" . Tin tức Di sản Không thông báo đã trích lời của Shen trong một bản tóm tắt của bài báo.
"The micro-wear evidence indicates many typed tools were made for specific tasks related to processing animal substances," added Shen. 
"Chứng cứ soi vết sử dụng đã chứng tỏ nhiều loại công cụ được chế tác dành cho những việc riêng biệt liên quan đến quá trình săn thú;" Shen bổ sung,
Peking Man didn't just know how to butcher animals, he also knew the best way to hunt them - with the end of a stone pointed spear. 
Người Bắc Kinh không chỉ biết xẻ thịt thú, họ còn biết cách thức tốt nhất để săn chúng bằng đầu nhọn của giáo đá.
"Importantly, most pointed tools were probably hafted, and this provides arguably the earliest evidence for the composition tools in the Chinese Middle Pleistocene," said Shen. 
"Quan trọng là, phần lớn các công cụ mũi nhọn có thể đã được tra cán và điều này cung cấp chứng cứ sớm nhất về loại công cụ nhiều thành phần thời Trung kỳ Cánh tân ở Trung Quốc" Shen nói

The paper was presented at a recent Society for American Archaeology conference.  
Bài đã được trình bày tại hội nghị của Hiệp hội KCH Mỹ mới đây.

Source: New Kerala [April 30, 2011]

Về Thành Nhà Hồ (VietNamNet lại đăng bài SAI quá nhiều và VÔ BỔ)

Bài trên VietNamNet


Một ngôi thành bằng đá xanh hùng vĩ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt suốt 600 năm qua. Những người thợ thủ công đã làm thế nào để vận chuyển và đưa những khối đá hàng chục tấn lên cao? Làm thế nào giữa các tảng đá không cần chất kết dính mà ngôi thành vẫn vững vàng qua bao mưa nắng?

Bạn đọc Hoàng Giang đã gửi những bức ảnh rất đẹp về kinh đô xưa của nhà Hồ tới VietNamNet:
Thành Nhà Hồ (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) vốn là kinh đô của nhà Hồ, thành còn được gọi là Tây Đô để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội). Đây là một công trình kiến trúc đồ sộ, một hoàng thành rộng lớn vào bậc nhất Việt Nam, có người đã ví von đây là “Kim tự tháp” đá của Việt Nam.

Công trình hùng vĩ này do Hồ Quý Ly - lúc bấy giờ là tể tướng cho xây dựng vào năm 1397. Thành có bình đồ kiến trúc hơi vuông với hai mặt nam - bắc dài hơn 900m, hai mặt đông - tây dài hơn 700m, độ cao trung bình 7-8m, có nơi như ở cửa nam cao tới 10m.

Điều đặc biệt thú vị là toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá xanh, đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau với tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp.

Các phiến đá có kích thước rất lớn, chiều dài trung bình 1,5m, cá biệt có phiến dài tới 5m, rộng 1,5m và nặng tới 15-20 tấn.

Các cổng thành được xây dựng theo kiến trúc hình vòm. Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau. Cổng tiền (phía Nam) là cổng chính, có ba cửa. Cửa giữa rộng và cao gần 6m, hai cửa bên rộng 5,4m, cao 5,3m. Ba cổng còn lại chỉ có một cửa.

Điều đáng ngạc nhiên là một công trình kiến trúc đồ sộ, vững chắc như vậy mà theo tương truyền của nhân dân địa phương, thành chỉ được xây trong vòng ba tháng. Cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều giả thuyết và bí mật xung quanh việc xây thành.

Đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu người Pháp L.Bezacier, chuyên nghiên cứu về văn hóa Đông Dương, đã nhận xét về thành nhà Hồ như sau: “Thành cổ này là một mẫu mực độc nhất về việc sử dụng những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách rất tài tình...”.


Các nhà nghiên cứu cho rằng, đá xây thành đã được vận chuyển từ vùng núi An Tôn, Xuân Đài hoặc núi Nhồi cách thành từ vài cho đến hàng chục km
Cổng thành phía Nam với ba cửa mái vòm lớn
Chỉ bằng những phương tiện thủ công nhưng người xưa đã tạo nên một thành đá rất đồ sộ. Các góc thành đều rất vuông vức
Cổng thành phía Đông với mái vòm bằng đá rất đẹp
Những tảng đá được chồng khít lên nhau và giữa chúng không hề có chất kết dính
Cho đến bây giờ việc xây thành vẫn là một bí mật
Một vài chỗ đã có hiện tượng lún đỗ để lộ ra những phiến đá với kích thước khổng lồ
Bức tường thành bằng đá vẫn vững vàng qua hàng trăm năm
Giữa thành là một đôi rồng đá rất đẹp, dấu tích của cung điện ngày xưa. Điều thú vị là cả hai con rồng đá này đều bị chặt đầu chặt đuôi?
Hoàng Giang
http://www51.vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/du-lich/18163/bi-mat-dang-sau-thanh-da-lon-nhat-viet-nam.html

Phản biện của TS. Nguyễn Hồng Kiên

Tốt nhất là bóc bỏ. Vì SAI quá nhiều và VÔ BỔ:
1-Cung cấp thông tin sai:
+ Việc xây dựng Thành nhà Hồ chẳng có gì là bí mật như tác giả đặt ra các câu hỏi (có phần ngớ ngẩn). Chỉ cần TẠM đọc website của BQL Di tích Thành Nhà Hồ
http://thanhnhaho.vn/Default.aspx?ctr=guest.introview&l=vi&introid=512 thôi cũng đã hiểu rồi:
Từ bên ngoài, có thể thấy toàn bộ các bức tường của tòa thành được xây bằng các khối đá khổng lồ có hình khối chữ nhật hoặc gần vuông, xếp không trùng mạch theo hình chữ “I”. Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi ba lớp gắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt:



   Hình 04: Một đoạn tường thành phía Đông

- Lớp ngoài: tường thành được xây dựng bằng “những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách tài tình”. Tất cả các khối đá xây được đẽo gọt công phu thành các khối vuông thành sắc cạnh, với kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x 1 x 1,2m. Những khối đá lớn nhất nặng tới khoảng 26,7 tấn. Nhìn từ mặt ngoài, từng khối đá này được lắp ghép chồng khít lên nhau theo phương thẳng đứng, hơi thu nhỏ phía trên kiểu “thượng thu, hạ thách”. Kỹ thuật này thể hiện rõ nhất là ở các điểm bắt góc của thành. Những khối đá to lớn nhất được xếp dưới thấp, càng lên cao, kích thước của chúng càng giảm đi. Các khối đá có kích thước to lớn nhất được thấy ở các bức tường phía Tây, phía Nam và phía Đông. Trong khi ở phía Bắc chúng có kích thước nhỏ hơn, do vậy số lượng các hàng đá cũng lớn hơn.
  Ở mặt bên trong, các khối đá này được chèn nối tiếp kiểu “nanh sấu”, liên kết chặt chẽ với nhau bằng các khớp, ăn sâu vào trong lõi tường tới khoảng 4m. Đá dăm trộn chất kết dính được đổ đầy vào các khoảng trống của những khối đá này. Với kĩ thuật đa dạng như vậy, các khối đá liên kết với nhau rất chắc chắn theo chiều ngang và chiều dọc, giữa lớp trong và lớp ngoài bằng khớp, giữa lớp trên với lớp dưới bằng sức nặng.
  Để đảm bảo độ vững chắc của tường thành người ta đã tạo chân móng tường bằng cách kè các khối đá tảng lớn chìa rộng hơn tường thành. Mặt trên của các tảng đá kè móng được đẽo bằng phẳng, các mặt khác vẫn còn nguyên vỏ đá tự nhiên, sau đó xếp đặt đá xây tường thành lên trên. Bên dưới lớp đá tảng này, lại được đầm nện chặt bằng các lớp đất sét trộn sỏi và đá dăm, dày ít nhất là 70cm, như có thể quan sát trong một hố khai quật năm 2008 ở Cửa Nam.

     Hình 05: Kỹ thuật gia cố lõi tường thành

  – Lớp giữa (lõi tường) được đắp bằng đá mồ côi (các khối đá rời tự nhiên), chèn ốp bên trong theo từng lớp đá bên ngoài.
  – Lớp trong là lũy đất đắp bằng đất sét trộn cát sỏi, nện kỹ từng lớp, có độ dốc thoải dần vào phía trong thành. Cứ dày khoảng 60cm – 70cm lại có một lớp cát mỏng trộn với sỏi.
  Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho biết, vào năm Tân Tỵ (1401) “Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để dùng vào việc xây thành. Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây, ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá”. Mặc dù các dấu tích hiện tại chưa cho biết gạch đã được dùng cho việc xây thành như thế nào, từ những viên gạch hình khối chữ nhật to lớn được thu thập khá nhiều trong nhân dân, các nhà khoa học cho rằng có thể có những ụ bắn bằng gạch được xây trên tường thành.

HẾT TRÍCH.

+ Hồ Quý Ly chưa/không bao giờ là TỂ TƯỚNG mà chức quan lớn nhất dưới thời Trần của ông là Phụ chính Thái sư nhiếp chính.

+ Về thời gian xây KỶ LỤC 03 THÁNG, không phải như tác giả nói là “theo tương truyền của nhân dân địa phương”, mà được ghi trong chính sử.
Đại Việt Sử ký Tòan thư- Bản Kỷ, quyển VIII (bản dịch nxb.KHXH, Hà Nội 1971, trang 219) chép:” Đinh Sửu năm thứ 10 [1397]…Mùa Xuân, tháng Giêng (vua Thuận tông- húy là Ngung, con út Trần Nghệ tông-Gốc Sậy chú) sai Thượng thư Lại bộ kiêm Thái sử lệnh là Đỗ Tỉnh (có sách chép là Mẫn) đi xem đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, đắp thành đào hào, lập nhà Miếu, nền Xã (tức đàn Xã Tắc- Gốc Sậy chú), mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đấy, BA THÁNG LÀM XONG“.

+ Con số “tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp” không đáng tin, vì ngay số đo dài rộng của thành tác giả cũng BỊA: “Thành có bình đồ kiến trúc hơi vuông với hai mặt nam – bắc dài hơn 900m, hai mặt đông – tây dài hơn 700m “.
Thực tế, các tường thành KHÔNG CHÊNH ĐẾN 200m mà chỉ dao động khoảng chưa đến 10m (từ 877m đến 880m). Trang web của BQL di tích thành Nhà Hồ viết rõ: “Hai tường thành phía Nam và phía Bắc dài 877,1m và 877m, hai tường thành phía Đông và phía Tây dài 879,3m và 880m.”

 2- Là một dạng tin ảnh mà hầu hết các chú thích chẳng ăn nhập gì với ảnh.
+ Chú thích cho tấm ảnh 1 đoạn tường thành lại là “Cổng thành phía Đông với mái vòm bằng đá rất đẹp”. Mà MÁI VÒM là cái gì chứ?
+ Ảnh chụp các lỗ chân cột của kiến trúc gỗ (vọng lâu) trên mặt cổng thành lại được chú thích là: “Bức tường thành bằng đá vẫn vững vàng qua hàng trăm năm”
+ Thậm chí gây PHẢN CẢM như chú thích cuối. Xưa nay vẫn nói 2 tượng rồng này bị quân xâm lược Minh chặt đầu. Sao Hoàng Giang và  BBT VietnamNet lại thấy THÚ VỊ được?

Ba Sàm cũng phải hỏi: "Không hiểu câu chú cho tấm ảnh nầy: “…  Điều thú vị là cả hai con rồng đá này đều bị chặt đầu chặt đuôi?” http://anhbasam.wordpress.com/

VietNamNet có ý định tốt khi mở mục Du lịch và kêu gọi độc giả chia sẻ hình ảnh về quê hương đất nước. Tuy nhiên, BBT cần chú trọng biên tập hơn trước khi đăng bài.