Thứ Hai, 7 tháng 2, 2011

Ảnh hoa cúc trắng






























Hai mẹ con tập chụp ảnh trong ngày nghỉ cuối cùng của Tết Tân Mão.

Hoa cúc là quốc hoa của Nhật Bản. Quốc hoa của Việt Nam nghe nói sẽ là hoa sen hồng. Mình cũng thích hoa sen, nhưng rất ghét câu "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn", nghe như kiểu con chê cha mẹ khó, chó chê chủ nghèo ấy, hay như bác Gốc Sậy và Dr. Nikonian nhận xét : "Bạc bẽo"!

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

Nguồn gốc loài người - Một quan điểm khác (Trích sách của Machusin). Phần I

Nguồn gốc loài người
Tác giả G.N. Machusin
Nhà xuất bản Mir, Maxcova, 1982
Người dịch : Phạm Thái Xuyên dịch sang tiếng Việt có bổ sung và sửa chữa Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1986

LỜI NÓI ĐẦU

Đọc cuốn sách "Nguồn gốc loài người" của G. N. Machusin sẽ thấy rất thú vị. Ngôn ngữ sống động, tài liệu khoa học đa dạng, những quan niệm khác thường đối với vấn đề nguồn gốc con người - tất cả những điều đó đã đủ lý thú rồi. Cuốn sách được viết theo truyền thống diễn đạt dễ hiểu đối với khoa học phổ cập, nó mang lại một cách chính xác cho đông đảo bạn đọc những chứng cứ và những giả thuyết khoa học. Trong lịch sử nguồn gốc con người vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ. Thời gian chuyển biến từ động vật đến các tổ tiên con người được chú ý đến nhiều.

Một loài động vật khởi đầu đã tạo ra hai nhánh phát triển. Một nhánh - tổ tiên con người, người vượn và họ người (Hominidae) [1] , nhánh song song thứ hai - vượn gôrila (Gorilla gorilla), hắc tinh tinh (Antropopithecus troglodytes), và v.v...

Tổ tiên con người là một loài đã bị mất tung tích, không để lại dấu vết, - đỉnh cao của tiến hóa thuần túy sinh học đã trở thành nguồn cội của người xã hội tương lai nhờ có được những tính chất mới đặc biệt trong di truyền. Tổ tiên con người đã trải qua những biến đổi sinh học căn bản, trước hết, những biến đổi ấy gắn liền với sự xuất hiện những dạng thức phản ánh mới.

Dựng lại quá trình xuất xứ của con người nghĩa là nói về hai giai đoạn bước ngoặt chủ yếu nhất trên nền tảng của quá trình đó. Giai đoạn thứ nhất - xuất hiện tổ tiên xa xôi mà trong não đã chớm nở những yếu tố của quá trình phản ánh mới, mà sau này do ảnh hưởng của lao động, dẫn đến phát sinh tri thức. Có lẽ, sự kiện đó đã xảy ra gần 20 triệu năm trước đây. Mối liên hệ của tổ tiên con người với giới động vật có ý nghĩa to lớn; đồng thời, sự tiến hóa của họ người cũng bắt đầu từ đó. Giai đoạn thứ hai - xuất hiện người thông minh, Homo sapiens. Sự kiện này xảy ra tất cả chỉ vào khoảng 40 nghìn năm trước đây.

Những điều kiện và những yếu tố tiến hóa từ tổ tiên là động vật đến người hiện đại đã biến đổi rõ rệt. Quá trình tiến hóa ấy bao gồm tính liên tục và những bước nhảy vọt, tính ngẫu nhiên và tính tất yếu, nó gắn liền với lối thoát dần dần của con người ra khỏi sự thống trị của tiến hóa sinh học theo mức trội. Dạng thức này trở thành sức mạnh quyết định sự phát triển của con người. Thế nhưng, như thế nào mà do ảnh hưởng của những nguyên nhân ấy, một trong số các loài động vật đã tạo nên nguồn gốc của tổ tiên con người, và do đó mở ra lịch sử chưa từng có hình thành người thông minh ? Có thể gọi giai đoạn khi những tổ tiên đầu tiên của con người vẫn còn ở trong phạm vi của tiến hóa sinh học, bằng cách nào đó bắt đầu vận động tiến tới hình thành những dạng đầu tiên của đời sống xã hội, là giai đoạn tổ tiên con người. Có lẽ, tổ tiên con người vẫn sống trên cây và giống vượn người nhiều hơn là giống với người.

Tại sao sự tiến hóa lại bắt đầu từ ramapitec và kết thúc khi người thông minh xuất hiện. Câu trả lời thông thường cho câu hỏi đó là : sự xuất hiện tổ tiên con người không phải là bước nhảy vọt trong quá trình tiến hóa của sự sống. Người ta cho rằng họ người đã xuất hiện như một phản ứng với áp lực chọn lọc kéo dài đã tác động chủ yếu thông qua những biến đổi trong tập tính gắn liền với những biến đổi trong môi trường sống. Phần lớn các nhà khoa học cho rằng con người là kết quả phát triển dần dần của một tổ hợp các đặc tính vốn có ở tổ tiên là động vật của con người, những đặc tính đó là tâm lý, cảm xúc, cảm giác quần hệ, khả năng trao đổi thông tin, và v.v... S. Đacuyn, P. Cropôtkin, E. Maer, Ph. Đôpgianxki đã viết về điều đó. Họ cho rằng dường như sự tiến hóa của họ người đã diễn ra về chất cũng giống như đã diễn ra ở tổ tiên là động vật của họ này.

Trong trường hợp này, không tính đến sự xuất hiện bước nhảy vọt dưới dạng các đặc tính có thể biến đổi một cách căn bản khả năng tiến hóa, hướng sự tiến hóa theo con người dẫn đến xuất hiện người thông minh. Giả thiết rằng vì những tổ tiên động vật của con người rơi vào môi trường sống mới, và điều đó chính là bước nhảy vọt dẫn đến sự tiến hóa đặc biệt của những tổ tiên là động vật của con người. Quả thật, vào thời gian xuất hiện tổ tiên con người, những biến đổi của khí hậu trên Trái đất đã làm cho những cánh rừng rộng lớn bị thay thế bằng những savan [2] trống trải kể cả những miền khô hạn dưới dạng bán sa mạc. Tổ tiên con người (sau khi đã tách ra từ nhóm đriôpitec) lúc ấy vẫn còn sống trên cây, bây giờ buộc phải tiến ra những khoảng trống lộ thiên. Hình như điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi cho dáng đi thẳng và nhờ săn bắt đã tăng thêm số lượng thịt trong thức ăn.

Có thể, đó chỉ là mô tả thực tế tiến trình hình thức của các sự kiện. Thế nhưng ramapitec đã xuất hiện ngay khi đriôpitec còn sống trên cây trong rừng. Tại sao cũng những biến đổi nghiêm trọng như thế trong môi trường sống, sự tiến hóa theo hướng dẫn đến người thông minh chỉ đụng chạm tới một loài động vật mà không đụng chạm tới những động vật gần gũi khác? Đã có đủ bằng cớ hiển nhiên chứng minh rằng việc sử dụng công cụ ở mức tối thiểu, sự hợp thành quần xã để kiếm thức ăn, kỹ năng khi hình thành tập tính, là bản tính của vượn. Một câu hỏi nảy sinh : tại sao trong những điều kiện ấy, những loài vượn khác lại không chuyển sang đi hai chân?
Điều đã biết rõ là một khu vực sống [3] mới rộng lớn xuất hiện sẽ kéo theo hiện tượng song hành trong tiến hóa của các loài. Khi môi trường sống ở nửa thứ hai của kỷ thứ ba biến đổi, chỉ có một loài sinh học biến đổi theo cách đặc biệt, và điều đó cho phép con cháu của loài ấy trở thành tổ tiên có triển vọng nhất của người thông minh, sự kiện đó được các nhà khoa học nghiên cứu như một vấn đề quan trọng nhất trong quá trình hình thành con người.

Lần đầu tiên con người thoát ra khỏi giới động vật là nhờ có khả năng nhận thức bản thân mình như một đơn vị tách biệt hẳn thế giới còn lại, đó là kết quả của một loại hình đặc biệt xử lý thông tin. Phải chăng khả năng đó là hệ quả bình thường trong tiến hóa của động vật? Nếu như thế thì sự nhận thức cần phải trở thành vốn riêng không những chỉ cho con người. Nếu mà con người chỉ giản đơn vượt hơn các loại khác về sự phát triển thì lúc ấy phải có những sinh vật hoặc là gần với người, hoặc là phản ánh trong hành vi của mình toàn bộ những bước chuyển tiếp từ giới động vật đến con người. Không có chuyện đó ! Hoạt động nhận thức tách biệt con người với động vật một trời một vực. Rõ ràng rằng sự xuất hiện dạng thức không bình thường như thế, như tổ tiên con người, đã dựa vào một hiện tượng sinh học duy nhất nào đó. Trên nền tảng khả năng xuất hiện tổ tiên con người, có sự cải biến sinh học đặc biệt về thông tin di truyền của đriôpitec, sự cải biến đó là cơ sở để phát triển loại hình vận động mới của vật chất. Toàn bộ những điều đó chứng minh cho giả thuyết giữa con người và giới động vật phải có một giai đoạn của tổ tiên con người - một sinh thể là sản phẩm của tiến hóa sinh học, thoát thai từ giới động vật bởi quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của dạng thức vận động vật chất về mặt sinh học. Hơn nữa, tổ tiên con người có bản tính sinh học mới về chất của một đặc tính duy nhất tuyệt đối ; bản tính đó không có ở tất cả các loài động vật còn lại. Bản tính đó quan trọng tới mức nó tạo ra bước ngoặt trong lịch sử sự sống trên Trái Đất - bước ngoặt trở thành điểm nguyên khai đối với sự phát triển những cơ sở sinh học đã xuất hiện khi hình thành người thông minh. Tính duy nhất của sự xuất hiện tổ tiên con người, tính không lặp lại của sự kiện đó trong lịch sử sự sống buộc phải thừa nhận sự xuất hiện đó là bất ngờ và đột nhiên. Bất cứ hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng của tính tất yếu và tính ngẫu nhiên. Tính ngẫu nhiên - sản phẩm có tính quy luật và không tránh khỏi của những yếu tố quyết định chủ yếu, không có nghĩa là nó có thể xảy ra hoặc không có thể xảy ra. Trong định nghĩa triết học này, sự xuất hiện tổ tiên con người được xem xét như tính ngẫu nhiên trong quá trình tiến hóa hữu cơ. Sự chuyển tiếp từ dạng thức vận động sinh học sang vận động xã hội - đó là sự chuyển tiếp đến một lĩnh vực mới về chất. F. Ănghen viết: "Tính ngẫu nhiên lật nhào quan niệm đã tồn tại cho đến nay về tính tất yếu". Sự việc cũng diễn ra như vậy đối với sự xuất hiện tổ tiên con người. Sau khi xuất hiện bằng con đường cải biến đột biến và chọn lọc, tổ tiên con người dựa vào các quá trình lao động, đã bước lên con đường tiến hóa có hướng. Con đường ấy - được đề nghị gọi là con đường tiến hóa hòa hợp, đã kéo theo một loạt các giai đoạn biến đổi về tâm lý và những đặc điểm thể chất để hoàn thiện sự hình thành người hiện đại. Ý nghĩa của tiến hóa hòa hợp là sự cải biến nối tiếp nhau những cơ sở sinh học của tổ tiên con người dưới ảnh hưởng của những yêu cầu xã hội.

G. N. Machusin đã xác định một cách đúng đắn tính chất phức tạp và quan trọng của vấn đề, và đã đưa ra một giả thuyết độc đáo. Theo giả thuyết này, những cải biến di truyền ở tổ tiên con người do kết quả đột biến đã phụ thuộc rất nhiều vào ảnh hưởng của bức xạ được tăng cường ở một trong những thời kỳ của sự tiến hóa này. Tác giả lưu ý bạn đọc rằng những biến đổi sinh học cỡ lớn ở tổ tiên con người đã diễn ra ở thời kỳ pliôxen, theo thời gian, trùng hợp với những sự kiện không bình thường trong lịch sử Trái Đất. Trên Trái Đất lúc ấy cùng chung sống những tổ tiên chung của tổ tiên con người và vượn hiện đại. Ở Đông Phi, trên lãnh thổ mà những tổ tiên chung ấy chiếm lĩnh, sự vận động mạnh mẽ của vỏ Trái Đất đã diễn ra. Những đứt gãy có dạng những đường nứt sâu dài hàng nghìn kilomet đã xuất hiện trên vỏ Trái Đất. Đồng thời, những quá trình phún xuất của núi lửa, tần số và cường độ động đất gia tăng đột ngột. Những lò urani thiên nhiên xuất hiện, chúng hoạt động như những nguồn năng lượng hạt nhân thiên nhiên và v.v... Theo quan điểm của tác giả, trong những điều kiện ấy, điều chủ yếu là nền phóng xạ đã gia tăng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Và chỉ trong một thời kỳ nhất định, sự tiến hóa của tổ tiên con người đã chịu đựng tác động của một yếu tố gây đột biến mạnh mẽ. G. N. Machusin chỉ ra rằng vào thời kỳ xuất hiện con người, trên lãnh thổ quê hương đầu tiên của con người đã xảy ra nhiều sự kiện có tính chất không bình thường. Ngoài hiện tượng phóng xạ được gia tăng, đã quan sát thấy núi lửa hoạt động mãnh liệt, động đất ở khắp nơi, và v.v... Tất cả những sự kiện đó đã tạo điều kiện gia tăng cả tần số đột biến cũng như cả đối với chọn lọc tự nhiên.

Còn về vai trò của những đột biến lớn trong nguồn gốc con người, tuy còn hơi cứng nhắc, nhưng vấn đề đó cũng đã được thảo luận trong cuốn sách. M.E. Lôba- sep (1967) đã viết: "Có thể, sự xuất hiện con người với hai bán cầu vỏ đại não phát triển, tư thế thân thể thẳng đứng, tín hiệu ngôn ngữ rời rạc, là hệ quả của những đột biến lớn. Đối với thiên nhiên, người thông minh "không bình thường" tới mức như một con gà nuôi đẻ 365 trứng một năm thay cho 10-15 trứng, hoặc một bò sữa kỷ lục cho 16 nghìn kilogam sữa một năm thay cho 600-700 kg". G. N. Machusin không tán thành quan điểm coi những đột biến như thế qui định sự xuất hiện con người. Tác giả nhấn mạnh rất đúng rằng sự hình thành tổ tiên con người không bị các đột biến bắt buộc mà là do những yêu cầu xã hội được đáp ứng trong lao động có mục đích quyết định; chỉ bằng con đường ấy, sự phát sinh xã hội mới có thể quyết định hướng tiến hóa sinh học của họ người. Tất nhiên, không phải toàn bộ các vấn đề trong cuốn sách đều đã hiển nhiên. Những luận điểm riêng biệt được dẫn ra có thể là quá khẳng định, những luận điểm khác - lại đơn giản hóa. Thế nhưng, trong cuốn sách khá ngắn gọn về nội dung này, những luận điểm ấy đã được giải thích. Tôi xin giới thiệu với bạn đọc cuốn sách thú vị này, và ở một số phần, thậm chí nó là một cuốn sách hấp dẫn. Người đọc cuốn sách này sẽ có thêm nhiều kiến thức.

Người viết lời giới thiệu
Viện sĩ N. P. ĐUBININ

Chú thích
[1] Họ người thuộc bộ linh trưởng (Primates), bao gồm người hóa thạch và người hiện đại. ND.
[2] Savan - từ tiếng Tây Ban Nha : sabana - những vùng bình nguyên rộng lớn ở nhiệt đới (châu Phi, Nam Mỹ), chỉ có cây thảo, chủ yếu là hòa thảo, thỉnh thoảng có những cây bụi có gai và những cụm cây thấp. ND.
[3] Khu vực sống (sinh cảnh) - từ gốc chữ Hy Lạp : biotopos - một vùng là môi trường sống của động vật được đặc trưng bằng những điều kiện sống tương đối ổn định (đầm lầy, savan,...). ND.

Tò he

Tò he cụ bán mấy đồng, Con mua một chiếc cho chồng con chơi. Chồng con đánh hỏng thì thôi, Con mua chiếc khác con chơi một mình.

Không biết tò he có từ bao giờ, chỉ biết rằng trong số các trò chơi dân gian trẻ em, có lẽ tò he là một trong những trò chơi có sức sống lâu bền nhất. Và nếu ai đó có dạm hỏi về tò he thì những người biết thường nhắc đến làng Xuân La (Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội).

Xem nặn tò he ở Văn Miếu Tết Tân Mão 2011

Một hàng nặn tò he ở Văn Miếu ngày đầu xuân

Bên cạnh nguyên liệu và tò he truyền thống, năm nay có khá nhiều tò he được nặn bằng một loại nguyên liệu đặc biệt, độ bền hơn 1 năm (hơi giống đất sét Nhật Bản dùng làm hoa) 

Vẫn có một số tò he được nặn từ bột gạo nếp truyền thống trộn màu thực phẩm

Tò he thời kinh tế thị trường

 Bim đặt làm mèo Đô rê mon

Đang chờ lấy tò he Bim gặp bạn cùng lớp học đàn, vui thật là vui 

Dụng cụ làm tò he rất đơn giản, một chiếc lược nhựa nhỏ với đôi tay khéo léo và óc quan sát tỉ mỉ.

Một hàng tò he khác

Sau một lúc chờ đợi và ngắm nghía, những con tò he đã được mang về. Thành một lọ hoa trưng năm Tân Mão

Kỷ Hợi mẹ 
Ất Hợi em

Ất Sửu chị
Quý Tỵ bố



Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2011

Lại là mèo

 Mèo và cô gái

Cô gái và mèo

Tranh vẽ mèo năm Tân Mão của gái lớn Lily

Thứ Sáu, 4 tháng 2, 2011

Người Việt thiếu tư duy biển

Người Việt thiếu tư duy biển
Đoan Trang


Có phải là nghịch lý không khi một đất nước có tới 1 triệu km2 diện tích vùng biển, rộng gần gấp ba đất liền, mà suốt bao thế kỷ không có nổi một đội thương thuyền, một nhà hàng hải, hay nói nhẹ nhàng hơn, không khai thác được kho vàng quý báu trải dài 3.444 km ngay trước mặt ấy? Nghịch lý của người Việt là thế: một dân tộc thừa biển nhưng lại thiếu tư duy biển.

Tư duy biển hiểu đơn giản là tinh thần hướng ra biển với tâm lý chủ động khai thác, sẵn sàng mạo hiểm chinh phục, khám phá. Thông thường những dân tộc có tư duy biển là người ở những vùng đất ven biển hoặc trên đảo, chẳng hạn Anh, Bồ Đào Nha, Thụy Điển. Châu Á thì có Nhật Bản, Indonesia, và gần Việt Nam nhất là người Champa.

Một số học giả cho rằng, như đã thành quy luật, những xứ sở phát triển nhất trong mỗi thời kỳ văn minh đều là những quốc gia ven biển hoặc quốc đảo, nói cách khác đều là nơi cư ngụ của những dân tộc có “tư duy biển”. Từ thời cổ đại ở Âu châu (bắt đầu vào thế kỷ thứ 8, thứ 7 trước CN), thế giới đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của văn minh Hy Lạp - La Mã, gắn với những chiến thuyền, thương thuyền buôn bán xuyên Địa Trung Hải. Thời phong kiến, những chiếc tàu khởi hành từ bán đảo Iberia đã mang về cho lục địa già cỗi bao nhiêu châu báu, hương liệu quý, và cuối cùng mở ra cả một tân thế giới: châu Mỹ. Rồi xứ Anh Cát Lợi thế kỷ 17-18, với giấc mơ “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh”, quốc đảo Nhật Bản vươn mình thành cường quốc thế kỷ 19-20. Gần đây nhất trong thế kỷ 20 là sự bùng nổ về thương mại và thịnh vượng của các hải cảng lớn trên thế giới: Hong Kong, Singapore…

Nước phát triển thường là nước có biển. Vậy ngược lại, xứ sở có biển có phát triển không? Điều này không được khẳng định, vì chúng ta vẫn thấy một số dân tộc được hưởng ưu đãi trời phú đó mà chưa vươn lên hàng ngũ “nước giàu”, như người Champa, Indonesia hay Malaysia. Tuy nhiên, chắc chắn là tư duy biển có ảnh hưởng rất tốt đến năng lực làm giàu của một dân tộc. Giáo sư sử học Cao Xuân Phổ giải thích: “Biển rộng bát ngát, mênh mông không ranh giới, cho nên tâm hồn con người đi biển cũng phóng khoáng, cởi mở, không có ý thức giữ đất, bám chặt lấy đất”. Ông nói thêm, người Champa vốn gốc Nam Đảo (Indonesia) nên đi biển giỏi, và nhờ tiếp nhận văn hóa Champa nên văn hóa Việt mới mềm đi, bớt cứng nhắc mà uyển chuyển và đa dạng hơn. “Như ở nước mình bây giờ, về văn hóa, cái gì cũng có. Tính đa dạng cao như vậy là do có sự du nhập từ bên ngoài, chủ yếu là theo đường biển; và còn do người Việt dễ tiếp nhận, mà cái đó cũng là nhờ yếu tố biển”.

Sự cởi mở đưa đến tinh thần sẵn sàng mạo hiểm khám phá và tới khát vọng làm giàu. Ngược lại, tác phong nông nghiệp là bám đất, đủng đỉnh, cầu an, “đủ ăn là được”. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà văn hóa nông nghiệp ít có đóng góp gì cho phát triển, trong khi tư duy biển là một tâm lý rất có lợi cho sự giàu mạnh của dân tộc.

Nhưng người Việt từ xưa đến nay đã không có được tâm lý đó.

“Quay lưng ra biển”

Tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển TP. HCM, cho rằng từ sâu xa trong cõi vô thức của dân tộc, người Việt đã sợ biển, “né” biển:

“Nghề đánh bắt cá hay cư dân sống trên sông nước chỉ có trong cổ tích với những nhân vật như Trương Chi, Chử Đồng Tử… luôn có vị thế xã hội thấp kém hơn người, nghề khác; biểu hiện bằng những mối tình với tầng lớp trên là tiểu thư con quan, công chúa con vua. Người Việt cũng hay nói “tấc đất tấc vàng”, “rừng vàng biển bạc”, với hàm ý đất đai có giá trị cao nhất, cần giữ chặt không xa rời.

Thời hiện đại, những câu nói thể hiện nỗi ngại biển từ trong tiềm thức vẫn chưa hết hẳn: “Vững tay chèo ra biển lớn”. Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu nhận xét: “Đã ra biển thì phải đi tàu, mà tàu thì chạy bằng máy chứ ai dùng chèo, dùng sức người? Ngay từ cách sử dụng ngôn ngữ trở đi, chúng ta đã chứng tỏ rằng mình không có tư duy biển”.

Đó là nỗi sợ tiềm ẩn trong lớp vỏ bọc ngôn ngữ. Còn trong lịch sử, cũng có rất nhiều câu chuyện cho thấy tâm lý quay lưng ra biển của người Việt. Cha ông ta, đã đành không phải là những “con sói biển” như dân Viking hay người bán đảo Iberia, nhưng thực sự chỉ tận dụng biển để đánh bắt cá, và do hạn chế về phương tiện nên cũng chỉ đánh bắt ven bờ. Nhà nghiên cứu cổ sử Trung Quốc và Việt Nam, ông Phạm Hoàng Quân, cho hay: “Dân mình xưa ỷ vào đất liền để làm ăn, ít nghĩ tới đi biển, càng không có sự đầu tư, nghiên cứu về kỹ thuật đóng tàu thuyền. Cho tới thời nhà Nguyễn, tuyến đường hàng hải chủ yếu của ta vẫn là dọc theo bờ biển Việt Nam – Trung Quốc, không đi xa hơn được”.

Nói về hoạt động buôn bán qua đường biển, ông Quân bảo: “Việt Nam không có truyền thống đi buôn đường xa, chủ động dùng tàu thuyền đưa hàng ra nước ngoài giao dịch. Chỉ có thương nhân nước ngoài đến xứ ta thôi, như ở cảng Phố Hiến, Hội An… Chủ yếu người Việt buôn bán nội địa, sử dụng đường sông”. Nhưng ngay cả đi trên sông thì tàu thuyền của Việt Nam cũng nhỏ bé (có thể do các sông của Việt Nam nhỏ và ít hiểm trở) và không đổi mới gì về kỹ thuật, trải suốt hàng trăm năm.

Thuyền chiến, thuyền buồm, thuyền chỉ huy thời Vua Tự Đức (1847- 1883)


Tâm lý ngại biển của người Việt có thể xuất phát từ một số nguyên nhân. Thoạt kỳ thủy, Việt Nam thuộc nền “văn minh lúa nước”, cư dân sinh sống trên vùng châu thổ sông Hồng nên gắn với đất, trọng đất từ đó. Thế rồi, trong quá trình phát triển của cộng đồng, biển lại giống như một mối đe dọa hơn là kho tài nguyên khổng lồ cần khai thác: thiên tai, giặc giã, tất cả đều từ phía ấy. Giặc Chà Và kéo sang cướp bóc, rồi cuối cùng đến thực dân Pháp bắn vào Việt Nam, cũng đều từ ngoài biển.

Kể từ khi Nguyễn Hoàng tiến hành công cuộc “mang gươm đi mở cõi”, vì sinh kế, người Việt mới có ý thức khai thác biển hơn. Theo Giáo sư Cao Xuân Phổ, cũng từ đó, Việt Nam mới bắt tay xây dựng những đội hải thuyền. Song nghề nông trồng lúa nước vẫn cứ là ngành sản xuất chính ở vùng đất mới. Kỹ thuật đóng tàu thuyền vẫn không có bước cải tiến nào. (Nếu đi sâu hơn nữa thì vấn đề này còn liên quan tới sự yếu kém trong hoạt động nghiên cứu và lưu trữ tài liệu của người đi trước để người đi sau học hỏi. Học giả Phạm Hoàng Quân cho biết những ghi chép mà sử sách để lại về nghề đóng tàu rất sơ sài, gần như toàn là mô tả bằng lời, không tranh vẽ, không mô hình, không thông số…).

Mãi tới thế kỷ 19, triều đình Minh Mạng mới mua được một chiếc tàu của Bồ Đào Nha và mày mò học cách chế tàu chạy hơi nước. Nhưng đã muộn: Năm 1858, tiếng súng giặc Pháp vang lên trên bán đảo Sơn Trà…

Xóa bỏ nghịch lý “thừa biển, sợ biển”
Thế kỷ 21 được gọi là “thế kỷ của đại dương”. Không chỉ riêng Việt Nam mà có lẽ tất cả các quốc gia có biển đều đã ý thức được về giá trị vô tận của kho vàng trước mặt họ. Không nước nào sợ biển nữa. Nhưng vấn đề bây giờ không còn là việc cử những đội thuyền lớn đi thám hiểm vùng đất mới, hay ra sức khai thác biển được chừng nào tốt chừng ấy. Thay vì thế, tư duy biển, văn hóa biển giờ đây là sự kết hợp hài hòa giữa khai thác với phát triển tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sống của người dân trong đó có ngư dân và những người mà cuộc mưu sinh gắn liền với biển. Và tất nhiên, không thể thiếu nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền đất nước đối với biển, đảo.

Tất cả những điều trên đều đòi hỏi trước tiên là hoạt động nghiên cứu khoa học bài bản để đánh giá tổng thể tiềm năng của biển, những việc cần phải làm, ai làm và làm như thế nào, để xây dựng kinh tế biển (gồm đa ngành: thủy hải sản, vận tải, hải quan, dầu khí, an ninh quốc phòng, môi trường…). Từ đó có một tầm nhìn lớn, thể hiện qua chiến lược phát triển tổng thể kinh tế biển. Cuối cùng là triển khai chiến lược, hiện thực hóa các kết quả nghiên cứu.

Một điều đáng để suy nghĩ là: Từ năm 1985 đến nay, nước ta đã có ít nhất 4 chương trình nghiên cứu biển đảo, mỗi chương trình có khoảng 20-25 đề tài riêng biệt. Tuy thế, kết quả của những công trình này được công bố và hiện thực hóa cụ thể như thế nào thì ít người hay biết…

Xây dựng “tư duy biển”, “văn hóa biển” giờ đây là việc đòi hỏi phải được gắn chặt với hoạt động đầu tư, nghiên cứu khoa học có hiệu quả, chứ không thể chỉ hô khẩu hiệu suông “tiến ra biển lớn!”.


Giá mà người viết bài này đọc thêm những nghiên cứu của Li Tana, Momoki Shiro, Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh  (người đã khái quát  tính chất "xa rừng, nhạt biển" của cư dân đồng bằng Bắc bộ)....
Không rõ bài này thuộc thể loại nào nữa và chẳng có ý gì mới so với những điều các nhà nghiên cứu đã viết từ trước tới nay.
Vấn đề có ra biển lớn được hay không hiện nay chính là những quyết sách và chiến lược về giữ vững chủ quyền và đảm bảo an ninh trên vùng biển Đông của Đảng và chính quyền!
Khái niệm người Việt ở đây có lẽ cũng cần làm rõ, người Việt vùng, miền nào và thời nào!
Câu "Vững tay chèo..." có lẽ không thể giải nghĩa như TS. Nguyễn Thị Hậu. Trước khi phát minh ra máy hơi nước, thuyền bè vượt đại dương của nhân loại vẫn chỉ lựa theo chiều gió, dòng chảy dùng buồm và chèo cơ mà.





































Hoa Tulip






Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011

Violet Thanh Hóa

Những ngày giáp tết, tìm đỏ mắt ở Hà Nội mới thấy lơ thơ vài cành violet, thược dược thì tịnh không có lấy một bông. Năm nay lay ơn và hoa ly lên ngôi. Thấy mọi người bảo hai loại này bà con trồng rất nhiều ở Hà Nhì. Thảo nào cả lay ơn, cả hoa ly tràn ngập Hà Nhất.

May quá, ở Thanh Hóa lại khá nhiều violet. Mua violet mang ra Hà Nội, mua lay ơn về cắm bàn thờ ông bà ở quê. Tìm mua thược dược để trưng bàn thờ ông nội và ông ngoại nhưng không kiếm đâu ra.

Thược dược thôi đành đợi tết sang năm!









Tết đến rồi, phải về thôi

Đối với mình, tết là phải về quê. Không quên nội thì quê ngoại, kiểu gì cũng phải dắt díu nhau về.
Những năm gần đây có điều kiện đi bằng xe nhà nếu về Thanh Hóa, đi máy bay nếu về Biên Hòa, việc di chuyển đỡ vất vả hơn nhiều so với nhiều năm trước. Nhưng bất kể thế nào thì sự háo hức bận rộn chuẩn bị quà về quê vui vầy cùng nội, ngoại trong dịp tết đến xuân về vẫn y như ngày còn nhỏ theo ba mẹ về quê ăn tết.
Mỗi món quà chuẩn bị đem biếu là mỗi mảnh tâm tư và đầy mong ước. Điều ước lớn nhất là sức khỏe và an lành cho tất cả mọi người.
  
Nếu không có những háo hức, lo lắng như thế thì tết chắc chả còn nghĩa lý gì nữa!
Vì thế, cả nhà sẽ cứ về quê ăn tết dài dài.
Hy vọng Hương Ly và Lâm Anh cũng mãi náo nức về quê ăn tết như bố mẹ.

Vì trước khi nói đến những điều to tát như yêu tổ quốc, đồng bào thì trước hết phải biết yêu và quan tâm đến những người ruột thịt!
Với người Việt, tết là lúc quan hệ thân tộc, quan hệ cộng đồng trở nên thiêng liêng và gần gũi nhất

Người cầm lái nhà ta
Dì Bim và cô cháu họ mới gặp lần đầu
Chuẩn bị bàn thờ ngày 30
Một góc vườn nhà - những chiếc chum này có tuổi ngót nghét nửa thế kỷ
Vườn cây xơ xác vì bà nội ngã bệnh nhiều tháng nay
Người nhà kể từ đợt rét đậm chú gà này luôn rúc tìm hơi ấm của chó mẹ
Ông nội có rất nhiều bằng khen, giấy khen. Thời đó khen thưởng chắc chắn thực chất hơn bây giờ. Huân chương này của ông nội có chữ ký xịn của Bác Hồ
Ba anh em đi mời ông bà ông vải về ăn tết với cháu con
Mâm cỗ cúng ngày 30
Thích nhất là anh em có dịp trêu đùa
Mọi năm bà nội còn khỏe thường hay ngồi ở giường nhìn con cháu
Bim lợi dụng lúc bố mẹ không để ý, gạ anh cho tập xe máy. Phạm luật rồi đấy!
Yên ả làng Văn Khôi