Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

Về việc gửi mẫu vỏ thóc khảo cổ Thành Dền sang Nhật làm AMS lần thứ hai

Thóc khảo cổ Thành Dền từ trước tới nay luôn luôn là điểm nóng thu hút giới báo chí và nhất cử nhất động cây lúa sinh trưởng và mọi quyết định liên quan đến phân tích niên đại những hạt thóc đã nảy mầm đều được đưa tin rất sốt dẻo.
Và dù muốn hay không muốn với tư cách là người có trách nhiệm tôi vẫn phải cung cấp và bổ sung thông tin về lần gửi thứ hai này.


Dưới đây là tin đã đưa trên báo Đất Việt


Thời gian tới sẽ gửi thêm một mẫu thóc thu được từ cuộc khi quật Thành Dền sang Nhật để xét nghiệm.


TS Lâm Thị Mỹ Dung, chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học, khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học xã hội-Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, trưởng đoàn khai quật Thành Dền cho biết vào ngày 3/8.


Mẫu được gửi đi là hạt thóc tìm thấy ở hố rác bếp số 4, hố số 2 tìm thấy ngày 7.6 do chính các nhà khảo cổ và các chuyên gia của Viện Di truyền Nông nghiệp trực tiếp lấy mẫu.


Theo TS Lâm Thị Mỹ Dung, lý do gửi thêm mẫu là vì 3 mẫu gửi đi trước đó với mẫu sắp gửi đi được tìm thấy ở 2 thời điểm khác nhau. Ba mẫu đầu gửi đi lần 1 được lấy mẫu theo quy trình thu lượm mẫu khảo cổ, không phải cho chính tay các nhà khảo cổ tiến hành. Mẫu sau gửi đi được chính các nhà khảo cổ tìm thấy và được đãi rửa theo một quy trình nghiêm ngặt hơn.


Vài ngày tới, TS Mariko YAMAGATA, Đại học Waseda, Nhật Bản sẽ mang mẫu này về Nhật và tiếp tục bàn bạc với GS Nakamura Shinichi, Đại học Kanazawa để tiến hành xét nghiệm mẫu. TS Lâm Thị Mỹ Dung cho biết thêm: không chỉ gửi 1 hoặc 2 lần, mà có thể gửi thêm một số mẫu để có nhiều kết quả.


Từ đó, các nhà khoa học sẽ so sánh, đối chiếu về sinh học với kết quả trồng thực nghiệm tại Viện Di truyền nông nghiệp để có kết luận về niên đại hạt thóc Thành Dền.


Mạnh Đồng
http://khoahoc.baodatviet.vn/Home/KHCN/kh24/Gui-them-mau-thoc-Thanh-Den-sang-Nhat-xet-nghiem/20108/106216.datviet.


Và đây là một số bức ảnh liên quan đến mẫu gửi lần hai


 Mẫu gửi lần hai này được đãi từ đất lấy từ hố rác bếp số 4, hố khai quật 2. Đất được lấy và đãi ngày 7.6.2010


Những mẫu thu được trong ngày 7.6.2010 gồm vỏ trấu, thóc lép, thóc mẩy, xương động vật, gạo cháy.  


Đây là một số hạt thóc còn chắc

 
Đặc biệt là 01 hạt thóc chắc còn dính đất của tầng văn hóa. Hạt này sau đó đã được cán bộ Viện Di truyền NN Việt Nam ủ cho nảy mầm và gieo thành mạ cùng một số hạt khác tìm cùng chỗ. Tuy vậy 04 cây mạ đợt hai này sau đó đã chết.

Tổng số hạt thóc khảo cổ Thành Dền nảy mầm cho tới nay là 17 hạt, gồm:
- 10 hạt của lần đãi lấy mẫu thứ nhất (từ đất của hố rác bếp số 3, hố khai quật 2 những ngày đầu tháng 5). Còn 10 cây sinh trưởng
- 04 hạt của lần đãi lấy mẫu thứ hai (từ đất của hố rác bếp số 4, hố khai quật 2 trong ngày 7 tháng 6 năm 2010).
- 03 hạt của lần đãi lấy mẫu thứ 3 (từ đất của hố rác bếp số 22 và 23, hố khai quật 3 ngày 11 tháng 6 năm 2010). Còn 3 cây đang sinh trưởng.

Như vậy hiện nay có 13 cây lúa mọc từ 10 hạt đãi đợt đầu và 3 hạt mẫu đãi đợt ba.

Một số hình ảnh liên quan đến quá trình nảy mầm và sinh trưởng của hạt thóc mà vỏ trấu của hạt gửi đi làm niên đại AMS lần hai

Chụp bằng kính huỳnh quang soi nổi của Viện Di truyền Nông nghiệp ngày 8 tháng 6 năm 2010.

Ủ nảy mầm ở Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam (ảnh chụp ngày 13.6. 2010)
 

Gieo mọc thành mạ (ảnh chụp ngày 16.6 năm 2010) tại Viện Di truyền Nông nghiệp (cây mạ khoanh tròn đỏ góc bên phải khay). Những cây này sau đó đã bị chết.
Ảnh chụp vỏ thóc lấy lại từ cây mạ đã chết
Ảnh chụp cuối cùng của vỏ thóc trước khi gửi mẫu.

BONUS

TS. Mariko YAMAGATA và TS. Lâm Thị Mỹ Dung tại Hội thảo Khánh Hòa

Năng suất lúa của “thóc cổ Thành Dền”: Phi lý!

Phân tích những tấm ảnh chụp, TS Trần Đăng Hồng phỏng đoán năng suất lúa của "thóc cổ Thành Dền" theo như tính toán là không hợp lý...

Hôm 30/7, một tờ báo trong nước có đăng tải khá rõ ràng bụi lúa với hình ảnh gié và hạt sau khi trổ đòng được 9 ngày (21/7-30/7) như hình 1-4 dưới đây, tôi có nhận được một số ý kiến đề nghị nhận định thêm về giống “thóc cổ Thành Dền”.

Trong bài trước, dựa vào kinh nghiệm và kiến thức khoa học thâu lượm được, và dựa vào hình thái và sinh học cây lúa trên hình, tôi nghĩ rằng giống “thóc cổ Thành Dền” có đặc tính của giống “hiện đại” do cách mạng xanh tạo ra từ giữa thập niên 1960, chứ không có mang một đặc tính nào của giống lúa “cổ truyền” hay “cổ đại”. Dĩ nhiên, đây chỉ là một nhận định cá nhân, chủ quan, lại dựa trên hình ảnh, nên có thể sai lầm. Nay với hình ảnh khá rõ ràng hơn, trong đó thấy gié lúa, hạt lúa, tôi thử làm một bài tính phỏng đoán năng suất.

Trông hình, phân tích năng suất lúa

Ai đã từng học canh nông về cây lúa đều biết công thức phỏng đoán năng suất, dựa vào các thành phần năng suất (yield components), tức mật độ bụi/m2 (tức số bụi/m2), số gié/bụi, số hạt chắc/gié, trọng lượng 1000 hạt khô (khoảng 13-14% ẩm độ).

Năng suất (g/m2)= số bụi/m2 x số gié/bụi x số hạt chắc/gié x trọng lượng 1000 hạt (g)

H1

Số bụi/m2. Các thành phần năng suất biến đổi liên quan đến mật độ, hễ trồng càng dày, tức số bụi/m2 càng cao, thì các thành phần của năng suất giảm do sư cạnh tranh ánh sáng, nước và dưỡng chất. Vì chỉ có một hàng lúa (hình 1), nên việc cạnh tranh ánh sáng không mãnh liệt như trong đám lúa. Do đó, thành phần năng suất ở các cây trong hình này không chính xác, và có khuynh hướng cao hơn trong đám lúa. Dựa vào kích thước của chậu, tôi đoán rằng khoảng cách giữa 2 bụi lúa khoảng 35cm tức trung bình 8,1 bụi lúa/m2.

Số gié trung bình/bụi. Cũng dựa trên hình 1, tôi đếm (và phỏng đoán vì không thấy các chồi mặt bên kia), 4 bụi có khoảng 65 chồi hữu hiệu (chồi cho gié), tức trung bình 16,3 gié/bụi.


H2
Số hạt trung bình/gié: Hình 2 và 3, với 3 gié có số hạt khá đầy đủ, có tổng cộng tối thiểu 300 hạt, trung bình 100 hạt/gié.

Tổng số hạt trung bình trên 1m2 = 8,1 bụi x 16,3 gié/bụi x 100 hạt/gié= 13.203 hạt/m2.

Tổng số hạt chắc trung bình trên 1m2. Hình 4 cho thấy hạt lép rất ít. Tuy nhiên, trung bình có khoảng 5-10% hạt lép ở điều kiện canh tác. Như vậy số hạt chắc tối thiểu (lép 10%) sẽ là 11.883 hạt chắc/m2.


H3
Năng suất hạt trên 1m2. Với hình 4, trọng lượng của 1.000 hạt phải từ 35 đến 40 g (hạt khô 14% ẩm độ). Ở bài tính này, tôi chỉ tính 30g/1.000 hạt. Vậy năng suất hạt là 356,49 g/m2, hay 3,56 tấn/ha. Đây là con số năng suất tối thiểu, bởi vì với hình dạng những cây lúa theo hình trên năng suất thực sự có thể trên 6 tấn/ha.


H4
Dầu cho có sai số thật lớn trong bài tính, năng suất tối thiểu của lúa gieo từ "thóc cổ Thành Dền" cũng phải trên 2 tấn/ha.

Năng suất "lúa cổ": Phi lý...

Chúng ta hãy so sánh với năng suất lúa trong quá khứ:

Bảng năng suất lúa (tấn/ha) của Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam
(Theo tài liệu của Dr Trần Văn Đạt, 2004)



* BC: Trước Công nguyên; AD: Sau Công nguyên

Theo bảng trên, năng suất lúa ở Trung Quốc và Việt Nam cách đây 2000 năm chỉ khoảng 0,5tấn/ha. Cách đây 100 năm, năng suất lúa ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam lần lượt là 1,6; 2,6 và 1,2 tấn/ha.

Cũng theo bảng trên, nếu chấp nhận “lúa cổ Thành Dền” có năng suất 2tấn/ha, thì giống cổ này tương đương với năng suất trung bình của Việt Nam năm 1970. Còn nếu chấp nhận 3,5tấn/ha thì tương đương với thời kỳ năm 1990. Các nhà khoa học có thể dựa vào công thức trên với các dữ kiện thực tế của thành phần năng suất để có kết quả phỏng đoán chính xác hơn.

Một câu hỏi thuần lý khác là cách đây 3.000 năm hay 300 năm, nếu tổ tiên ta đã có một giống lúa siêu việt như vậy, thì tại sao tổ tiên ta không giữ giống này nhân ra, canh tác mọi nơi, cớ chi để dân ta phải chết đói nhiều lần dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức (từ 1820 đến 1888, Theo Việt Nam Sử Lược).


Bài viết này có sử dụng tài liệu tham khảo từ "Tiến trình phát triển sản xuất lúa gạo tại Việt Nam từ thời nguyên thủy đến nay" (Trần Văn Đạt, Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp, TP Hồ Chí Minh - 2004) và "Việt Nam Sử lược" (Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu - 1971)

Anh Quốc, 31/7/2010

* Tựa bài và các tựa nhỏ đã được đặt lại do biên tập
Trần Đăng Hồng, PhD
http://khoahoc.baodatviet.vn/Home/KHCN/phanbien/Nang-suat-lua-cua-thoc-co-Thanh-Den-Phi-ly/20107/105821.datviet

GIÁ MÀ CÁC NHÀ KHOA HỌC KIÊN NHẪN ĐỢI KHI TẤT CẢ CÁC CÂY LÚA TRỔ BÔNG, CHÍN RỒI TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI, NĂNG SUẤT, ADN VÀ GENE... RỒI HÃY ĐƯA RA NHỮNG NHẬT XÉT KHOA HỌC THÌ SẼ TỐT HƠN.
NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ KHOA HỌC PHỨC TẠP NHƯ THẾ NÀY CHẮC SẼ PHẢI CẦN RẤT NHIỀU THỜI GIAN CÔNG SỨC VÀ KINH PHÍ. ĐẶC BIỆT LÀ SỰ HỢP TÁC GIỮA CÁC NGÀNH KHOA HỌC KHÁC NHAU, GIỮA CÁC NHÀ KHOA HỌC VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI!

Viện Hải Dương Học Nha Trang (ảnh)

Mẫu vật sống
Một mình giữa vòng nước xoáy

Sao biển - Biểu tượng của sức sống mãnh liệt


Xuôi ngược

Hai trong một

Chả ai dám đến gần

Con gì đây?

Váy Hmong



Cá gì mà xanh biêng biếc!
Cá ngựa - đối tượng săn lùng của đàn ông Việt
Bé cá này mà đi thi hoa hậu kiểu gì cũng đoạt giải!
Còn em này sẽ đạt giải Quả Hậu
Cả một bầy rùa
Mẫu vật chết
Cả một bộ xương cá voi  nằm chình ình

Ngâm bao năm rồi trong hóa chất mà mắt vẫn còn xanh
Cá nóc - độc từ trong ra ngoài

Tiểu cảnh




Biểu tượng mới này xấu đến kinh hoàng!

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

ẢNH HỘI THẢO QUỐC TẾ KHẢO CỔ HỌC TIỀN SƠ SỬ KHÁNH HÒA

Ảnh ngày hội thảo đầu tiên

Trưng bày tại hội thảo







Ảnh hội thảo


Các nhà khảo cổ trong Nam, ngoài Bắc

Tranh thủ hoàn thiện bài



Các nhà khảo cổ học Việt Nam và Nhật Bản


TS. Vũ Quốc Hiền, một trong những người khai phá KCH Tiền Sơ sử Khánh Hòa bùi ngùi nhắc lại công lao của những bậc tiền bối trong nghiên cứu khảo cổ học tỉnh Khánh Hòa từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20

TS. Trần Quý Thịnh báo cáo kết quả khai quật địa điểm Vĩnh Yên, một địa điểm hiếm hoi ở Việt Nam có diện tích khai quật tới trên 2000m2


Báo cáo về khai quật Hòa Diêm năm 2007 và 2010 được trình bày bằng hai thứ tiếng, tiếng Anh và tiếng Việt


Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

TRỜI CỦA TA!

Hôm qua trên máy bay từ Hà Nội đến Cam Ranh mình chụp được vài ảnh hay hay, đưa lên cho mọi người xem

Mặt trời "Trên đỉnh Phù Vân"

Đĩa bay trên bầu trời Việt!


Nhà sàn trên chín tầng mây!


Hoàng hôn


Vân Phong

Tranh luận về cồng chiêng Tây Nguyên

LTS: Sau bài viết “Cồng chiêng Tây Nguyên sản xuất tại Thái Lan” trên số báo SGTT ra ngày 27.7.2010, chúng tôi đã nhận được nhiều phản hồi của bạn đọc. Đáng lưu ý là phản hồi của nhà văn Nguyên Ngọc và ông Nguyễn Duy Ngọc. Theo ông Nguyễn Duy Ngọc, việc cồng chiêng Tây Nguyên do người Tây Nguyên làm ra như GS Trần Quang Hải đã trả lời phỏng vấn là không đúng và ông dẫn ra một số bằng chứng từ sự biết của ông. Nhà văn Nguyên Ngọc, người đã có nhiều tác phẩm văn học về Tây Nguyên và cũng đã xem Tây Nguyên là một phần máu thịt của mình, đã bức xúc khi nói về câu chuyện xuất xứ của cồng chiêng Tây Nguyên.

SGTT.VN - Chúng tôi gửi đến bạn đọc những ý kiến của ông Nguyễn Duy Ngọc và ông Nguyên Ngọc để chúng ta cùng nhau hiểu biết thêm về câu chuyện cồng chiêng Tây Nguyên, một trong những niềm tự hào của chúng ta khi đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể thế giới từ năm 2009.
Hai ý kiến khẳng định, cồng chiêng Tây Nguyên là những sản phẩm "nhập ngoại" nhưng đã được người Tây Nguyên khéo léo "biến" thành bản sắc của mình.

Ông Nguyễn Duy Ngọc: Người Tây Nguyên có sản xuất được cồng chiêng không?

Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không hề đúc được cồng chiêng. Họ chỉ sử dụng cồng chiêng “nhập ngoại” vào các sự kiện sinh hoạt văn hóa của họ. Lúc đầu cồng chiêng vào Tây Nguyên chủ yếu theo đường từ Lào sang, có xuất xứ từ Trung Quốc, Myanmar. Những chiếc cồng chiêng này có giá trị rất cao, thậm chí đổi nhiều con trâu mới có được một chiếc, nó là tài sản lớn trong các gia đình Bana, Jarai, Ê đê...

Sau này, và chỉ rất lâu sau này, các làng đúc đồng dọc theo duyên hải miền Trung mới đúc cồng chiêng mang lên bán cho người Tây Nguyên. Làng Phước Kiều (Điện Bàn, Quảng Nam) là nơi cùng cấp một số lượng lớn cồng chiêng lên Tây Nguyên cho đến bây giờ. Ông Dương Ngọc Sang, một nghệ nhân đúc đồng lão làng ở Phước Kiều cho biết trước đây ở Phước Kiều chỉ đúc các vật dụng gia đình bằng nhôm đồng như xoong, chảo..., cho đến khoảng sau 1960 mới bắt đầu đúc cồng chiêng mang lên Tây Nguyên bán.

Chuyện là những thợ nhôm đồng ở Phước Kiều khi mang nồi chảo lên các tỉnh Tây Nguyên bán dạo thì thấy những chiếc cồng chiêng được các dân tộc ở đây nâng niu, trao đổi nhau với giá trị cao. Họ nảy ra ý định đúc những chiếc cồng chiêng mô phỏng theo rồi đem lên bán. Lúc đầu họ chỉ biết đúc phôi, tiếng chiêng họ đúc kêu không đúng do họ không biết gì về âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên cả. Những người già ở các làng Tây Nguyên có am hiểu về cồng chiêng, dùng búa chỉnh lại độ dày mỏng để tiếng chiêng phát ra đúng, có thể chơi được trong giàn cồng chiêng. Mãi sau này người Phước Kiều mới học được cách chỉnh âm cho cồng chiêng sau khi đúc phôi xong. Và những chiếc chiêng từ Phước Kiều lên chất lượng và giá thường thấp hơn nhiều so với những chiếc cồng chiêng nhập vào qua đường Lào trước kia, mà sau này không hiểu vì lí do gì không còn nhập vào nữa.

Cồng chiêng được đúc từ hợp kim đồng và thiếc với tỉ lệ thích hợp. Vấn đề ở đây là kỹ thuật đúc, pha trộn kim loại sẽ quyết định chất lượng chiếc chiêng sau khi ra đời, chứ không phải là chuyện tỉ mẩn “tốn cả năm trời” như GS Hải nói. Thực sự việc đúc một chiếc chiêng không cần phải lâu đến vậy, thường chỉ vài ngày.

Ông Hải cho rằng: “Người Tây Nguyên tin rằng, lớp đồng đen trên bề mặt cồng chiêng được phết thêm máu gia súc dùng trong tế lễ, thì cái cồng, cái chiêng đó đánh lên, mới phát ra đúng âm thanh của Tây Nguyên. Ấy thế mà hiện nay lại có những chàng trai Tây Nguyên dám đem những cái cồng, cái chiêng ông bà, tổ tiên để lại ra gọt chỗ này, cạo chỗ kia, rồi tạo nên âm giai thất cung thay thế vào để chơi nhạc mới”.

Hầu như chiếc chiêng nào dù tốt đến mấy chơi một thời gian dài đều hỏng tiếng, mất tiếng, và đều phải cạo sửa, gõ búa để chỉnh lại độ dày mỏng, lấy lại đúng âm thanh ban đầu. Và âm thanh có tốt hay không là do chất lượng chiêng, kỹ thuật đúc, còn cái “huyền thoại máu thú” nghe “hấp dẫn kia” thì tôi chưa nghe ai nói, và khó mà chứng minh được. Còn việc các chàng trai Tây Nguyên mà sáng chế, chỉnh sửa lại bộ cồng chiêng nào đó mà chơi pop, rock... được thì quả tuyệt vời chứ, sáng tạo đáng khen chứ, sao lại chê. Khi nó chỉ là sáng tạo ở vài điểm, nó chỉ làm phong phú thêm, chứ khó mà biến đổi hết cả văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được. Các giai điệu cồng chiêng Tây Nguyên ở mỗi nơi đều khác khác nhau rất rõ, và có lẽ nó cũng đã có nhiều biến chuyển, bổ sung, thêm mới theo thời gian.

Vấn đề hiện nay của cồng chiêng Tây Nguyên không phải là không có các dự án hỗ trợ. Ngược lại đang có quá nhiều, mà lại làm một cách tạp nham, thiếu hiểu biết. Những chiếc chiêng “dự án” liệu có tốt không khi chỉ cần giảm một lượng thiếc nhất định trong hỗn hợp đồng - thiếc là giá thành chiêng sẽ giảm nhiều, vì thiếc có giá đắt gấp nhiều lần đồng. Kéo theo đó chất lượng sút giảm theo, đánh chỉ một thời gian là điếc, vứt xó. Có nhiều dự án, đưa cồng chiêng lên Tây Nguyên nhiều hẳn đã hay? Có khi lại gây bội thực, chán chê, người Tây Nguyên không mua cồng chiêng nữa, chỉ chờ đem cho. Rồi các lễ hội giả tạo do nhà nước bỏ tiền ra tổ chức, các buổi biểu diễn cồng chiêng theo kiểu sân khấu. Nó có làm sống lại được không gian cồng chiêng tồn tại bao đời? Không, nó chỉ là những "xác ướp", thậm chí còn không phải "xác ướp" của không gian cồng chiêng truyền thống Tây Nguyên, mà là những "xác ướp lạ” từ xa đem tới, phủ lớp áo Tây Nguyên. Các dự án đó chỉ có “bức tử” luôn những giá trị văn hóa hãy còn sống của Tây Nguyên mà thôi.

Văn hóa Tây Nguyên vốn đã bị “đứt gãy” nhiều bởi di dân ồ ạt, bởi những giá trị mới xô đến đột ngột, đè nát những giá trị cũ, bởi mất rừng, mất đất, mất rẫy... Bây giờ trong việc bảo tồn nền văn hoá này với những “dự án” moi tiền, những tác động thô bạo, thiếu hiểu biết... thì chỉ làm Tây Nguyên "tổn thương" thêm.

Ông Nguyên Ngọc: Nhân chuyện cồng chiêng Tây Nguyên

Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy, cồng chiêng chưa bao giờ được đúc ở Tây Nguyên. Do đó cũng không có chuyện giết trâu, giết heo, bôi máu… thiêng khi người Tây Nguyên tự tay làm ra cồng chiêng. Người Xơ Đăng ở bắc Tây Nguyên có công nghệ luyện thép lâu đời và nổi tiếng, nhưng cồng chiêng làm bằng đồng (có pha hợp kim thiếc) chứ không phải thép nên người Tây Nguyên không tự mình đúc được. Họ mua cồng chiêng chủ yếu từ Lào; tôi chưa nghe nói mua xa đến tận Trung Quốc, Myanmar…, nếu có thì chắc cũng là những cồng chiêng từ các nơi ấy bằng cách nào đó đã được chuyển sang Lào và người Tây Nguyên mua lại tại đấy. Họ cũng có mua cồng chiêng của người Việt từ vùng ven biển miền Trung, trong đó có trung tâm đúc đồng lâu đời là làng Phước Kiều ở Quảng Nam.

Theo tôi không chỉ đến 1960 người Tây Nguyên mới mua cồng chiêng từ đồng bằng miền Trung. Chúng ta đều biết từ rất xa xưa người Việt cũng đã có cồng chiêng. Chính đây là điều cần đặc biệt chú ý: người Tây Nguyên mua cồng chiêng từ nhiều vùng chung quanh, nhưng có thể nói đấy chỉ mới là những "cồng chiêng nguyên liệu thô" hoàn toàn chưa phải là cồng chiêng Tây Nguyên, công cụ của một nền nghệ thuật độc đáo và hết sức đặc sắc. Chiếc chiêng được đúc ra, chẳng hạn như chiêng của làng Phước Kiều Quảng Nam, mới chỉ là một thứ vật liệu thô, thậm chí chưa có nhạc tính, gõ vào đấy cũng gần như gõ vào một cái kẻng. Về sau, có thể qua học tập ở cồng chiêng Tây Nguyên, mà người Phước Kiều đã nâng cao tay nghề lên được một bước, họ đã có được một số công nghệ tạo một mức độ nhạc tính nào đó cho sản phẩm của mình.

Tôi đã nghe chính người làng Phước Kiều gọi công việc ấy là "dạy tiếng cho chiêng", song cũng mới chỉ là một kiểu tiếng nói bập bẹ, ngọng ngịu nào đó thôi. Tôi đã được thấy những chiếc chiêng người Tây Nguyên mua từ đồng bằng về, mặt chiêng gần như hoàn toàn bằng phẳng. Người ta dùng búa gõ tạo thành một đường rãnh vòng tròn men theo mép trong của vành chiêng. Rất lạ, chính cái đường rãnh được tạo theo một nghệ thuật riêng nào đó làm cho chiếc chiêng, vốn thô như một chiếc kẻng, bắt đầu có nhạc tính, trở thành một nhạc cụ.

Song đó cũng chỉ mới là bước đầu. Trong một dàn chiêng (số lượng chiêng tùy thuộc từng loại, đặc trưng cho nhạc cồng chiêng của từng dân tộc), mỗi chiếc phụ trách một âm, một "nốt". Người ta "dạy", trao cho từng chiêng một nốt riêng của nó. Bằng cách dùng một chiếc búa nhỏ, thường rất đẹp và rất quý, gõ nhẹ lên mặt chiêng, gõ từ mặt ngoài vào thì âm sẽ cao lên, gõ từ mặt trong ra thì âm sẽ thấp xuống. Chính vì thế mà ta thấy trên mặt chiêng có vô số những vết lồi lõm nhẹ, chẳng cái nào giống cái nào.

Mỗi chiếc chiêng có một diện mạo riêng, cũng như mỗi con người ở đời, không ai giống ai, có cá tính, có tính cách riêng. Tất nhiên đấy là một công việc vô cùng tinh tế, cả một nghệ thuật không phải ai cũng đạt được. Một dàn chiêng mua về phải được "dạy dỗ" công phu và đầy tài năng như vậy, thường hàng tháng trời, vô cùng tỉ mỉ và say mê, mới trở thành một bộ chiêng Tây Nguyên. Mới từ cái xác khô như những cái kẻng mua dưới Phước Kiều lên, trở thành những sinh vật sống, có hồn, có khi còn thiêng hơn cả con người…

Đại thể chiêng mua từ đồng bằng của người Việt lên là như vậy. Còn đối với những cái mua từ Lào về thì sao? Ở Lào nó đã là nhac cụ, đã có hồn. Nhưng là "hồn Lào". Phải dạy cho nó trở thành cồng chiêng Tây Nguyên. Cũng chỉnh bằng cách điều chỉnh với chiếc búa nhỏ được điều khiển hết sức tài tình, tinh tế như vậy. Dạy cho nó tiếng Tây Nguyên, tiếng Ba Na, tiếng Gia Rai, tiếng Ê Đê …, chứ không phải tiếng Lào.

Chiêng để lâu thì thường bị lạc giọng, các nốt sai đi, do thời tiết, do va chạm, do di chuyển, do khi đánh quá nặng hay quá nhẹ tay. Khi đó người ta bảo "chiêng bị bệnh". Nó ốm. Phải mời thầy thuốc đến chữa bệnh cho chiêng. Thường khắp cả một vùng mới có một thầy thuốc chuyên khoa như vậy, còn hơn cả một nghệ sĩ: một nhân vật thiêng. Ông được rước đến vô cùng trang trọng, và ông ngồi hàng ngày, có khi hàng nhiều ngày để chỉnh chiêng, cả làng im lặng và kính cẩn vây quanh chiêm ngưỡng ông thầy tài ba ấy chữa bệnh cho chiêng. Cũng chỉ với chiếc búa nhỏ quý và thiêng mà ông không để cho ai được chạm đến. Ở Tây Nguyên người ta gọi ông là "N'jâu" hay "P'jâu cing". N'jâu hay P'jâu có nghĩa là thầy thuốc. Tôi được nghe kể rằng ngày trước sau khi thầy đã chữa chiêng xong rồi, thì một người phải lên ngựa phi sang tận sườn núi xa bên kia, để từ bên ấy lắng nghe tiếng vọng của chiêng bên này mà đánh giá tài năng của thầy!

Như vậy người Tây Nguyên không đúc được chiêng, nhưng theo cách nào đó chính họ sáng tạo ra cồng chiêng, cồng chiêng Tây Nguyên, không nhầm lẫn với bất cứ cái vật bằng đồng hình tròn nào khác, mang từ dưới xuôi lên hay bên từ Lào về; riêng biệt, độc đáo, và đặc sắc, có một không hai.

Tất nhiên còn vô số điều phong phú và sâu sắc để nói về cồng chiêng Tây Nguyên. Xin hẹn dịp khác. Chỉ xin chú ý thêm một điều: Cái mà UNESCO đã sáng suốt công nhận là Di sản Văn hóa thế giới không phải là cồng chiêng Tây Nguyên, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, mà là "Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên". Và không gian ấy là làng và rừng Tây Nguyên. Mất hết rừng, không còn làng rừng, thì sẽ không còn cồng chiêng Tây Nguyên nữa đâu, dù có bao nhiêu festival ồn ào, diêm dúa.

Riêng tôi, tôi không sợ cồng chiêng bị bán ra ngoài Tây Nguyên, tôi cũng không sợ cồng chiêng mua từ Thái Lan về (thì ngày trước nó vẫn được mua từ Lào về đấy, có sao đâu!). Người Tây Nguyên có một bản lĩnh văn hóa rất mạnh để biến cái vốn là ngoại lai thành tài sản văn hóa độc đáo của riêng mình, Tây Nguyên hóa tất cả, miễn là còn rừng. Rừng là sức mạnh vĩ đại của Tây Nguyên. Tôi chỉ sợ mất hết rừng Tây Nguyên rồi, tức cũng mất hết làng rừng Tây Nguyên. Mất chính cái Không gian mà UNESCO đã trân trọng thay mặt toàn thế giới văn hóa công nhận.

PV (ghi nhận)

ĐÚNG RỒI, HÔM TRƯỚC ĐỌC BÀI PHỎNG VẤN GS. TRẦN QUANG HẢI MÌNH ĐÃ CÓ Ý KIẾN NHƯ HAI BÁC NÀY RỒI.

HỘI THẢO QUỐC TẾ KHẢO CỔ HỌC TIỀN SƠ SỬ KHÁNH HÒA

Sáng nay, ngày 2 tháng 8 năm 2010 Hội thảo Quốc tế Khảo cổ học Tiền Sơ sử Khánh Hòa đã được khai mạc tại thành phố biển Nha Trang.
Hội thảo do Sở VHTT & DL Khánh Hòa và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức

Trong những năm qua, Sở VHTT và DL Khánh Hòa phối kết hợp với nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước như Viện Khảo cổ học, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ - Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, ĐHQG Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam... và những nhà khoa học nước ngoài của Đại học Waseda (Nhật Bản)... khảo sát, khai quật nhiều địa điểm khảo cổ học thuộc giai đoạn Tiền sử và Sơ sử trên địa bàn tỉnh.

Mục đích của Hội thảo:

1. Giới thiệu khái quát những kết quả NCKH về Khảo cổ học Tiền - Sơ sử Khánh Hòa, đặc biệt là những phát hiện mới qua các di tích, di vật từ các đợt khai quật và khảo sát giai đoạn 2005-2010.

2. Hệ thống và tổng kết những kết quả nghiên cứu, những tư liệu khoa học và bước đầu phác thảo tiến trình lịch sử - Văn hóa Tiền Sơ sử Khánh Hòa trong bối cảnh miền Trung Việt Nam và Đông Nam Á dựa trên những bài nghiên cứu và ý kiến thảo luận của các nhà tham gia Hội thảo.

3. Từ những kết quả nghiên cứu thu được, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách địa phương sẽ xây dựng một quy hoạch tổng thể bảo vệ, đầu tư tôn tạo và phát huy giá trị của hệ thống di tích khảo cổ học Khánh Hòa bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục ý thức cho mọi tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Hội thảo sẽ diễn ra trong 3 ngày từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 8 năm 2010.